Đề cương môn đường lối ĐCS VN câu 1-2-3-4-5-9-10-11-12-15-16-17
Hạnh Min làm và sưu tầm. chúc các tình yêu thi tốt!
www.taichinh2a.com
Câu 1:
Trình bày tác động của việc thực dân Pháp xâm lược thống trị ở Việt Nam tới
kinh tế xã hội hồi cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX?
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tư bản đã phát triển sang giai đoạn độc
quyền và nhu cầu về thuộc địa càng trở nên cấp thiết đối với tất cả các nước đế
quốc. Bằng ưu thế của các nước có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển sớm, đế
quốc Pháp (cũng như Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan…) đã nhanh chóng
thôn tính nhiều vùng đất làm thuộc địa cho mình.
Nhìn lại xã hội Việt Nam trước khi trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, chúng ta
thấy nổi lên một số đặc điểm chủ yếu như:
Thứ nhất, nền kinh tế tự nhiên (tự cấp, tự túc) chiếm địa vị chi phối toàn bộ hoạt
động của nền kinh tế.
Thứ hai, giai cấp thống trị duy nhất lúc đó là vua và địa chủ phong kiến (lực lượng
chiếm hữu đại bộ phận ruộng đất trong xã hội). Giai cấp nông dân hầu như không
có ruộng đất (chủ yếu là làm thuê cho địa chủ hoặc lĩnh canh). Ngoài hai giai cấp
cơ bản đó xã hội Việt Nam lúc này đã có sự manh nha của những giai cấp mới như:
địa chủ tư sản hoá hoặc nông dân, thợ thủ công mất việc (trở thành bộ phận đầu
tiên của giai cấp vô sản).
Thứ ba, quyền lực nhà nước tập trung trong tay vua, quan lại phong kiến và hệ
thống bộ máy trấn áp nhân dân. Quyền chiếm hữu ruộng đất và bóc lột địa tô hoàn
toàn do địa chủ, cường hào trực tiếp nắm giữ.
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp thì quan hệ sản
xuất TBCN cũng xâm nhập và dần làm biến đổi xã hội Việt Nam. Từ một nước
phong kiến nước ta trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.
So với xã hội phong kiến, đặc điểm chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc này là:
1. Quan hệ sản xuất TBCN đã xâm nhập vào, kinh tế hàng hoá và kinh tế tiền tệ
được mở rộng, từng bước đẩy lùi và thu hẹp phạm vi của nền kinh tế tự cấp, tự túc.
Một nền kinh tế không hoàn toàn là phong kiến cũng không hoàn toàn là TBCN,
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong lúc tiếp tục đối phó với hàng loạt cuộc khởi
nghĩa và đấu tranh yêu nước của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp
đã bắt đầu triển khai chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Kết quả là một
số yếu tố của thành phần kinh tế TBCN (như Ngân hàng Đông Dương, các công ty
khai thác mỏ, một số đồn điền, hãng buôn, xí nghiệp và mạng lưới giao thông
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
đường sắt, đường bộ…) đã xuất hiện. Nói đúng hơn là những thành phần này được
ghép từ ngoài vào xã hội Việt Nam cổ truyền trong điều kiện vẫn bảo tồn ở một
mức độ đáng kể những tàn dư của phương thức sản xuất phong kiến, ( thể hiện rõ
nhất là sự bảo tồn chế độ ruộng công cùng các thiết chế thượng tầng phù hợp với
nó trong các cộng đồng làng xã).
Thủ đoạn của thực dân Pháp ở Việt Nam là vẫn tiếp tục sử dụng giai cấp địa chủ
phong kiến làm chỗ dựa cho nền thống trị của chúng. Vì thế, chúng tìm mọi cách
để duy trì và cho phép phát triển mạnh thêm thành phần kinh tế của giai cấp này.
Câu 2:
Vai trò của Hồ Chí Minh trong việc chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức
cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam?
A,Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng
chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng:
- Ngày 5 - 6 - 1911, từ cảng Nhà Rồng, Nguyễn Ái Quốc làm phụ bếp trên tàu Đô
đốc Trêvin và bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm, hòa mình vào cuộc sống lao động
Pháp để tìm đường cứu nước. Từ 1911 đến 1917, Người đã đến nhà nước châu Âu,
châu Phi và châu Mĩ. Cuối năm 1917, Người trở lại Pháp sau 8 năm bôn ba và gia
nhập Đảng Xã hội Pháp vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp theo đuổi lí tưởng của
Đại Cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng và Bác ái.
