Phân tích tác động của môi trường vĩ mô đến các doanh nghiệp sản xuất ô tô ở Việt Nam - Pdf 22

Đề án môn học
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Ngành công nghiệp ô tô có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Phát triển ngành
này không chỉ giải quyết tốt vấn đề giao thông vận tải, góp phần phát triển sản xuất
và kinh doanh thương mại mà còn là một ngành kinh tế mang lại lợi nhuận cao nhờ
sản xuất những sản phẩm có giá trị vượt trội.
Trong hoàn cảnh nhiều biến động và thách thức như hiện nay các doanh nghiệp
cần phải có những định hướng riêng cho mình để tận dụng được các cơ hội và loại trừ
được nguy cơ. Muốn làm được điều đó thì nghiên cứu, phân tích sự tác động của môi
trường vĩ mô đến ngành là điều không thể thiếu. Vậy ngành công nghiệp ô tô của nước
ta đang đối mặt với những cơ hội và nguy cơ nào từ nền kinh tế vĩ mô và liệu rằng các
nhà quản trị trong ngành cần phải có những hành động nào để có thể đưa ngành công
nghiệp ô tô của nước ta phát triển hơn? Những năm gần đây các yếu tố của môi trường
vĩ mô có những ảnh hưởng rõ nét hơn đến ngành ô tô ở nước ta. Môi trường biến động
đó sẽ đem đến cho Việt Nam những điều gì mới mẻ?
Chính vì muốn tìm hiểu và làm rõ những băn khoăn trên, nên trong đề án của
mình em đã chọn đề tài: “ Phân tích tác động của môi trường vĩ mô đến các
doanh nghiệp sản xuất ô tô ở Việt Nam”.
Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hiểu được những yếu tố nào tác động lên các doanh nghiệp sản xuất ô tô của
nước ta, múc độ tác động đến đâu và khả năng tận dung cơ hội dựa trên những vấn
đề phát sinh của môi trường vĩ mô.
Đưa ra các thực trạng và xu hướng của nền kinh tế vĩ mô dựa trên những sự
kiện của môi trường mà các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam đang chịu tác
động; phân tích các yếu tố đó, nhận định vấn đề để xác định được nguy cơ và cơ hội
của ngành và đưa ra giài pháp kiến nghị.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các nhân tố của môi trường vĩ mô có tác động đến các doanh nghiệp sản xuất
ô tô của nước ta trong những năm gần đây và xu hướng tác động vào các doanh
nghiệp này trong những năm tới.

1.2.1. Sản phẩm ô tô
Những năm cuối thế kỷ XX việc sở hữu một chiếc xe không phải là một việc
dễ dàng gì, thậm chí ở nhiều vùng trong cả nước còn lạ lẫm với hình ảnh của chiếc
xe hơi, chứ đừng nói đến sở hữu nó. Sau hơn 10 năm, một chặng đường không quá
dài nhưng đủ để cho sản phẩm xa xỉ trở nên quen thuộc và gần với tầm tay của
nhiều người hơn.
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
2
Đề án môn học
Đây là thứ hàng hóa cao cấp, có giá trị lớn về kinh tế. Bản thân sản phẩm cũng
là mặt hàng cần có sự lựa chọn kĩ càng sao cho phù hợp với sở thích, mục đích sử
dụng và hợp với túi tiền của họ. Khi chất lượng cuộc sống tăng lên thì các khoản chi
dành cho xe cộ cũng có sự gia tăng theo. Dựa trên mục đích và kích cỡ của từng
loại xe, phân thành 4 loại sau:
Chính sự sôi động của ngành và sự đa dạng trong nguồn cung sản phẩm tạo
cho người tiêu dùng có thêm nhiều sự lựa chọn hợp lý với họ hơn; cả về giá cả, chất
lượng và cả chủng loại xe.
1.2.2. Các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam
Ngành ô tô của Việt Nam ra đời khá muộn. Năm 1995 là năm mà ngành chính
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
3
Đề án môn học
thức có doanh nghiệp liên doanh đầu tiên được thành lập. Đa số các hãng, doanh
nghiệp có liên quan đến ngành đều nhỏ bé, phần lớn đều rất manh mún. Chỉ có
khoảng vài ba doanh nghiệp có khả năng sản xuất ở mức 5000 xe/ năm. Còn ngoài
ra đều là các cơ sở lắp ráp nhỏ bé và mức độ tiêu thụ thấp.
Ngành công nghiệp ô tô trong nước có nhiều doanh nghiệp thuộc đủ loại hình
thành phần kinh tế khác nhau. Những doanh nghiệp liên doanh với các thương hiệu

