tổ chức kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần traphaco - Pdf 22

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Đầy đủ tiếng Việt Đầy đủ tiếng Anh
ABC Kế toán chi phí dựa trên cơ sở hoạt động Activity – Based Costing
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asian
Nations
BVQI
Tổ chức chứng nhận chất lượng quốc tế
độc lập
Bureau Veritas Quality
International
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CP Chi phí
CVP Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận Cost – Volumne – Profit
DN Doanh nghiệp
ERP Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp Enterprise Resource Planning
FIFO Phương pháp nhập trước- xuất trước First in- first out method
GACP Thực hành trồng trọt, thu hái tốt Good Agriculture Collecting Practice
GMP Thực hành sản xuất tốt Good Manufacturing Practice
GPs Các tiêu chuẩn thực hành Good Practices
ISO Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế International Organization for
Standardization
KTTC Kế toán tài chính
KTQT Kế toán quản trị
NVL Nguyên vật liệu
PX Phân xưởng
SP Sản phẩm
SX Sản xuất

hoạt động hiệu quả hơn nghĩa là đưa ra các quyết định về hoạch định, thực hiện và
kiểm soát chi phí một cách linh hoạt và phù hợp với sự thay đổi của môi trường
kinh doanh và thị trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức kế toán quản trị nói chung và
tổ chức kế toán quản trị chi phí nói riêng tại doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dược
phẩm tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ: “Tổ chức kế toán quản trị chi phí
tại Công ty cổ phần Traphaco”
1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài sẽ vận dụng những lý luận cơ bản về kế toán quản trị, kế toán chi phí,
đồng thời phân tích rõ thực trạng tổ chức công tác kế toán chi phí ở công ty cổ phần
TRAPHACO nhằm đề xuất phương hướng, giải pháp để xây dựng, hoàn thiện tổ
chức kế toán quản trị chi phí.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn nghiên cứu: thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ
phần TRAPHACO trên góc độ công ty mẹ.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp chung: dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
kết hợp với duy vật lịch sử và các nguyên lý cơ bản của triết học.
- Phương pháp cụ thể: luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn
giải và hệ thống hoá khái quát những vấn đề lý luận về kế toán quản trị chi phí.
5. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn hệ thống hoá các lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí.
- Qua việc nghiên cứu các mô hình lý thuyết cơ bản của kế toán quản trị nhằm
đưa ra những vấn đề lý luận và thực tiễn để làm nền tảng cho việc định hướng tổ
chức kế toán quản trị chi phí phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
tại công ty cổ phần Traphaco.
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị và phương hướng góp phần hoàn thiện tổ
chức kế toán quản trị chi phí cho công ty cổ phần Traphaco.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

hiệu quả nguồn lực kinh tế của DN”.
Theo Viện nghiên cứu KTQT Hoa kỳ (Institute of Management Accountants-
IMA) , “KTQT là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và
truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược KD, hoạch
định, kiểm soát hoạt động, ra quyết định KD, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh
3
tế, cải tiến và nâng cao giá trị DN, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ
với việc quản trị và kiểm soát nội bộ”
Theo Luật kế toán của Việt Nam số 03/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003
thì “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính
theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”
Theo các quan điểm trên cho thấy KTQT xem như là một bộ phận chuyên môn
của hệ thống kế toán DN; là quá trình định dạng, đo lường, phân tích diễn giải và
truyền đạt thông tin kinh tế, tài chính cho nhà quản trị các cấp trong DN; mục đích
sử dụng thông tin là để hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá, kiểm soát
ra quyết định.
Trong mỗi DN CP phát sinh ở tất cả các giai đoạn hoạt động (nghiên cứu nhu
cầu – đầu tư, mua sắm, tích lũy các nguồn lực – hoạt động SX – hoạt động tiêu thụ)
và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của DN. Vì vậy, thông tin CP giữ vai trò quan
trọng trong hệ thống thông tin hoạt động của DN. Nhu cầu thông tin CP luôn gia
tăng cả về tốc độ, tính chính xác, tính đầy đủ, tính linh hoạt để phục vụ cho các
quyết định kinh tế liên quan tới giá trị thành phẩm, giá vốn, giá bán, lợi nhuận, kiểm
soát, xây dựng và hoàn thiện định mức CP của nhà quản lý các cấp trong DN. Đây
chính là mục tiêu của kế toán nói chung và của kế toán CP nói riêng.
Kế toán CP dưới góc độ KTTC, bộ phận kế toán CP có chức năng tính toán, đo
lường CP đã phát sinh trong tổ chức theo đúng nguyên tắc, chuẩn mực kế toán để
cung cấp thông tin về giá thành, giá vốn hàng bán, các CP hoạt động và giá trị hàng
tồn kho trên Báo cáo tài chính. Còn kế toán CP dưới góc độ KTQT, bộ phận kế toán
CP có chức năng định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và
truyền đạt về thông tin CP (bao gồm cả những thông tin quá khứ, dự báo và ước

