Đánh giá khả năng thương mại hóa các sản phẩm về cây thuốc và bài thuốc dân tộc tại khu vực Tây Nguyên - Pdf 22

MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng các loài thực vật cho nhiều mục đích khác
nhau như làm nhà, lương thực, thực phẩm và tất nhiên cũng không thể không kể đến
giá trị làm thuốc chữa bệnh của chúng - một nhu cầu cần thiết mà bất kì một dân tộc,
một cộng đồng sống gần rừng rất quan tâm. Đặc biệt, trong nhiều năm về trước, khi nền
khoa học chưa phát triển thì con người phải dựa hoàn toàn vào các vị thuốc lấy từ thiên
nhiên. Trải qua nhiều thế hệ, con người mới biết tổng hợp, đúc kết ra những phương
pháp khai thác, chế biến, bảo quản và sử dụng các loại cây làm thuốc sao cho hợp lý.
Tuy nhiên, các hiểu biết này chỉ tồn tại trong một vài cá nhân hay nhóm nhỏ các cộng
đồng địa phương mà không được công bố rộng rãi nên dễ bị thất truyền kiến thức vô
cùng quý giá đó.
Khu vực vùng Tây Nguyên được đánh giá là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi
cho các loài thực vật sinh trưởng và phát triển tốt. Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây
khá phong phú và đa dạng, người dân địa phương sử dụng cây thuốc vào việc chữa
bệnh còn khá nhiều. Song trong những năm gần đây diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp
do các hoạt động phát triển kinh tế của con người nên số lượng loài đang bị suy giảm
đáng kể, mặt khác việc khai thác buôn bán trái phép nguồn tài nguyên cây thuốc cũng
đang làm cho nhiều loài cây thuốc quý đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng.
Nhận thấy việc điều tra, nghiên cứu về tình hình sử dụng và buôn bán cây thuốc
ở đây là việc làm cần thiết, ngoài việc góp phần đánh giá rõ hiện trạng, tiềm năng của
địa phương nhằm nâng cao công tác bảo tồn phát triển cây thuốc, cung cấp kịp thời
những số liệu thông tin về cây thuốc để phục vụ cho đời sống người dân mà còn góp
phần gìn giữ những kinh nghiệm sử dụng thuốc quý báu của người dân bản địa.
Do vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu: "Đánh giá khả năng thương mại
hóa các sản phẩm về cây thuốc và bài thuốc dân tộc tại khu vực nghiên cứu". Để
thực hiện nghiên cứu này chúng tôi xin cảm ơn Chương trình Tây Nguyên III, đề tài
TN3/T10 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi có thể điều tra nghiên cứu một cách
tốt nhất.
1
Chương I
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sau đó phân tích sơ đồ SWOT để đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội,
thách thức đối với vấn đề phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc tại địa
phương.
Cuối cùng dựa vào các kết quả nghiên cứu của đề tài, kết hợp với tham
khảo ý kiến trung gian đề xuất giải pháp phát triển bền vững tài nguyên cây
thuốc. Các giải pháp này được thống nhất với người dân địa phương thông qua
thảo luận nhóm và trao đổi, đúc kết kinh nghiệm của cộng đồng.
3.3 Phương pháp xử lý chuyên gia
3.3.1. Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu vật
Sau khi thu mẫu ở thực địa về mẫu vật sẽ được xử lý và làm thành tiêu
bản theo phương pháp phổ biến hiện nay tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh
vật - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
3.3.2. Phương pháp giám định mẫu tiêu bản
Trên cơ sở mẫu tiêu bản thu được và phần hình ảnh, ghi chép ngoài thực
địa, các loài chưa biết tên được xác định bởi các chuyên gia thực vật có kinh
nghiệm tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, thông qua so sánh với mẫu
tiêu bản có sẵn để sơ bộ xác định tên loài. Sau đó chúng tôi tiến hành tra cứu,
đối chứng với phần mô tả trong các tài liệu chuyên khảo về thực vật để định tên
cho loài.
3
Chương II
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.1. Vị trí địa lý
Khu vực Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ Bắc
xuống Nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng với diện
tích tự nhiên là 54.474 km
2
chiếm 16,8% diện tích của cả nước.
Bản đồ hành chính vùng Tây Nguyên