3 Công ty
TNHH
Isuzu
Vietnam
Thành lập ngày 19 tháng 10 năm 1995, là liên
doanh giữa hai công ty Việt Nam: Công ty cơ khí ô
tô Sài Gòn (SAMCO), Công Ty Sản Xuất Kinh
Doanh Nhập Khẩu Gò Vấp (GOVIMEX) và hai
công ty hàng đầu của Nhật Bản: Công ty ô tô
ISUZU và tập đoàn ITOCHU
Isuz u
4 Công ty ô
tô Mekong
Thành lập năm 1991, theo Giấy phép Ðầu tư Số
208/GP, công ty đã thành lập Nhà máy Ô tô Cửu
Long - nhà máy sản xuất ô tô đầu tiên tại Việt Nam.
Công ty Mekong Auto đã đưa ra thị trường sản
phẩm đầu tiên lắp ráp tại Nhà máy Ô tô Cửu Long
vào ngày 20/5/1992.
Fiat,
Ssanyong,
Iveco,
Paso.
5 Công ty
Liên doanh
Mercedes-
Benz
Vietnam
Thành lập vào năm 1995 và là thành viên của
tập đoàn DaimlerChrysler, Mercedes-Benz Việt

Daewoo,
GM
Daewoo
8 Công ty
Liên doanh
ô tô Hòa
Bình
(VMC)
Thành lập ngày 19-8-1991 theo giấy phép đầu
tư số 228/GP của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Năm
2007 chuyển đổi thành Công ty TNHH liên doanh ô
tô Hoà Bình. Các thành viên tham gia liên doanh: -
Tổng công ty Công nghiệp Ô tô Việt Nam
(VINAMOTORS) - Công ty TNHH Phương Nam
Việt. - Công ty Columbian Motors Corporation
(Philippin) - Công ty Robus Holding Corporation
(Philippin)
Kia,
Mazda,
BMW
9 Công ty
Vietnam
Suzuki(Vis
uco )
Thành lập từ tháng 4 năm 1995 với số vốn
pháp định là 18,5 triệu USD, Việt Nam Suzuki là
công ty liên doanh giữa ba đối tác: Tập đoàn Suzuki
Motor (Nhật Bản), Tập đoàn Nisho Iwai (Nhật
Bản), nay là Công ty Sojitz và Công ty Vikyno (Việt
Nam)

1997 tại khu công nghiệp Biên Hòa 2, tỉnh Đồng
Nai. Hoạt động sản xuất và lắp ráp các sản phẩm ô
Kia,
Daewoo,
Foton,
Thaco
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
5
Đề án môn học
tô thì chủ yếu tập trung tại Khu công nghiệp cơ khí
ô tô Chu Lai Trường Hải.
13 Tổng công
ty máy
động lực
& máy
nông
nghiệp
Việt Nam
(Veam)
(**)
Bộ Công nghiệp được thành lập năm 1990
theo quyết định số 153/HĐBT của Hội đồng Bộ
trưởng nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam
và thành lập lại theo quyết định số 1119/QĐ-
TCCBĐT ngày 27 tháng 10 năm 1995 của Bộ Công
nghiệp nặng (nay là Bộ Công nghiệp). VEAM có 20
đơn vị thành viên
Veam
14 Tổng công

Vinamotor
)
(**)
Tổng Công ty Công nghiệp ô tô Việt nam là
Tổng Công ty thuộc sở hữu nhà nước. Tiền thân của
Vinamotor là Cục Cơ Khí Bộ GTVT (1964-1985),
Liên hiệp Xí nghiệp GTVT (1985-1995), Tổng
Công Ty Cơ khí GTVT - TRANSINCO (1995-
2003). Ngày 23/9/2003 Vinamotor chính thức được
thành lập theo quyết định số 189/QĐ - TTg của Thủ
tướng chính phủ và Quyết định số 3096/QĐ-
BGTVT của Bộ GTVT. Hiện nay Vinamotor có 34
đơn vị kinh tế thành viên.
Vinamotor
,Tran sinco
17 Công ty
TNHH
Honda
Vietnam
Công ty Honda Việt Nam là công ty liên doanh
giữa Công ty Honda Motor (Nhật Bản), Công ty
Asian Honda Motor (Thái Lan) và Tổng Công ty
Máy Động Lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam.
Honda
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
6
Đề án môn học
Trong số các doanh nghiệp nêu trên bao gồm 4/4 doanh nghiệp Nhà nước
trong ngành công nghiệp ô tô. Những doanh nghiệp giữ vai trò then chốt trong

Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
7
Đề án môn học
cho hi vọng về sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô VN. Thế nhưng, hiện phần
lớn Cty sản xuất ôtô có dây chuyền sản xuất cũ, tỷ lệ nội địa hóa rất thấp" - ông Bùi
Ngọc Huyên, Tổng giám đốc Cty ôtô Vinaxuki cho biết.
Đây là thực tế và là một trong những vấn đề mang tính sống còn với doanh
nghiệp. Tỷ lệ này là một chỉ tiêu mà bất kỳ nhà chiến lược nào trong ngành và cả
doanh nghiệp sản xuất trong nước đều nghĩ đến. Thực tế, vẫn chưa có một doanh
nghiệp nào có tỷ lệ nội địa hóa tới 100% cho các sản phẩm của mình.
Chính phủ và các Bộ ban ngành liên quan đã đề ra chiến lược phát triển cho
ngành ô tô Việt Nam ở nước ta đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020 là: Loại xe
phổ thông, đáp ứng 40-50% nhu cầu trong nước và nâng cao tỉ lệ nội địa hóa đến
40% vào năm 2005, đáp ứng trên 80% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỉ lệ nội
địa hóa lên đến 60% và năm 2010 (động cơ phấn đấu đạt 50%, hộp số 90%). Các loại
xe chuyên dùng, đáp ứng 30% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỉ lệ nội địa hóa
40% năm 2005, sẽ đáp ứng 60% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỉ lệ nội địa
hóa 60% vào năm 2010. Các loại xe cao cấp, các loại xe du lịch do các liên doanh sản
xuất phải đạt tỉ lệ nội địa hóa 20-25% vào năm 2005 và đến 40-50% vào năm 2010.
Các loại xe tải, xe buýt, đáp ứng 80% so với nhu cầu và tỉ lệ nội địa hóa 20% vào
năm 2005, và tỉ lệ nội địa hóa cho loại xe này phải đạt 35-40% vào năm 2010.
Trên thực tế, ngay cả các tên tuổi lừng danh của làng ô tô thế giới như Toyota,
Mercedes Benz, Ford, Honda… chính thức nhận giấy phép để đầu tư nhà máy ở
Việt Nam, tới nay, việc nội địa hóa đa phần mới chỉ đạt dưới 10%. Điều này chứng
tỏ năng lực hoạt động của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa có được hiệu
quả tương xứng.
1.2.3.3. Chất lượng ô tô của trong nước chất lượng không tương xứng với giá
cả, hiệu quả trong công tác quảng bá giới thiệu thấp
Năm 2009 là một năm đáng nhớ với các doanh nghiệp sản xuất ô tô nói riêng