Các hoạt động
đầu ra
(3)
Các hoạt động
sản xuất, chế tạo
(2)
Các hoạt động
đầu vào
(1)
5
Sơ đồ 1.2. Chuỗi giá trị
Với quan điểm tổ chức là chuỗi giá trị cũng có nghĩa từng bộ phận trong tổ
chức (từng mắt xích trong chuỗi) đều có bộ phận đứng trước, được xem như nhà
cung cấp, và bộ phận đứng sau được coi như là khách hàng. Đây là quan điểm đơn
giản nhưng có giá trị cao vì gợi mở một sự suy nghĩ về sự phối hợp trong tổ chức
sao cho các mắt xích của chuỗi luôn luôn gắn kết với nhau [32, tr25], [9, tr21].
Trên đây là quan điểm về hoạt động của tổ chức, từ cách hiểu từng hoạt động
cụ thể cho tới sự liên kết các hoạt động này tạo thành chuỗi giá trị, do đó mô hình tổ
chức quản trị cũng có sự thay đổi. Mô hình tổ chức quản trị hoạt động KD trên cơ
sở qui trình hoạt động KD theo nhu cầu thị trường trải qua hai mô hình là mô hình
tổ chức quản trị cố định và mô hình tổ chức quản trị linh hoạt. Mô hình tổ chức
quản trị KD cố định áp dụng khi môi trường bên ngoài ổn định, tổ chức nội bộ được
định rõ và được thiết lập bằng qui định, luật lệ, thủ tục, thứ bậc rõ ràng và phần lớn
các quyết định được thiết lập từ nhà quản trị cao cấp. Mô hình tổ chức quản trị KD
linh hoạt được áp dụng khi môi trường bên ngoài thay đổi nhanh chóng, tổ chức nội
bộ nới lỏng và được tự do hơn để thích nghi với môi trường KD, những qui định,
luật lệ thường không được thiết lập ổn định hoặc có thể bị xem nhẹ, lúc này DN
thường đề ra cách giải quyết riêng biệt, thứ bậc tổ chức không rõ ràng, các quyết
định quản trị được thiết lập phân tán. Ngày nay, dưới áp lực thay đổi của môi
trường, cạnh tranh gay gắt thì mô hình tổ chức quản trị linh loạt, tổ chức hệ thống