Tây Nguyên bị chia cắt phức tạp, nhưng có thể chia thành 3 dạng chính như sau:
- Địa hình vùng núi cao: Bao gồm các dãy núi Ngọc Linh, An Khê, Chư
Dju, Vọng Phu, dãy Tây Khánh Hòa, dãy Chư Yang Sin (có đỉnh cao nhất Nam
Trường Sơn), dãy Núi Bà (Lang Biang) Địa hình vùng núi cao bị chia cắt phức
tạp, diện tích rừng của Vùng Tây Nguyên tập trung chủ yếu ở đây, phần lớn là
rừng nguyên sinh và rừng đầu nguồn, trong vùng còn tồn tại nhiều hệ động vật,
thực vật quý hiếm, các loại khoáng sản quý như: đá quý, vàng, kim loại , phân
bố tập trung ở vùng núi. Dân số ở địa hình vùng núi còn rất thưa, chủ yếu là các
dân tộc ít người.
- Địa hình cao nguyên: gồm cao nguyên Kon Tum, M’Drăk, Buôn Ma
Thuột cao khoảng 500m; cao nguyên Kon Plông, Kon Hà Nừng, Pleiku cao
khoảng 800m; cao nguyên Mơ Nông cao khoảng 800 - 1.000m; cao nguyên Di
Linh cao khoảng 900 - 1.000m; cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1.500m. Tất
cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi các dãy núi cao.
6
- Địa hình thung lũng: Gồm cánh đồng An Khê rộng 15 km, dài 45 km;
miền trũng giữa núi Kon Tum chạy dọc sông Pôkô; Bình nguyên Easup nằm ở
phía Bắc Buôn Ma Thuột; Vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc nằm theo đứt gãy
Tây Bắc - Đông Nam kéo dài từ Kon Tum xuống; Vùng trũng Krông Pắk - Lắk
ở phía Nam cao nguyên Buôn Ma Thuột. Vùng có địa hình thung lũng là vùng
phát triển cây lương thực, thực phẩm chủ yếu của Tây Nguyên, vùng này là
vùng có tiềm năng phát triển thủy sản nuôi cá nước ngọt.
1.3. Khí hậu
Nằm giữa 11
0
- 15
0
vĩ độ Bắc, Vùng Tây Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió
mùa, với 2 mùa mưa và khô rõ rệt. Tuy nhiên, do vị trí và hướng núi, do ảnh
hưởng của đai cao nên khí hậu Vùng Tây Nguyên bị phân dị khá nhiều tùy theo

C - 6
0
C.
Nhiệt độ trung bình hàng năm của toàn vùng là 24
0
C; lượng ánh sáng dồi dào,
cường độ ổn định. Tổng lượng bức xạ mặt trời trung bình hàng năm 240 - 250
7
kcal/cm
2
. Số giờ nắng trung bình 2.200 - 2.700 giờ/năm. Biên độ dao động nhiệt
giữa ngày và đêm khá lớn (mùa khô từ 15 - 20
0
C, mùa mưa từ 10 - 15
0
C).
Lượng mưa ở Tây Nguyên phân bố không đều do ảnh hưởng của địa hình.
Lượng mưa trung bình hàng năm của toàn vùng khoảng 1.900 - 2.000mm, tập
trung chủ yếu trong mùa mưa. Những sườn cao đón gió mùa Tây Nam như
Pleiku, Bảo Lộc có lượng mưa (2.200mm - 2.500mm) lớn hơn lượng mưa các
vùng thấp như Buôn Ma Thuột (1.700mm). Những nơi bị khuất đối với cả gió
mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc như trũng Cheo Reo có lượng mưa thấp
nhất (l.200mm).
Đặc điểm nổi bật nhất của khí hậu Tây Nguyên là sự phân chia thành 2
mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, khí hậu mát mẻ, ổn định, nhiệt độ
trung bình hàng tháng khoảng 21 - 25
0
C, hầu hết lượng mưa trong năm tập trung
trong mùa này, đỉnh mưa thường xuất hiện vào tháng 8 - 9. Mùa khô từ tháng 11
đến tháng 4 năm sau, khí hậu khắc nghiệt, khoảng đầu mùa nhiệt độ thấp (tháng