dạng, chưa thể đáp ứng được cầu trong nước.
Ngoài ra, các chiến lược chức năng chưa thực sự được cọi trọng. Hoạt động
Marketing chưa được đầu tư đích đáng, nhiều doanh nghiệp còn chưa thực sự hiểu
rõ vai trò của Marketing và chưa huấn luyện và đào tạo được đội ngũ nhân viên có
tay nghề và thạo công việc. Đầu tư mang tính chất dàn trải, khâu quản lý chất lượng
và nâng cao chất lượng chưa thực sự hiệu quả. Các nhà hoạch định chiến lược vẫn
chưa có những bước đi tỷ mỉ cho doanh nghiệp mình để có thể cạnh tranh với các
doanh nghiệp trên thế giới khi các doanh nghiệp này tiến vào thị trường Việt Nam.
Khi đó phần lớn các doanh nghiệp trong nước đều chỉ trông chờ vào sự bảo trợ của
Nhà nước và Chính phủ.
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
9
Đề án môn học
1.2.3.5. Công nghiệp phụ trợ được quan tâm nhưng chưa thể hiện được vai trò
tích cực và hiệu quả đối với ngành công nghiệp ô tô trong nước
Hội nghị ngày 23/6 lần này nhằm giúp các doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực cơ khí, điện tử, hoá
nhựa có cơ hội gặp gỡ, trao đổi thông tin Vấn đề tỉ lệ nội địa hoá và các ngành
phụ trợ công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước tuy không phải là một vấn đề
mới, song nó lại là điểm được các lãnh đạo của Sở Công Thương và các doanh
nghiệp đặc biệt quân tâm. Điều mà các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Việt hiện
nay còn thiếu đó là tính liên kết, sự phối hợp chặt chẽ hiệu quả. Chính vì điều đó,
những cuộc hội nghị như thế này sẽ là cầu nối đưa các doanh nghiệp sản xuất, lắp
ráp ô tô hay các doanh nghiệp thuộc nghành công nghiệp phụ trợ có thể tìm được
tiếng nói chung.
Theo nhận định này, ngành công nghiệp phụ trợ cần phải có những bước đi
đúng đắn và tiếng nói chung để phát huy được vai trò của mình.
2. Vai trò của ngành công nghiệp ô tô
Ngành công nghiệp ô tô là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đây

các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ này. Trong báo cáo mới nhất về năm 2010, thì mặt
hàng ô tô nhập khẩu là mặt hàng có tỷ lệ nhập khẩu cao nhất. Tình trạng nhập siêu
là biểu hiện của nền kinh tế chưa thực sự ổn định. Do đó, nếu sở hữu được ngành ô
tô trong nước thì việc nhập siêu sẽ có thể được ngăn chặn và mang lại sự cân bằng
trong cán cân xuất nhập khẩu của quốc gia.
Ngành công nghiệp ô tô muốn phát triển được thì bản thân nó không thể tạo ra
được những cơ hội và nguy cơ. Điều này phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố, trong
mội trường kinh tế thì có các yếu tố cơ bản sau: nền kinh tế, cơ sở hạ tầng và các
ngành công nghiệp có liên quan. Khi thu hút, thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô phát
triển thì bản thân ngành được đầu tư, không những thế ngành còn kéo theo sự đầu
tư, phát triển cơ sở hạ tầng, đường xá; mặt khác kéo theo sự phát triển của các
ngành công nghiệp phụ trợ khác. Đây là điều kiện để phát triển đất nước đồng đều
và tạo nhiều công ăn việc làm, bình ổn nền kinh tế vĩ mô.
Quân sự, an ninh quốc phòng cũng cần trang bị những phương tiện, thiết bị
liên quan đến ngành công nghiệp ô tô. Ngành này phát triển thì việc sản xuất những
phương tiện cần kíp cho quân sự, an ninh được đảm bảo và dễ dàng hơn. Chính vì
thế việc phát triển ngành còn liên quan đến việc đảm bảo an ninh, trật tự và an toàn
xã hội của đất nước ta.
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
11
Đề án môn học
II. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CỦA MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ TỚI CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT Ô TÔ TẠI VIỆT NAM
1. Phân tích môi trường vĩ mô
Việc phân tích môi trường vĩ mô là quan trọng và cần phải có khi đưa ra các
quyết định quản trị cho một tổ chức hay một ngành kinh tế. Các tổ chức luôn đặt
trong môi trường kinh doanh biến động theo từng ngày từng giờ. Muốn phân tích
được môi trường kinh doanh hiệu quả, chính xác thì doanh nghiệp phải lựa chọn
được mô hình đúng. Có rất nhiều mô hình, cách thức tiếp cận khác nhau. Trong các