thức quản trị hoạt động KD theo tư duy chuỗi giá trị là sự thoát khỏi phương thức
quản trị theo từng công đoạn, theo chức năng được phân chia rõ ràng để đạt tới qui
trình toàn bộ dựa trên triết lý liên kết, hợp tác theo chuỗi giá trị, nghĩa là qui trình
hoạt động KD là hệ thống liên kết, hợp tác để tận dụng triệt để các nguồn lực của
các đối tượng tham gia trong qui trình tạo giá trị của hoạt động KD [10, tr53], do đó
hoạt động quản trị được xác lập theo từng chuỗi giá trị và mỗi nhà quản lý chỉ là
một mắt xích trong quản trị qui trình tạo giá trị, cho nên nhà quản lý cần quan tâm
tới sự liên kết, định vị hoạt động KD của mình trong hệ thống liên kết cũng như giá
trị mà họ góp phần tạo ra trong chuỗi.
Sự ra đời của các mô hình, phương thức, tư duy quản trị KD, đặc biệt là tư duy
theo chuỗi giá trị đã ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung mới của KTQT trong thập
niên 80, 90 và cho đến ngày nay, là yếu tố quyết định tới nhu cầu thông tin quản trị,
đến mô hình KTQT, tới tổ chức KTQT CP, và vai trò của chúng trong việc cung
cấp thông tin cho nhà quản lý ra quyết định.
1.2.2. Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong hoạt động quản lý.
Trong nền kinh tế thị trường DN có thể tổ chức quản trị KD theo những mô
hình khác nhau, phương thức quản trị KD không giống nhau và mục tiêu hoạt động
của DN là gì đi nữa thì nhà quản lý vẫn phải thực hiện các hoạt động (chức năng) cơ
bản trong qui trình quản trị DN nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản lý trong việc
thực hiện các chức năng quản lý.
7
Sơ đồ 1.3. Chu trình hoạch định và kiểm soát
Trong việc chức lập kế hoạch, KTQT CP cần xác định dịnh mức, tiêu chuẩn và
lập dự toán CP, đây là tài liệu xác lập các bước thực hiện mục tiêu về CP và giá
thành. KTQT CP thu thập thông tin thực hiện, ước tính CP và giá thành hoặc các
thông tin khác theo nhu cầu thông tin của nhà quản lý để đưa ra các quyết định liên
kết, phân phối nguồn lực ở các đơn vị, bộ phận và trung tâm trong DN theo các mục
tiêu đã định về cơ cấu sản phẩm, số lượng, chất lượng, hình thức sản phẩm.
Trong việc tổ chức, điều hành nhà quản lý sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất
giữa tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thực

phân tích hoạt động thực tiễn với kế hoạch đã thiết lập nhằm chỉ ra ở hoạt động nào
trong qui trình thực hiện chưa đạt yêu cầu, và cần sự hiệu chỉnh để hoàn thành
nhiệm vụ và mục tiêu đã thiết lập.
Ngoài ra, KTQT CP có vai trò cung cấp thông tin thông qua báo cáo KTQT để
nhà quản lý các cấp ra quyết định. Báo cáo KTQT cung cấp thông tin phục vụ cho
hai chức năng chủ yếu hoạch định và kiểm tra, kiểm soát. Đối với chức năng hoạch
định báo cáo KTQT cung cấp các thông thực hiện và tương lai (ước tính) cho việc
hoạch định chiến lược (như nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, đầu tư đổi mới
trang thiết bị, ký hợp đồng hợp tác), quyết định kế hoạch sử dụng nguồn lực và
phân bổ nguồn lực, quyết định SX, quyết định cơ cấu sản phẩm, quyết định giá bán
sản phẩm và kế hoạch lợi nhuận. Đối với chức năng kiểm tra, kiểm soát. Với chức
năng kiểm tra báo cáo KTQT dùng để đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm
được phân quyền trong DN (các đơn vị KD trực tiếp, các phòng ban, các DN thành
viên…), các tiêu chuẩn đánh giá kết quả kinh tế cung cấp một sự kết nối giữa chiến
lược của DN và sự thi hành chiến lược đó bởi các trung tâm hoạt động trong DN.
Với chức năng kiểm soát hoạt động, báo cáo KTQT dùng để đánh giá việc huy động
và sử dụng nguồn lực, hiệu quả và hiệu năng của quá trình đó, cho phép nhân viên,
nhà quản trị nhận được thông tin phản hồi về kết quả mà họ đạt được từ đó điều
chỉnh, cải tiến trong tương lai.
Để thể hiện tốt vai trò, chức năng cung cấp thông tin cho nhà quản lý thì tổ
chức KTQT CP cần thực hiện các nội dung cơ bản: tổ chức bộ máy KTQT CP, tổ
9
chức nội dung KTQT CP và đánh giá trách nhiệm trung tâm CP. Những nội dung
cơ bản này sẽ được trình bày trong mục 1.3.
1.3. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP
1.3.1. Các quan điểm cơ bản về tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Tổ chức kế toán là một trong những nội dung cơ bản của tổ chức quản trị DN,
việc thực hiện tổ chức kế toán phải giải quyết những vấn đề để đạt được yêu cầu
cung cấp thông tin kế toán thích hợp, đầy đủ, kịp thời, chính xác, rõ ràng, khách