ra còn có đất xám phân bố trên các sườn đồi thoải phía Tây Nam và trong các
thung lũng, đất phù sa ven sông, thích hợp cho trồng cây lương thực.
Tuy nhiên diện tích đất trống đồi núi trọc chiếm tới 1,4 triệu ha và đang bị
thoái hoá nghiêm trọng (đất bazan thoái hoá tới 71,7%; diện tích đất bị thoái hoá
nặng chiếm tới 20%).
1.5. Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Tây Nguyên có 4 hệ thống sông lớn là Sesan, Serepok
(đổ về sông Mê Kông), sông Ba (đổ về Tuy Hòa - Phú Yên) và sông Đồng Nai
(đổ về Đồng Nai). Ngoài ra còn có một hệ thống sông suối nhỏ đổ xuống vùng
Duyên hải Nam Trung Bộ. Các hệ thống sông này đã cung cấp cho Tây Nguyên
một lượng nước là 53,7 km
3
/năm; bình quân 972.000 m
3
/km
2
.
+ Sông Sesan và Serepok: Tổng lượng nước hàng năm của 2 sông Sesan
và Serepok là 30,3km
3
, trong đó sông Sesan chiếm 1/3. Độ sâu dòng chảy bình
quân toàn lưu vực là 987mm ứng với mô dun dòng chảy là 31,3 lít/s/km
2
. Sự
9
phân bố dòng chảy trên lưu vực không đều. Thượng nguồn sông Sesan có mô
dun dòng chảy đạt 35 - 40 lít/s/km
2
, thượng nguồn Serepok nhỏ hơn 20 lít/s/km
2

Lưu vực
(diện tích lưu vực, km
2
)
Tổng lượng mưa
trung bình
(10
6
m
3
/năm)
Tổng lượng dòng
mặt trung bình
(10
6
m
3
/năm)
Tổng lượng
dòng ngầm
(10
6
m
3
/năm)
Tổng tiềm năng toàn lưu
vực sông ở Tây Nguyên
93.292,41 46.209,00 6.748,45
Trong đó:
Sông Sesan (11.620) 22.368,50 12.422,60 2.235,33

trình thủy lợi Ayun Hạ, đập chính và cửa cấp nước của hồ nằm trên địa bàn xã
Chư A Thai - huyện Phú Thiện, cách thành phố Pleiku 70km về phía Tây. Vùng
ngập chính của hồ thuộc địa phận xã H’Bông huyện Chư Sê. Mặt nước hồ có
diện tích 37 km
2
, chiều dài 25 km, nơi rộng nhất 5 km.
Bảng 2. Tiềm năng nước mặt vùng Tây Nguyên tính theo tỉnh
Tên tỉnh
Tổng lượng mưa
trung bình
(10
6
m
3
/năm)
Tổng lượng dòng
mặt trung bình
(10
6
m
3
/năm)
Tổng lượng
dòng ngầm
(10
6
m
3
/năm)
Kon Tum 14.322,98 11.109,00 1.549,68