Bảng 2.1: Chỉ số tăng trưởng kinh tế vĩ mô của Việt Nam so với một số nước
trong khu vực (2004 – 2009)
Việt
Nam
Trung
Quốc
Inđonexia Malaixia Philipin Thái lan
Tốc độ
tăng
trưởng
kinh tế
(%)
7,4 11.1 5,5 4,5 4,7 3,5
Số liệu trên cho thấy tốc tộ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam khá ổn định,
ít bị chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh
tế khá cao và ổn định.
Trong năm 2010 có nhiều biến động, kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng có
phần đi xuống. Tuy nhiên, đây là những gì mà Nhà nước ta cũng nhận định từ trước
và những cú tăng trưởng ngoạn mục trong những tháng cuối năm là rất khả quan.
Kinh tế Việt Nam đã ngăn chặn được đà suy giảm, phục hồi và tăng trưởng
khá. GDP cả năm 2010 tăng 6,78%, cao hơn ước lượng thực hiện trước là 6,7% và
cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đề ra là 6,5%. Với kết quả này, tăng trưởng GDP bình
quân giai đoạn 5 năm 2006 – 2010 đạt khoảng 7%/năm. Các chỉ số này có thể dẫn
đến sự bùng nổ về chi tiêu của khách hàng, vì thế mà có thể đem lại khuynh hướng
thoải mái hơn về sức ép cạnh tranh trong ngành.
GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.160 USD, điều này chính
thức đưa nước ta ra khỏi doanh sách nghèo và cận nghèo. Điều này hết sức có ý
nghĩa với đất nước ta, chính thức khẳng định tính đúng đắn của chủ trương xóa đói
giảm nghèo của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, hệ quả của nó cũng dẫn đến chúng
ta khó khăn hơn trong việc vay vốn. Nền kinh tế của nước ta sẽ phải đi nhiều hơn

hiệu quả cạnh tranh và làm giảm đi mức thu nhập của nền kinh tế, đưa nước ta vào
hoàn cảnh : dù có tăng trưởng thì mức tăng trưởng không mang lại nhiều ý nghĩa.
2.1.3. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta nếu muốn vươn
ra thị trường thế giới. Không chỉ dừng lại ở đó, tỷ giá hối đoái cũng có tác động trực
tiếp đến giá cả của sản phẩm ô tô ngoại nhập. Muốn có được lợi thế trong nhập
khẩu hàng hóa thì đồng ngoại tệ của nước ta phải là đồng ngoại tệ mạnh còn ngược
lại khi động ngoại tệ của nước ta trở nên yếu đi, điều này có thể đem lại cho ta
những cơ hội thuận lợi, tạo lợi thế cạnh tranh trong môi trường xuất khẩu sang thị
trường khu vực và thế giới. Ngành ô tô của Việt Nam sẽ phải chịu sức ép lớn hơn
với việc đồng Việt Nam bị mất giá so với đô là Mỹ.
Qua bảng phân tích sau, ta có thể thấy sự biến động của giá động đô la Mỹ so
với Việt Nam đồng:
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
14
Đề án môn học
Bảng 2.3: Tỷ giá USD/VND năm 2007 – 2010
Xu hướng đồng đô la tăng cao trong những năm gần đây càng trở nên mạnh
mẽ hơn trong những tháng cuối năm. Có một số nguyên nhân dẫn tới tình trạng
căng thẳng tỷ giá nói trên. Trước hết, lạm phát cao trong giai đoạn 2007 – 2008 đã
dẫn tới tỷ giá hiệu dụng thực USD/VND trong hai năm 2007-2008 tăng khoảng
20% so với đầu năm 2007.
1
Bên cạnh đó, cán cân thanh toán thanh toán của Việt
Nam đã chuyển trạng thái từ thặng dư lớn trong năm 2007 (+10,2 tỷ USD) sang
thâm hụt (-5,7 tỷ USD) trong ba quý đầu năm 2009. Giá của đồng Việt Nam năm
2010 cũng lại có sự biến động, sự giảm gia tăng của VND/USD, giá của đồng đô bị
đẩy cao lên rất nhiều so với các năm trước, tuy nhiên chênh lệch giữa tỷ giá đồng đô
la giữa trong năm 2010 không phải là quá lớn.