toán. Trong đó hệ thống TK kế toán sử dụng theo chế độ KTTC (KTTC sử dụng TK
tổng hợp còn KTQT sử dụng TK chi tiết); sổ kế toán của KTTC được ghi chép tổng
hợp còn KTQT căn cứ vào nhu cầu thông tin quản trị cụ thể đối với từng hoạt động,
từng chỉ tiêu mà mở sổ chi tiết theo hình thức sổ của KTTC và tự xây dựng; báo cáo
kế toán được lập định kỳ theo KTTC nhưng chi tiết hơn, có thể lập theo nhu cầu
quản lý. Theo tác giả nếu tổ chức mô hình kế toán này sẽ phát huy được sự thống
nhất trong thực hành các nội dung công việc kế toán, bộ máy linh hoạt, gọn nhẹ,
thông tin kế toán được thông suốt, đáng tin cậy, tạo điều kiện cho tin học hóa, tập
trung trong nội dung kế toán, tiết kiệm được CP vận hành song đòi hỏi nhân sự kế
toán phải hiểu rõ về các nghiệp vụ KTQT và KTTC, trong khi đó KTTC có tính
chất tuân thủ còn KTQT thì không nên tính bảo mật của thông tin kế toán kém, gây
khó khăn kiểm soát công ty. Vì vậy, khi thực hành mô hình này trong cùng hệ thống
sẽ khó khăn, đòi hỏi tính thống nhất thông tin cao hơn mô hình tách biệt.
+ Mô hình hỗn hợp là mô hình mà hệ thống kế toán vừa có phân hệ KTTC,
vừa có phân hệ KTQT cả về bộ máy kế toán và công tác kế toán. Trong đó nhân sự,
hệ thống TK, sổ kế toán, báo cáo nếu có phần hành tương đồng mà DN không cần
tách thì vận dụng theo mô hình kết hợp, còn nếu có phần hành khác biệt cung cấp
thông tin nội bộ cho công tác quản lý, cho kiểm soát hoạt động, kiểm soát tổ chức
thì có thể áp dụng theo mô hình tách biệt. Theo tác giả mô hình này thể hiện sự linh
11
hoạt trong tổ chức kế toán, nhất là KTQT CP trong môi trường cạnh tranh, hội
nhập. Song mô hình này đòi hỏi có sự đầu tư tương đối so với mô hình kết hợp như:
tin học hóa phần hành KTQT tách biệt, có nhân sự chuyên sâu về thực hành KTQT.
Trên đây là các mô hình tổ chức KTQT cơ bản, theo tác giả việc vận dụng mô
hình nào tùy thuộc vào từng DN. Đối với DN áp dụng theo mô hình tổ chức quản trị
cố định hay nói cách khác là chuyên môn hóa từng trung tâm SX, KD, từng hoạt
động quản lý, từng công đoạn, mà qui mô nhỏ và vừa thì việc vận dụng mô hình
tách biệt hay hỗn hợp thường mang lại lợi ích ít hơn so với CP bỏ ra. Đối với DN áp
dụng theo mô hình tổ chức quản trị linh hoạt, theo qui trình SX, KD, theo chuỗi giá
trị mà đối tượng hạch toán CP nhiều, đa dạng thì không thể chỉ vận dụng một mô