bền vững của Vùng Tây Nguyên. Với diện tích lớn (độ che phủ 54,6%), hệ động
thực vật đa dạng, Tây Nguyên có điều kiện rất tốt để phát triển nghề rừng và
công nghiệp rừng; đồng thời cũng là nơi giữ vai trò cân bằng sinh thái, là nguồn
sinh thủy của hệ thống sông suối khu vực Miền Trung và Đông Nam Bộ. Những
năm gần đây, để bảo tồn tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, ở Tây
Nguyên đã quy hoạch 14 khu bảo tồn và vườn quốc gia cùng với hàng chục khu
bảo tồn nhỏ và rừng đặc dụng khác, với tổng diện tích khoảng 460.000 ha
(chiếm 8,3% diện tích tự nhiên toàn vùng).
Tây Nguyên nằm trong vùng nhiệt đới ẩm nên hệ thực vật rất phong phú
bao gồm thực vật tự nhiên với đặc trưng của rừng nhiệt đới ẩm và cây trồng đa
dạng. Các loại thảm thực vật tự nhiên chủ yếu là:
- Rừng rậm nhiệt đới thường xanh ở địa hình thấp, phân bố chủ yếu ở đai
cao từ 600m trở xuống. Rừng có 5 tầng, trong đó 3 tầng gỗ cao 35 - 40m.
- Rừng nhiệt đới thường xanh vùng núi thấp: phân bố chủ yếu ở độ cao
600 - l.600m. Rừng có 5 tầng, trong đó 3 tầng gỗ cao 25 - 30m.
13
- Rừng rậm nhiệt đới thường xanh vùng núi cao trung bình: Phân bố ở độ
cao trên l.600m. Đây là loại rừng thấp, gồm những cây gỗ thuộc ngành thông
như: pơmu, giẻ, đỗ quyên…
- Rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá: rừng có 3 tầng, trong đó có 2 tầng cây
gỗ. Tầng trên rụng lá trong mùa khô, tầng dưới là cây gỗ thường xanh.
- Rừng tre tập trung ở khu vực đèo Bảo Lộc (Lâm Đồng) và vùng ngã 3
biên giới (Gia Lai, Kon Tum). Loại rừng này chủ yếu phát triển ở địa hình thấp
và dưới chân đồi núi thấp.
- Trảng le: Phân bố ở độ cao 700 - 800m trở xuống, có chiều cao 3 - 5m.
- Rừng thông 3 lá và 2 lá: Thường gặp ở Đắk Giây, Măng Đen, Sa Thầy,
Đắk Đoa, Ea - H'Leo Phân bố ở độ cao dưới l.000m là loài thông 2 lá và ở độ
cao từ 1.000 - l.800m là loài thông 3 lá.
- Rừng đầm lầy: thường gặp ở phía Nam tỉnh Đắk Lắk ở độ cao 800
-900m, tầng cao nhất đến 20m.

2
). Đến năm 2010,
dân số toàn vùng tăng lên 5.214.2000 người, tăng 2,1% so với năm 2009, mật độ
dân số trung bình là 95 người/km
2
(bảng 3).
15
Bảng 3: Sự phân bố dân cư Vùng Tây Nguyên theo tỉnh (năm 2010)
STT Tên tỉnh
Diện tích
(km
2
)
Dân số
(nghìn người)
Mật độ dân số
(người/km
2
)
1 Kon Tum 9.690,5 443,4 46
2 Gia Lai 15.536,9 1.300,9 84
3 Đắk Lắk 13.125,4 1.754,4 134
4 Đắk Nông 6.515,6 510,6 78
5 Lâm Đồng 9.772,2 1.204,9 123
Toàn vùng 54.640,6 5.214,2 95
Nguồn: Niên giám Thống kê 2010
Tây Nguyên là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa, với rất nhiều đặc trưng,
sắc thái của nhiều tộc người, nhiều địa phương trong cả nước hội tụ; đồng thời
cũng là nơi có tốc độ tăng dân số và biến động về cơ cấu dân cư nhanh nhất cả
nước. Một trong những nguyên nhân chính là do tình trạng di cư tự do kéo dài