Trung Quốc 55
Xingapo 1
Malaixia 25
Inđônêxia 87
Ấn độ 92
Thái Lan 34
Philippin 110
Campuchia 69
Hàn Quốc 16
Nhật bản 21
Nguồn: Khảo sát ý kiến doanh nghiệp toàn cầu của WEF, Học viện Chiến lược và
NLCT Harvard tổng hợp
Cơ sở hạ tầng của Việt Nam đứng ở vị trí thứ 96, so với các nước trong khu
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
16
Đề án môn học
vực kể thì vị trí của Việt Nam còn ở mức khá thấp, thậm chí so với các nước như
Cam pu chia hay Trung Quốc thì chỉ số ngày cũng thấp hơn rất nhiều. Do hoàn cảnh
của đất nước, việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng đang dần được tiến hành với kết quả
đáng mừng.
2.2. Môi trường công nghệ
Nhân tố này có sự tác động mạnh mẽ, sức mạnh của nó có thể hủy diệt hoặc
tạo dựng một ngành kinh tế mới.Tác động của môi trường công nghệ chủ yếu thông
qua các nhân tố: sản phẩm mới, công nghệ hay vật liệu mới, quá trình công nghệ
mới. Phân đoạn công nghệ bao gồm các thể chế hoạt động có liên quan đến sáng
tạo ra các kiến thức mới, chuyển dịch các kiến thức đó đến cầu đầu ra, các sản
phẩm, các quá trình và các vật liệu mới.
Đặc điểm của môi trường công nghệ cũng đang phải đối mặt với xu thế chung;
sau chiến tranh thế giới thứ 2, tốc độ của thay đổi công nghệ đã có sự tăng lên

2.3.1.Môi trường dân số
Yếu tố xã hội vàyếu tố kinh tế là 2 yếu tố quan trọng nhất trong môi trường.
Trước tiên, kết cấu dân số trẻ là thị trường tiềm năng đối với ngành ô tô.
Mức tổng dân số là hơn 83 triệu dân, kết cấu dân số trẻ, đồng thời xét trên mục
tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường đề ra vẫn chưa đáp ứng được 0,8%, hay 8xe/1000
dân, so với các nước khác Trung Quốc 24 xe trên 1000 người, Thái Lan là 152 xe
trên 1000 người, Hàn Quốc 228 xe trên 1000 người, Hoa Kỳ 682 xe trên 1000
người. Qua số liệu thống kê này cho thấy thị trường Việt Nam sẽ trở thành thị
trường đầy tiềm năng và hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.trong
ngành công nghiệp ô tô.
Chất lượng cuộc sống ngày một gia tăng. Thu nhập của người dân được cái
thiện rất nhiều. Mới đây, chính phủ đã ban hành Nghị định 107 quy định mức lương
tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước
ngoài tại Việt Nam và 108 đối với lương tối thiểu trong vùng đối với người lao
động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia
đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động (gọi chung
là doanh nghiệp trong nước). Theo quy định, mức lương tối thiểu cho lao động làm
việc ở các đơn vị trên được chia theo 4 vùng. Mức lương tối thiểu vùng sắp tới cao
hơn mức lương hiện nay khoảng từ 100.000 - 370.000 đồng/tháng. Mức cao nhất
thuộc về vùng 1, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 1,55 triệu đồng/tháng,
mức lương tối thiểu thấp nhất là vùng 4, doanh nghiệp trong nước với 830.000
đồng/tháng.
Phân phối thu nhập chưa đồng đều, sự phân chia cách biệt giàu nghèo là khá
lớn. Điều này là một trong những hạn chế của xã hội. Tuy vậy, chính sự phân chia
này tạo cho ngành này những cơ hội cho ngành tấn công vào nhóm khách hàng giàu
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
18
Đề án môn học

Các nhân tố tự nhiên là yếu tố mang đặc trưng riêng của từng vùng, có thể nói
đây là nhân tố buộc ngành phải có sự thích ứng. Các doanh nghiệp trong ngành phải có
sự hiểu biết kỹ lưỡng để đưa ra những quyết định đúng đắn cho sản phẩm của mình.
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
19
Đề án môn học
Trong điều kiện tự nhiên như Việt Nam khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và
mưa nhiều, bụi. Đây cũng chính là điểm có nhiều sự khác biệt đối với ngành ô tô
của các quốc gia khác. Điều kiện tự nhiên sẽ quyết định đến nhu cầu của người tiêu
dùng về các yêu cầu và đặc tính của xe.
Muốn hiểu được những đặc tính đó, đòi hỏi phải là doanh nghiệp phải nắm và
tìm hiểu kĩ những đặc điểm của địa hình, thời tiết, khí hậu và điều kiện môi
trường…. Đây cũng có thể coi là lợi thế cho các hãng xe trong nước, bởi chính các
hãng xe này hiểu được địa hình, nắm được thổ địa và tình hình khí hậu nơi đây. Cần
phải xác định xem nếu là một người bản địa, sống tại đây thì khách hàng muốn sở
hữu một chiếc xe như thế nào để chống lại với những điều kiện của môi trường.
Môi trường này không có nhiều sự ảnh hưởng đến ngành công nghiệp ô tô.
Bản thân nhân tố chỉ là điều kiện và mang lại cho doanh nghiệp những điều kiện
riêng biệt để doanh nghiệp có thể nghiên cứu, tạo ra chiếc xe phù hợp với điều kiện
tự nhiên của môi trường Việt Nam.
2.5. Môi trường chính trị và pháp luật
Môi trường chính trị pháp luật của một quốc gia là là nhắc đến những yếu tố
do bàn tay hữu hình mà nhà nước tạo ra. Nếu chế độ chính trị là do Đảng ta lựa
chọn, pháp luật là do nhà nước ban hành thì chính phủ là cơ quan thi hành. Vậy
muốn quản lý nhà nước tốt, tạo điều kiện cho ngành phát triển ngành công nghiệp ô
tô thì bản thân Nhà nước và chính phủ phải đưa ra được những giải pháp hữu hiệu,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý.
2.5.1. Tình hình chung của môi trường chính trị và luật pháp
Về chính trị, pháp luật thì ngành công nghiệp ô tô nói chung và các ngành