xây dựng chỉ tiêu, hệ thống chỉ tiêu CP, kết quả KD và qui trình thu thập một cách
đầy đủ, chính xác và toàn diện về quá trình thực hiện dự toán CP, tình hình sử dụng
CP ở từng sản phẩm, hoạt động, trung tâm phát sinh CP nhằm tạo điều kiện thuận
lợi về dữ liệu thông tin cho nhà quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động của tổ chức.
- Bộ phận phân tích CP, kết quả và hiệu quả hoạt động có nhiệm vụ xây dựng
qui trình và nội dung phân tích thông tin để kiểm tra, đánh giá hoạt động và ra quyết
định, nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản lý biết được sự biến động và nguyên
nhân của nó. Ngoài ra, bộ phận phân tích có nhiệm vụ xây dựng qui trình và nội
dung phân tích thông tin CP thích hợp phục vụ ra quyết định lựa chọn và thực hiện
các phương án, dự án tối ưu.
13
Sơ đồ 1.4. Bộ máy kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Tổng Giám đốc
Kế toán Tài chính
Kế toán tài chính Kế toán quản trị chi phí
Bộ phận
dự toán chi phí
Bộ phận nhận diện,
đo lường chi phí,
kết quả và hiệu quả
hoạt động
Bộ phận phân tích
chi phí, kết quả, hiệu
quả hoạt động và
phân tích thông tin
ra quyết định
Giám đốc tài chínhGiám đốc khác
Báo cáo kế toán
Mối quan hệ thông tin giữa hai bộ phận
14

Mặt khác, cần xây dựng thêm các biểu mẫu chứng từ bổ sung thông tin mã hóa CP
16
theo cách phân tích CP đáp ứng yêu cầu quản trị CP tại DN và đảm bảo tính qui
chuẩn, nhất quán trong qui trình phản ánh cung cấp thông tin CP.
Tổ chức hệ thống TK: Việc tổ chức TK cần được tiến hành một cách có hệ
thống và khoa học, vừa đảm bảo cung cấp thông tin CP chi tiết theo yêu cầu quản
trị, vừa đảm bảo khả năng đối chiếu, phân tích thông tin CP chi tiết với thông tin
tổng hợp liên quan tới các đối tượng kế toán cụ thể trong từng DN. Từ hệ thống TK
KTTC DN có thể bổ sung TK CP chi tiết theo dõi chi tiết từng đối tượng kế toán,
trên TK chi tiết cần kết hợp sử dụng thước đo giá trị với các thước đo khác.
Tổ chức hệ thống sổ kế toán: Sổ kế toán là công cụ quan trọng được sử dụng
trong KTQT CP để thu thập thông tin quá khứ và tương lai. Hệ thống sổ kế toán
tổng hợp và chi tiết sử dụng để phản ánh và thu thập thông tin hữu ích về từng đối
tượng kế toán phù hợp với yêu cầu quản lý và phục vụ lập báo cáo KTQT. Hệ thống
sổ sử dụng trong KTQT cần được thiết kế với mẫu cụ thể với số lượng chỉ tiêu được
sắp xếp hợp lý, khoa học theo yêu cầu quản lý và sự tiện ích trong trình bày, tổng
hợp, báo cáo và sử dụng thông tin. Bên cạnh đó khi thiết kế mẫu sổ cần xem xét
trình độ công nghệ xử lý thông tin, yêu cầu quản lý chi tiết từng đối tượng, khả
năng xử lý thông tin trong từng tình huống ra quyết định.
Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán: trên cơ sở thông tin đã được tổng hợp,
KTQT CP cần thiết lập hệ thống báo cáo có tính chất thường xuyên, định kỳ và đặc
biệt. Các Báo cáo KTQT CP cần đảm bảo thông tin được phân chia thành các chỉ
tiêu phù hợp với từng tiêu chuẩn đánh giá thông tin, về số lượng chỉ tiêu phải đáp
ứng yêu cầu kiểm soát và hoạch định, các chỉ tiêu phải có quan hệ logic và được sắp
xếp theo trình tự khoa học để thuận tiện cho sử dụng thông tin; các chỉ tiêu trong
báo cáo cần cụ thể theo yêu cầu quản lý chi tiết và đồng nhất theo thời gian, không
gian, theo hoạt động, theo từng SP. Ngoài ra, hình thức và số lượng báo cáo KTQT
CP được tổ chức tùy thuộc vào mô hình tổ chức quản trị hoạt động KD và phương
thức quản trị của DN, có thể tổ chức thành ba hệ thống: Báo cáo dự toán CP, báo
cáo kết quả thực hiện kế hoạch CP và báo cáo phân tích CP [10, tr99].