(185.657 người), Cơho (129.759 người), Xơđăng (103.251 người), Mnông
(89.980 người), Giẻ Triêng (32.024 người), Mạ (36.119 người), Churu
(16.863 người), Raglai (1.210 người), Rơmâm (357 người) và Brâu (347 người).
2.2. Đặc điểm chung về kinh tế
- Về tăng trưởng kinh tế: Trong giai đoạn vừa qua, tốc độ tăng trưởng
kinh tế của Tây Nguyên khá cao, đặc biệt trong giai đoạn 2006 - 2010. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế của vùng luôn cao hơn mức bình quân chung của cả nước.
Khu vực Nông, Lâm, Ngư nghiệp phát triển khá ổn định và toàn diện. Sản
lượng lúa vượt mức chỉ tiêu đề ra trong quy hoạch. Đến nay Tây Nguyên đã trở
thành vùng sản xuất ngô hàng hóa lớn của cả nước. Cây công nghiệp phát triển
nhanh, phát huy được lợi thế đất đai, bảo đảm quy hoạch và tăng hiệu quả kinh
tế. Diện tích gieo trồng cây cà phê, cao su, điều, hạt tiêu, bông có tỷ trọng lớn
so với cả nước và có đóng góp lớn vào xuất khẩu nông nghiệp toàn quốc. Chăn
nuôi tiếp tục phát triển, giống vật nuôi đã được cải tạo một bước.
17
Sản xuất công nghiệp được phát triển theo hướng khai thác thế mạnh của
vùng là thủy điện và chế biến nông - lâm sản. Do có nhiều dự án thủy điện quan
trọng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, năng lực sản xuất của các cơ sở chế
biến nông - lâm sản, thực phẩm tăng nhanh, dẫn đến giá trị sản xuất công nghiệp
trên địa bàn vùng có tốc độ tăng trưởng khá cao.
Hoạt động thương mại, dịch vụ cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, đời sống
của đồng bào các dân tộc trong vùng. Các dịch vụ cung cấp hàng hóa, tín dụng,
ngân hàng, tài chính, vận tải, xuất nhập khẩu đều tăng nhanh. Hoạt động kinh
doanh du lịch cũng có nhiều chuyển biến tích cực và hiệu quả, một số địa
phương trong Vùng thu hút nhiều khách du lịch như Đà Lạt, Buôn Ma Thuột
Do vậy tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ của vùng trong thời gian qua đạt khá
cao, cao hơn so với bình quân cả nước.
Bảng 4: Tăng trưởng kinh tế Vùng Tây Nguyên (2000 - 2010)
Đơn vị tính: Tỷ đồng, giá so sánh 1994
Chi tiêu

Bảng 5: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Vùng Tây Nguyên (2000 - 2010)
Chỉ tiêu
Năm
2000
Năm
2005
Năm
2008
Năm
2010
Tổng GDP (Tỷ đồng, giá thực tế) 12.656 25.072 57.023 68.114
Nông - Lâm - Thủy sản 6.785 13.233 32.275 34.868
Công nghiệp - Xây dựng 2.055 4.337 11.199 16.851
Thương mại - Dịch vụ 3.816 7.502 13.549 16.395
Cơ cấu (%) 100,0 100,0 100,0 100,0
Nông - Lâm - Thủy sản 53,6 52,8 56,6 51,2
Công nghiệp - Xây dựng 16,2 17,3 19,6 24,7
Thương mại - Dịch vụ 30,2 29,9 23,8 24,1
Nguồn: QH phát triển kinh tế - xã hội Vùng Tây Nguyên đến năm 2020
19
Chương III
KHẢ NĂNG THƯƠNG MẠI HÓA CÁC SẢN PHẨM CÂY THUỐC
TẠI TÂY NGUYÊN
3.1. Tình hình chung của việc sử dụng tài nguyên rừng tại địa phương.
Đối với người dân sống tại khu vực Tây Nguyên, thì rừng là thứ gần gũi
thân thiết nhất đối với họ. Rừng bao quanh nơi họ sống, từ người già đến trẻ em
đều hiểu rõ về rừng. Các sản phẩm từ rừng có nhiều ý nghĩa đối với đời sống
của họ. Từ những năm xa xưa của thế kỷ trước việc vào rừng khai thác nguồn tài
nguyên là công việc hết sức bình thường và diễn ra thường xuyên. Từ các sản
phẩm có nguồn gốc là thực vật, động vật dùng làm thức ăn, làm thuốc, vật liệu