- Ngày 18 - 6 - 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn
Tất Thành với tên gọi là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xai Bản yêu sách
của nhân dân An Nam. Bản yêu sách đòi chính phủ Pháp và các nước đồng minh
thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của nhân dân An Nam.
- Bản yêu sách đó đã không được Hội nghi Véc-xai chấp nhận. Sự thật đó cho thấy
trào công nhân ở các nước đế quốc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc
địa, về vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân ở các nước thuộc địa.
- Ngày 11 - 11 - 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) để trực
tiếp đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng, truyền bá lí luận cách mạng giải
phóng dân tộc vào Việt Nam. Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội và giai cấp ở Việt
Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp đã tạo sẵn điều kiện để Chủ nghĩa xã
hội chỉ còn phải làm cái việc gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi.
- Khi đến Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã tiếp xúc với các nhà cách mạng
Việt Nam đang hoạt động ở đây và chọn một số thanh niên hăng hái trong tổ chức
Tâm tâm xã, mở các lớp huấn luyện chính trị ngắn hạn để đào tạo họ thành cán bộ
cách mạng đưa về nước hoạt động. Các bài giảng của Người được tập hợp lại và in
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
thành cuốn Đường cách mệnh, hàm chứa những vấn đề cơ bản trong đường lối
chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.
- Tháng 6 - 1925, Người sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và lấy Cộng
sản đoàn làm nòng cốt. Đây là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Nhờ hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên, phong trào cách mạng ở trong nước ngày càng phát triển sôi nổi, khuynh
hướng các mạng vô sản dần dần chiếm ưu thế trong phong trào dân tộc. Đến năm
1929, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng cơ sở ở khắp ba kì.
Những hoạt động của Người từ 1911 đến 1929 có tác dụng quyết định trong việc
chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và đạo đức cho việc thành lập chính đảng của giai
cấp vô sản Việt Nam.
b. Thống nhất phong trào cộng sản, sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam:
- Sau một thời gian dài hoạt động có hiệu quả, tổ chức Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên dần dần mất vai trò lịch sử. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách
mạng trong nước đòi hỏi phải có một đảng cách mạng tiên phong đủ sức lãnh đạo
và đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Để đáp ứng nhu cầu đó, từ giữa đến cuối năm
1929, ở Việt Nam đã lần lượt xuất hiện ba tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng
sản đảng, An Nam Cộng sản đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.
+ Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (công
nghiệp, vận tải, ngân hàng…) của đế quốc pháp để giao cho chín phủ công nông
binh quản lý, tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của
công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công
nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ.
+ Về văn hoá xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, phổ
thông giáo dục theo công nông hoá.
- Về lực lượng cách mạng: công nhân và nông dân là lực lượng cơ bản, là gốc;
đồng thời phải mở rộng rãi hơn các lực lượng khác đó là: tư sản vừa và nhỏ,
trung tiểu địa chủ.
- Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam.
- Xác định mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế
giới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận cấu thành của cách mạng thế giới,
phải tranh thủ cách mạng thế giới.
2. ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng cộng sản Việt Nam và cương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng.
- Sự ra đời của Đảng đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam
đủ sức đảm đương sứ mạng lịch sử của mình lãnh đạo cách mạng Việt Nam
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
- Định hình ra được quy luật ra đời và phát triển của Đảng cộng sản ở nước ta:
Kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước dẫn tới sự ra đời cua Đảng.
- Đảng có cương lĩnh chính trị là bước vận dụng sáng tạo học thuyết chủ nghĩa
Mác-Lênin về cách mạng thuộc địa vạo thực tế Việt Nam. Vận dụng và phát
triển sáng tạo lý luận vào thực tiễn.
- Về thực tiễn: chấm dứt thời kỳ khủng hoảng và bế tắc về đường lối của phong
trào yêu nước, phong trào cách mạng Việt Nam, đã có một cương lĩnh hoàn
chỉnh, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho cách mạng Việt
giành chính quyền
Về quan hệ quốc tế: CMVN là 1 bộ phận của CMTG phải đoàn kết với vô sản
TG trước hết là vô sản Pháp và phong trào CM thuộc địa để tăng cường lực lượng
của mình
Về Đảng: Phải có 1 Đảng với đường lối chính trị đúng, kỉ luật tập trung liên hệ
mật thiết với quần chúng lấy chủ nghĩa Mác – Lenin làm gốc thì lãnh đạo mới đạt
mục đích cuối cùng là CN cộng sản
* Nhận xét:
Bản luận cương đã khẳng định lại nhiều vấn đề mà cương lĩnh đã nêu ra: đường lối
cách mạng, lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế, vai trò lãnh đạo của Đảng.