hiện bằng tiền của những hao phí lao động, vật chất, dịch vụ và được bù đắp bằng
thu nhập trong kỳ, mà CP còn được nhận thức theo cả khía cạnh nhận diện thông tin
để phục vụ cho việc ra quyết chọn lựa phương án tối ưu trong từng tình huống cụ
thể, mà ít chú ý hơn vào chứng minh CP phát sinh bằng các chứng từ kế toán.
Trong luận văn này sẽ trình bày sơ lược một số tiêu thức phân loại CP như
sau: (1) theo chức năng hoạt động, (2) theo mối quan hệ CP với thời kỳ tính kết quả
KD, (3) theo cách ứng xử của CP, (4) theo khả năng qui nạp CP vào các đối tượng
CP, (5) theo các cách phân loại CP khác nhằm mục đích ra quyết định.
1.3.3.1. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Theo cách này, CP SX của DN chia thành CP SX và CP ngoài SX [21, tr16]:
CP SX là toàn bộ CP liên quan đến việc tạo ra SP, bao gồm 3 yếu tố cơ bản:
+ CP NVL trực tiếp là CP của những loại NVL cấu thành thực thể của SP, có
giá trị lớn và có thể xác định một cách tách biệt, rõ ràng, cụ thể cho từng SP, được
tính thẳng cho từng SP. Phần lớn sản phẩm SX ra từ nhiều loại NVL trực tiếp.
Ngoài NVL trực tiếp cũng cần NVL gián tiếp (NVL phụ), chúng có thể tham
gia cấu thành thực thể của SP hoặc không nhưng có giá trị nhỏ và không thể xác
định cụ thể, rõ ràng cho từng SP nên phải đưa vào CP SX chung để phân bổ sau.
+ CP nhân công trực tiếp là CP tiền lương của những người lao động trực tiếp
chế tạo sản phẩm. CP nhân công trực tiếp có thể xác định rõ ràng cụ thể và tách biệt
cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào đơn vị sản phẩm.
Bên cạnh lao động trực tiếp còn có lao động gián tiếp, là những nhân công
không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng cần thiết cho quá trình SX của nhân công
trực tiếp, như quản đốc PX, nhân viên bảo trì…CP nhân công gián tiếp phải đưa vào
CP SX chung để phân bổ sau.
Ngoài ra, trong cơ cấu CP nhân công, còn có khoản mục CP thuộc vào CP
nhân công như: CP trong thời gian ngừng SX, CP phụ trội, CP phúc lợi lao động.
+ CP SX chung là những CP cần thiết khác để SX sản phẩm, còn được coi là
CP SX gián tiếp. CP SX chung thường bao gồm CP NVL gián tiếp, CP lao động
gián tiếp và CP SX chung khác.
19