phụ nữ và đàn ông trong gia đình, ngoài việc nhà, họ thường vào rừng khai thác
cây thuốc phục vụ cho nhu cầu sử dụng của gia đình, cũng như bán để phục vụ
cho kinh tế của gia đình. Trẻ em tại đây, từ lúc còn nhỏ đã lao động phụ giúp gia
đình, chủ yếu là những công việc nhẹ nhàng, như lấy rau, thu hái nấm, hái
quanh vườn, hay ven rừng. Ngoài ra, còn có những người lớn tuổi cũng tham gia
thu hái. Tóm lại, xã có nguồn nhân lực khai thác lớn, tất cả mọi độ tuổi đều có
thể tham gia công việc này tùy thuộc theo sức khỏe.
- Nhu cầu sử dụng:
Thị trường: Càng ngày nhu cầu thị trường càng cao đối với các loài cây
thuốc. Với tiềm năng sẵn có, diện tích rừng còn nhiều, lại rất đa dạng về chủng
loại sinh vật và nhiều về số lượng đã tạo ra nhiều loài cây thuốc có thể đáp ứng
thường xuyên cho nhu cầu thị trường.
Sử dụng tại địa phương: Việc sử dụng cây thuốc cho nhu cầu cuộc sống
hằng ngày của người dân địa phương là không thể thiếu. Công việc thu hái diễn
ra hằng ngày. Hiện tại, nguồn tài nguyên cây thuốc còn khá phong phú cả về số
21
lượng và chất lượng, nên các hộ gia đình sống tại đây có thể thu hái được nhiều
loài.
3.2.2. Điểm yếu
Nguồn tài nguyên cây thuốc phân bố rải rác trong rừng tự nhiên, nơi mà
có địa hình là đồi núi phức tap, gây khó khăn cho việc đi lại. Do đó, việc thu hái
những loài phân bố sâu trong rừng gặp nhiều trở ngại cho việc tìm kiếm, thu hái
vận chuyểnvề.
Nguồn nhân lực thu hái bao gồm nhiều độ tuổi, có những người trong độ
tuổi lao động và có cả người già, trẻ em. Các đối tượng thu hái là người già, trẻ
em chỉ có thể thu hái những loài cây thuốc đòi hỏi không phải đi xa, dễ tìm
kiếm, và số lượng thu hái không nhiều. Nên chỉ đủ đáp ứng cho nhu cầu hằng
ngày. Những người trong độ tuổi lao động còn làm nhiều công việc khác nên chỉ
thời gian rảnh rỗi, hay khi cần thiết họ mới vào rừng thu hái.
3.2.3. Cơ hội

Tên Loài
Bộ
phận
sử
dụng
Giá
(nghìn
đồng/kg)
Tên Khoa học
Tên Việt
Nam
Tên địa
phương
1 Acanthaceae Andrographis
paniculata
Nees in Wall
Xuyên tâm
liên
Loong đởm
thảo
Lá 120
2 Apocynaceae Parameria
laevigata
(Juss.) Mold.
Đỗ trọng dây May tơ mia Vỏ
thân
155
3 Apocynaceae Rauvolfia
cambodiana
Pierre ex Pitard

rễ
170
7 Blumbaginaceae Plumbago
zeylanica L.
Bạch hoa xà Rễ 18
8 Campanulaceae Codonopsis
pilosula
Đẳng sâm Rễ củ 500
9 Convallariaceae Peliosanthes
teta Andr.
Sâm cau Rễ 190
10 Convallariaceae Polygonatum
punctatum
Royle
Hoàng tinh
đốm
Thân 250
11 Dilleniaceae Tetracera
indica (Chr. &
Panz.) Merr
Dây chiều Mạy chìu Thân 35
12 Dracaenaceae Dracaena
loureiri
Gagnep
Huyết giác Loong hoan Rễ 40
13 Fabaceae Callerya
Specioca
(Champ.ex
Benth).
Sâm nam Rễ củ 10

Tên Khoa học
Tên Việt
Nam
Tên địa
phương
rotunda Lour.
19 Menispermaceae Tinospora
crispa (L.)
Hook.
Dây kí ninh Thân 75
20 Musaceae Musa sp. Chuối hột Quả 150
21 Orchidaceae Anoectochilus
sp.
Lan kim
tuyến
Toàn
thân
1.200
22 Polypodiaceae Drynaria bonii
Christ.
Cốt toái bổ Y chon Thân
giả
45
23 Rubiaceae Myrmecodia
tuberosa Jack
Ổ kiến gai Thân 230
24 Rutaceae Luvunga
scandens
(Roxb.) Ham.
Thần xạ Xa long Thân,

Trích đoạn Mạng lưới thị trường cho các sản phẩm mang tính thương mại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status