Luận cương của Trần Phú có những điểm sáng tạo hơn như đã đề ra phương pháp
cách mạng, nguyên tắc Đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Ưu điểm:
Luận cương 10/1930 làm sâu sắc nhiều vấn đề thuộc về chiến lược của CMVN
mà cương lĩnh 2/1930 đã nêu
Hạn chế:
- Luận cương đã không vạch ra được đâu là mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc
địa coi trọng vấn đề chống phong kiến không phù hợp với cách mạng Việt Nam.
- Không đề ra được mối liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh
dân tộc và bọn tay sai.
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
- Đánh giá không đúng vai trò vị trí của các giai cấp tầng lớp khác do đó không lôi
kéo được bộ phận có tinh thần yêu nước.
Nguyên nhân dẫn đến hạn chế của Luận cương:
- Do ảnh hưởng tư tưởng tả khuynh của Quốc tế cộng Sản
- Do không nắm được thực tiễn đất nước, không xác định được mâu thuẫn nào là
mâu thuẫn chủ yếu dẫn tới không xác định được tầng lớp trung gian cũng là đối
tượng của cách mạng.
So sánh Luận cương chính trị của Đảng( 10/1930) và Cương lĩnh chính
trị( 2/1930).
Bạo lực quần chúng + đấu tranh chính trị
+ đấu tranh vũ trang
Võ trang bạo động
Câu 5: Tại sao từ những năm 1936 trở đi Đảng ta có chủ trương điều chỉnh
chiến lược cách mạng? trình bày nội dung cơ bản của việc điều chỉnh này?
1. Từ 1936-1939
Đảng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng cho phù hợp với tình hình
mới.
* Nguyên nhân:
- Thế giới:
+ Chủ nghĩa phát xít ra đời và ráo riết chuẩn bị chiến tranh thế giới để chia lại thị
trường thế giới và tiêu diệt Liên Xô thành trì của phong trào cách mạng thế giới.
+ Quốc tế cộng sản triệu tập Đại hội lần thứ VII( 7-1935) tại Matxcơva:
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
++ Vạch ra nhiệm vụ cho cách mạng thế giới là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít,
chống chiến tranh, giành dân chủ, hòa bình, bảo vệ Liên Xô.
++ Lập mặt trân nhân dân rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít
++ Đối với những nước thuộc địa, mặt trận dân tộc thống nhất có tầm quan trọng
đặc biệt
+ Ở nhiều nước, mặt trận nhân dân chống chủ nghĩa phát xít lần lượt ra đời
* Nội dung chuyển hướng:
- Hội nghị Trung ương Đảng tháng 7-1936 họp tại Thượng Hải, Trung Quốc, do
Đ/C Lê hồng Phong chủ trì đã chỉ rõ:
+ Nhiệm vụ chiến lược đánh đổ đế quốc và địa chủ, phong kiến không thay đổi
nhưng nhiệm vụ, mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam lúc này là đấu tranh
chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh đế quốc,
đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình.
+ Hội nghị quyết định thành lập mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông
Dương,( sau đổi tên thành MTDCĐD) bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các
đoàn thể chính trị và tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở xứ Đông
+ Chiến tranh sẽ làm cho các nước đế quốc suy yếu.
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
+ Phong trào cách mạng thế giới phát triển nhanh chóng.
+Cách mạng nhiều nước sẽ thành công.
- Tình hình trong nước:
+ Chiến tranh đã ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta.
++ Chính phủ phản động Pháp đàn áp các lực lượng tiến bộ ở trong nước và các
thuộc địa.
++ Ở Đông Dương, chính phủ phản động Pháp điên cuồng tiến công vào ĐCSĐD
và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo. Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tù
đày.
++ Một số quyền tự do, dân chủ giành được trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu.
Hàng vạn thanh niên bị bắt sang Pháp làm bia đỡ đạn cho chúng.
++ Tháng 9-1940, Nhật vào Đông Dương, từ đó nhân dân ta bị một cổ hai tròng.
++ Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với phát xít Pháp, Nhật ngày càng gay gắt
• ND Chủ trương chiến lược mới của Đảng.
Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939, 11-1940, 5-1941 đã đề ra, bổ sung và
hoàn chỉnh chủ trương mới về vấn đề giải phóng dân tộc với một số nội dung cơ
bản sau:
- Phải đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Nhiệm vụ
chống phong kiến và các nhiệm vụ dân chủ khác phải rải ra, thực hiện từng bước
có kế hoạch, phục tùng và phục vụ nhiệm vụ chống đế quốc.