+ CP gián tiếp là CP liên quan đến nhiều đối tượng chịu phí. Do vậy, CP gián
tiếp được phân bổ cho các đối tượng chịu phí bằng các phương pháp phân bổ CP.
Cách phân loại CP này giúp cho việc thực hiện kỹ thuật hạch toán, CP khi phát
sinh đòi hỏi phải áp dụng phương pháp phân bổ, cùng với đó là việc lựa chọn tiêu
thức phân bổ hợp lý để cung cấp thông tin chính xác, tin cậy về CP của từng sản
phẩm, từng hoạt động trong DN. Ngoài ra, còn cho biết tính chất của CP trực tiếp là
có thể tránh được, còn CP gián tiếp lại khó có thể trách được, nên rất cần thiết cho
nhà quản lý ra quyết định KD ngắn hạn.
1.3.3.4. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Mối quan hệ giữa CP và mức hoạt động hay còn gọi là “ứng xử của CP”, đóng
vai trò quan trọng trong quản lý hoạt động của DN. Theo cách phân loại này CP
được chia thành CP biến đổi, CP cố định và CP hỗn hợp.
CP biến đổi (hay biến phí) là CP thay đổi theo tỷ lệ thuận trên tổng số, không
thay đổi tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động. CP biến đổi gồm: CP NVL trực
tiếp, CP nhân công trực tiếp, CP bao bì đóng gói, hoa hồng bán hàng… CP biến đổi
tồn tại dưới nhiều hình thức ứng xử khác nhau trong hoạt động của DN, nhưng về
cơ bản được chia thành 2 loại: CP biển đổi tuyến tính (biến phí tỷ lệ) là CP biến đổi
có quan hệ tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động; CP biến đổi cấp bậc là những CP thay
đổi chỉ khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng.
CP cố định (hay định phí) là những CP không thay đổi xét về tổng số, thay đổi
tỷ lệ nghịch tính trên một đơn vị mức độ hoạt. CP cố định gồm: CP khấu hao tài sản
cố định theo phương pháp bình quân, CP quảng cáo khuyến mại, CP bảo hiểm…
Tuy nhiên, cần chú ý tới phạm vi phù hợp để xem xét tính cố định hay biến đổi của
CP mà ở đây là giới hạn năng lực hoạt động tối thiểu và tối đa trong ngắn hạn của
DN. Khi mức độ hoạt động vượt khỏi phạm vi phù hợp, định phí có thể xuất hiện
những thay đổi đột biến. Định phí tồn tại dưới nhiều hình thức ứng xử khác nhau
trong hoạt động của DN, nhưng về cơ bản được chia thành hai loại: CP cố định cấp
bậc là CP không thay đổi theo mức độ hoạt động chỉ trong một phạm vi hoạt động
thích hợp nào đó. Ở đây cần lưu ý tới sự khác nhau cơ bản giữa CP biến đổi cấp bậc
21

(1.1)
Chênh lệch giữa mức hoạt động
cao nhất và thấp nhất
CP cố định = Tổng CP – (CP biến đổi đơn vị x Mức hoạt động) (1.2)
22
Phương pháp phân tích CP này khách quan hơn phương pháp phân tích bằng
đồ thị phân tán. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ dựa vào hai cặp dữ liệu nên không
đại diện cho các mức độ hoạt động ở DN.
* Phương pháp bình phương nhỏ nhất: Phương pháp bình phương nhỏ nhất-
một phương pháp phân tích thống kê- chính xác và tinh vi hơn hai phương pháp
trên, sử dụng để xác định đường hồi qui (hàm CP). Ý tưởng của phương pháp này là
xác định một đường hồi qui từ các số liệu quan sát được sao cho tổng khoảng cách
(chính xác là tổng độ lệch bình phương – e
i
2
) từ các điểm quan sát đến đường hồi
qui là nhỏ nhất.
Đồ thị 1.1. Đường hồi qui biểu diễn CP hỗn hợp
Đường biểu diễn CP hỗn hợp có dạng: Y = a + bX. Trong đó Y là CP hỗn hợp
ước tính, a là yếu tố CP cố định và b là yếu tố CP biến đổi (đơn vị) và X là mức độ
hoạt động. Có thể xác định các hệ số a và b trong phương trình biểu diễn CP. Với n
cặp số liệu quan sát được (x
i
, y
i
), bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất, có thể
xác định các hệ số a và b:
[ ]
⇔⇒


xn
b

n
i
xb
i
y
a
∑ ∑

=
(x
i
, y
i
)
Y= a + bx
y
y
i
0
x
i
x
(1.4)
(1.5)
a + bx
i
(1.3)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status