quyết định quy hoạch ô tô Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
Những quyết định của Chính phủ là nỗ lực đưa ngành này vào đúng vai trò và vị trí
của nó trong nền kinh tế.
2.5.2.2. Bên cạnh đó hàng loạt Chính phủ ta cũng đưa ra những biện pháp hỗ
trợ về tài chính cho các dự án liên quan đến ngành ô tô.
Theo đó Chính phủ đã đưa ra được 7 chính sách hỗ trợ được nêu ra bao gồm
các vấn đề :
Chính sách hỗ trợ về thuế đối với ô tô và linh kiện, phụ tùng ô tô
Chính sách về thị trường
Chính sách đầu tư
Chính sách về khoa học và công nghệ
CHính sách về nguồn nhân lực
Chính sách về huy động vốn
Chính sách về quán lý ngành
Nội dung của những chính sách này là một trong này thể hiện cam kết của
chính phủ trong việc trợ giúp ngành công nghiệp ô tô.
2.5.2.3. Thuế và các quyết định thuế trong ngành công nghiệp ô tô
Thấy rằng thuế và các chính sách trợ giá là những biện pháp được Chính phủ
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
21
Đề án môn học
ta đưa ra và phổ biến nhất. Đặc biệt là chính sách về thuế. Cụ thể những ưu đãi đặc
biệt đó là:
Những loại xe đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ không phải chịu thuế giá trị gia
tăng và thuế tiêu thụ đặt biệt áp dụng cho ô tô sản xuất trong nước được giảm 95%
so với ô tô nhập khẩu cùng loại. Thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn, giảm
trong một số năm đầu thành lập. Thuế nhập khẩu linh kiện để lắp ráp ô tô trong
nước thấp hơn nhiều so với thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc. Ngoài ra, các thiết bị,
máy móc, vật tư xây dựng để tạo tài sản cố định của các doanh nghiệp sản xuất, lắp