- Phải đặt quyền lợi của dân tộc lên trên quyền lợi của bộ phận, của giai cấp. Trong
điều kiện lịch sử mới,nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
giành được độc lập ,tự do thì quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm
cũng không đòi lại được.
- Vấn đề dân tộc phải được giải quyết riêng trong phạm vi từng nước dựa trên
nguyên tắc dân tộc tự quyết.
- Để thực hiện nhiệm vụ trung tâm ấy, phải tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc và
dùng và hàng xuất khẩu. Kết quả là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp.
- Không thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết Đại hội V: chưa thật sự coi
nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục vụ kịp thời
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
b. Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa từ Đại hội VI đến Đại hội X
- Đại hội VI của Đảng đã cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã
hội chủ nghĩa trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên thời kỳ quá
độ là thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu: lương thực, thực phẩm,
hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
- Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 1/1994) có
bước đột phá mới, trước hết ở nhận thức về khái niệm công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã
hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại,
dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học - công nghệ,
tạo ra năng xuất lao động xã hội cao".
- Đại hội VIII của Đảng (tháng 6/1996) nhận định nước ta đã ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá
độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép
chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại hội nêu sáu quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và định hướng
những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm còn lại
của thế kỷ XX. Sáu quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa là:
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
+ Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế; đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; dựa vào nguồn lực trong nước là chính,
đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài; xây dựng một nền kinh tế
mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời
thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Câu 10: Pt mục tiêu quan điểm của ĐCS VN về CNH-HĐH thời kỳ đổi mới?
theo anh chị cần phải có trách nhiệm j` đối với sự nghiệp đổi mới CNH-HĐH
đất nước?
Mục tiêu:
Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt hơn dân chủ
XHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Toàn bộ tổ chức và hoạt
động của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và
hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
Quan niệm:
Một là, Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi
mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời từng bước đổi mới chính trị.
Hai là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhằm tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng , hiệu lực quản lí của Nhà nước, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, làm cho hệ thống chính trị hoạt động năng động hôn, có
hiệu quả hơn, phù hợp với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước; đặc biệt
là phù hợp với yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN, của sự CNH, HĐH gắn
với kinh tế tri thức, với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Ba là, đổi mới hệ thống chính trị một cách toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước
đi, hình thức và cách làm phù hợp.
Bốn là, đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị với
nhau và với xã hội, tạo ra sự vận động cùng chiều theo hướng tiềm năng, thúc đẩy
xã hội phát triển; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Chủ trương:
Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị.
Đại hội X xác định : “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt
Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của
Nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự
chịu trách nhiêm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp.
Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -xã hội trong hệ thống chính
trị.
Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị
- xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.
Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức CT- XH, khaéc phục tình
trạng hành chính hoá, nhà nước hoá, phô trương, hình thức; nâng cao chất lượng
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
hoạt động; làm tốt công tác dân vận theo phong cách trọng dân, gần dân, hiểu dân,
học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin.
Câu 11: phân tích làm rõ thành tựu hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới
CNH-HĐH đất nước?
Bạn tham khảo Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam: thành tựu, bài
học qua 20 năm , tự tóm tắt lấy nhé các bà kon =))=)) in đậm biểu thị ý chính :D
(ĐCSVN)- Vào cuối những năm bảy mươi của thế kỷ XX do những điều kiện khắc
nghiệt của hoàn cảnh đất nước và cả do những khuyết điểm chủ quan trong lãnh
đạo và quản lý mà đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống nhân
dân gặp nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã
từng bước thử nghiệm tìm tòi con đường đổi mới để đưa đất nước phát triển.
Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõ hơn về CNXH và về thời kỳ quá
độ lên CNXH, dựa vào những kết quả bước đầu của sự đổi mới từng phần, lắng
nghe, tổng kết sáng kiến, kinh nghiệm của nhân dân, của các địa phương và cơ sở,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã
hoạch định đường lối đổi mới. Trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối đổi mới
do Đại hội VI đề ra, nhiều Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và
đặc biệt Đại hội VII (6-1991) với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội VIII (6-1996) và Đại hội IX (4-2001) đã không
ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới, làm rõ hơn nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới và xây dựng CNXH ở Việt Nam.
chủ nghĩa là để khẳng định hướng tiến lên chứ điều đó chưa có nghĩa là nền kinh tế
của ta đã hoàn toàn là kinh tế xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, ở nước ta cần thiết phải có
nhiều thành phần kinh tế phát triển bình đẳng trước pháp luật, đó là yêu cầu khách
quan. Đại hội VI khẳng định nước ta có các thành phần: kinh tế xã hội chủ nghĩa
bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa;
kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp. Đại
hội IX bổ sung thêm một thành phần nữa là kinh tế 100% vốn nước ngoài. Trong
quá trình đổi mới, 20 năm qua, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất
quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Thực
tiễn đổi mới cũng cho thấy nhiều thành phần kinh tế đương nhiên là có nhiều hình
thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng
với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc.