có sự giảm rõ rệt qua từng năm. : Thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc từ năm 1991 cho
đến 2001 luôn ở mức 100% giảm lần đầu tiên xuống mức 90% tháng 1 năm 2005,
từ đó đến nay đã giảm liên tục ba lần xuống còn 60%. Mặc dù vẫn còn nhiều thứ
thuế đáng chú ý trong khi làm thủ tục nhập khẩu xe những những động thái này là
khiến cho các xe ngoại nhập ồ ạt tấn công vào thị trường nội địa. Sự giảm thuế này
chưa dừng lại ở mức đó, từ năm 2011 mức thuế và các chính sách cho các dòng xe
ngoại nhập được giảm thêm một bậc nữa.
Từ 1/1/2011 Theo biểu thuế mới của bộ Tài chính, dòng xe chở người 9 chỗ
ngồi trở xuống (thuộc nhóm 8703) đồng loạt áp dụng thuế suất 82% thay cho mức
83% hiện hành. Mức thuế này áp dụng với các dòng xe có dung tích xi lanh trên 1,8
lít, từ 1,8 lít đến 2,5 lít. Các loại xe có dung tích xi lanh từ 2,5 lít trở lên áp dụng
thuế suất 77%, thay cho mức 83% hiện hành. Đối với dòng xe 2 cầu, thuế suất áp
dụng tại thời điểm năm 2011 là 72%, thay cho mức 77% hiện hành.
Bộ Tài chính cho rằng mức thuế này được điều chỉnh theo lộ trình cam kết
thuế quan khi ký hiệp định WTO. Cụ thể, cam kết ASEAN, năm 2011, thuế suất dự
kiến với dòng xe này là 70% và cam kết WTO là 83%. Đối với xe 2 cầu, thuế suất
theo cam kết ASEAN là 70% và cam kết WTO 73%.
Chắc chắn mức thuế giảm này sẽ làm cho ngành ô tô của Việt Nam phải đối
mặt với nhiều thách thức hơn nữa trong các năm tới.
Ngoài việc giảm thuế thì các loại xe chuyên dụng lại tăng thuế. Tất cả các loại
xe ô tô chuyên dụng, như xe cứu thương, xe tang lễ, xe chở phạm nhân, bất kể dùng
động cơ xăng, diezel và bất kể dung tích xi-lanh, đều áp mức thuế suất nhập khẩu là
15%, thay cho mức 10% hiện tại.
Mức thuế được duy trì cho các mặt hàng xe cũ nhập khẩu. Theo Quyết định
số69/2006/QĐ-TTg ngày 28/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
mức thuế tuyệt đối thuế nhập khẩu xe ô tô đã qua sử dụng nhập khẩu và các văn bản
hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tuy những dòng xe này không được khuyến khích
nhưng cũng tạo ra sức ép lên thị trường ô tô của Việt Nam, chính phủ cần có biện
pháp thích hợp để tránh sử dụng những xe nhập khẩu quá cũ của các nước khác trên
thế giới.

Việt Nam ngày càng mở rộng cửa cho việc giao lưu văn hóa, thúc đẩy kinh tế.
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO (2007) và quan hệ
giữa các nước trong cộng đồng ASEAN càng trở nên thắm thiết hơn là một lợi thế
và cơ hội lớn. Nhiều giả thiết về tương lai sáng lạng đặt ra cho nền kinh tế nước ta,
nước ta được đối xử công bằng hơn trong mối quan hệ với các cường quốc trên thế
giới, cụ thể như hàng rào thuế quan được rỡ bỏ. Tuy nhiên thách thức cho Việt Nam
cũng không phải là nhỏ. Hàng rào thuế quan có thể được hủy bỏ nhưng trên hết
hàng rào phi thuế quan lại được dựng nên vững chắc. Trước tiên, việc thuế nhập
khẩu của Việt Nam cũng được giảm xuống, những ưu đãi,bảo hộ cho ngành công
Dương Thị Phương
QTKD Tổng hợp 50B
24
Đề án môn học
nghiệp của nước nhà bị giảm xuống. Đó là thực tế ghi nhận khi nước ta tham gia
vào sân chơi chung của khu vực và thế giới.
Việc đổi gió cho nền kinh tế Việt Nam là cần thiết. Tuy nhiên đây cũng là
bước đi táo bạo, chứa đựng nhiều rủi ro, cũng có thể con bão của quốc tế hóa sẽ
cuốn theo hết những thành quả mà nhà nước ta đã gây dựng nhưng cũng có thể điều
này sẽ mang đến sự sinh sôi nảy nở và cường thịnh hơn cho nền kinh tế Việt Nam
còn nhiều lạc hậu.
3. Sơ lược về cơ hội và nguy cơ với ngành từ môi trường vĩ mô
3.1. Nguy cơ cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế còn khá non trẻ. Sau hơn 20 đổi mới mặc
dù thu được nhiều thành tựu nhưng cũng chứa đựng nhiều bất cập, hạn chế. Chính
điều này là một trong những nhân tố làm giảm đi những cơ hội của Việt Nam, thậm
chí khí ra hội nhập quốc tế sẽ mang lại cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô nói
riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung nhiểu thách thức và nguy cơ.
Trước tiên, môi trường biến động là luôn ẩn chứa nguy cơ trong nó. Sau
khủng hoảng kinh tế thế giới, tuy nói là ít chịu tác động nhưng những bất ổn trong
nền kinh tế luôn xảy ra. Lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng, giá vàng, giá đô la tăng làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status