Cùng với đổi mới cơ cấu kinh tế, Đảng chủ trương đổi mới cơ chế quản lý dứt
khoát bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp chuyển sang hạch
toán, kinh doanh và từng bước đưa nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó chính là nền kinh
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để
xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân
dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất
mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý, phân phối.
Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và vai trò, chức
năng quản lý điều hành của Nhà nước. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước theo hướng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Củng cố sức mạnh của hệ thống chính trị. Đại
hội VI của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của
một Đảng cầm quyền, tăng cường sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo và năng lực tổ
chức thực tiễn, đổi mới phong cách làm việc, đi sâu, đi sát thực tế, sát cơ sở, gắn
bó với nhân dân. Nâng cao trình độ trí tuệ, nắm bắt và vận dụng đúng đắn quy luật
pháp dân chủ. Nghị quyết Trung ương 8B (khoá VI) 3-1990 về đổi mới công tác
quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Đảng nhấn
mạnh các quan điểm: Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; động lực
thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết
hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân; các hình thức
tập hợp nhân dân phải đa dạng; công tác vận động quần chúng là trách nhiệm của
Đảng, Nhà nước và các đoàn thể. Đảng cũng chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Mặt trận và các tổ
chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Cùng với Đảng, Nhà
nước, tổ chức Mặt trận và đoàn thể nhân dân như Tổng liên đoàn lao động, Hội
nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu
chiến binh hợp thành hệ thống chính trị. Công tác vận động quần chúng là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị ở tất cả các cấp.
Đảng chú trọng xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, tăng cường sức mạnh của
khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đổi mới. Đoàn kết các giai cấp, các
thành phần kinh tế, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, mọi tầng lớp, cá nhân yêu
nước, đoàn kết người Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài
nhằm phát huy nội lực của dân tộc Việt Nam.
Thứ năm, đổi mới chính sách đối ngoại, thực hiện đa phương hóa, đa dạng
hoá, Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trên thế giới
trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi. Xây dựng
chiến lược bảo vệ Tổ quốc phù hợp với tình hình mới. Tại Đại hội VI (12-1986),
Đảng ta đã nêu rõ chủ trương: khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới
nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao. Đi đôi với
công bố luật đầu tư, cần có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho
người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh. Luật đầu tư
nước ngoài là luật sớm nhất của thời kỳ đổi mới, được Quốc hội khoá VIII thông
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
qua ngày 29-12-1987 và có hiệu lực từ 1-1-1988. Đại hội VII của Đảng tuyên bố
chính sách đối ngoại rộng mở, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong
bước đầu hình thành trên những nét cơ bản” (Văn kiện trình Đại hội X trang
11). Nhận thức rõ hơn về mục tiêu, mô hình của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM
Nam, rõ hơn về chặng đường, bước đi khi đã hoàn thành những nhiệm vụ đề ra cho
chặng đường đầu trên của thời kỳ quá độ, cho phép chuyển sang chặng đường đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, rõ hơn về những công cụ, giải pháp
để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, rõ hơn về
những mối quan hệ đặt ra cần được giải quyết một cách đúng đắn trên con đường
đổi mới vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mà trước hết làm cho dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
20 năm đổi mới đã có cơ sở để rút ra một số bài học lớn có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn.
Đó là các bài học: trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh; đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm
phù hợp; đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai
trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái
mới; phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thác ngoại lực, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới; đổi mới và hoàn thiện
phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước
hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân
dân.
Câu 12: mục tiêu và quan điểm cơ bản về thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay?
1. Mục tiêu và quan điểm cơ bản
a) Thể chế kinh tế và thể chế kinh tế thị trường
- Thể chế kinh tế: Thể chế kinh tế nói chung là một hệ thống các quy phạm pháp
luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các
quan hệ kinh tế.Nó bao gồm các yếu tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc,
Bốn là, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn
hóa, xã hội bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
Năm là, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò của
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn tể chính trị - xã hội và nhân dân trong quản lý phát
triển kinh tế - xã hội.
c) Quan điểm về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của
kinh tế thị trường
- Đảm bảo tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế, giữa các
ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐCSVN – TAICHINH2A.COM