ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG MÔN HỌC
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
(Dành cho sinh viên khối không chuyên ngành Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHNNHN)
THÔNG TIN CHUNG VỀ MÔN HỌC
I. MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC
1. Kiến thức
(1). Nắm vững được điều kiện lịch sử, quá trình ra đời tất yếu của
Đảng – chủ thể hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam.
(2.) Hiểu nội dung cơ bản của mỗi đường lối và một số chính sách của
Đảng trong quá trình cách mạng Việt Nam.
(3). Đánh giá đường lối và hiệu quả thực hiện đường lối.
2. Kỹ năng
(1). Rèn luyện năng lực tư duy độc lập trong nghiên cứu đường lối
cách mạng của Đảng.
(2). Hình thành duy phê phán, kỹ năng phân tích, tổng hợp và đánh
giá những vấn đề liên quan đến môn học. Từ đó, vận dụng kiến thức đã học
để chủ động, tích cực nhận thức những vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội theo đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
(3). Rèn luyện kỹ năng viết, có kỹ năng làm việc cá nhân, làm việc
nhóm và trình bày kết quả nghiên cứu.
3. Thái độ
(1) Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.
(2) Quyết tâm phấn đấu thực hiện đường lối cách mạng của Đảng.
(3) Có thái độ nghiêm túc trong học tập, nghiên cứu khoa học, trong
nhận thức về cuộc sống, xã hội, tự rèn luyện bản thân trở thành người có
phẩm chất , bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trình độ chuyên môn tốt;
1
hình thành tình cảm, niềm tin vào con đường cách mạng mà dân tộc ta đã lựa
chọn.
II. THỜI LƯỢNG VÀ CÁC MÔN HỌC TIÊN QUYẾT
Nam”
- Là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về mục
tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của cách mạng Việt Nam và các
biện pháp, giải pháp trong tổ chức thực hiện.
- Đường lối cách mạng của Đảng được thể hiện qua cương lĩnh, nghị
quyết, chỉ thị của Đảng.
• Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng trong tiến
trình cách mạng Việt Nam, từ CMDTDCND đến CMXHCN.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ sự ra đời tất yếu của ĐCSVN - chủ thể hoạch định đường lối
cách mạng Việt Nam.
- Làm rõ quá trình hình thành, bổ sung, phát triển đường lối cách
mạng của Đảng.
- Làm rõ kết quả thực hiện đường lối cách mạng của Đảng trên một
số lĩnh vực cơ bản trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP MÔN
HỌC
1. Phương pháp nghiên cứu
• Cơ sở phương pháp luận
- Thế giới quan, Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các
quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận của Hồ Chí Minh và các quan điểm
của Đảng
3
• Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương
pháp lôgic, ngoài ra có sự kết hợp các phương pháp khác như phân tích, tổng
hợp, so sánh, quy nạp và diễn dịch, cụ thể hoá và trừu tượng hóa
2. Ý nghĩa của việc học tập môn học
- Trang bị cho sinh viên những hiểu biết cơ bản về sự ra đời của Đảng,
Xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc, kết cấu giai cấp thay
đổi, xuất hiện nhiều giai tầng mới; đồng thời ở một số giai tầng lại tiếp tục có sự
phân hóa:
- Giai cấp nông dân.
- Giai cấp địa chủ, phong kiến (chia làm hai bộ phận:Tầng lớp trên và
địa chủ vừa và nhỏ).
- Giai cấp tư sản (phân hóa thành tư sản dân tộc và tư sản mại bản).
- Tiểu tư sản.
- Giai cấp công nhân.
Tính chất và mâu thuẫn của xã hội thuộc địa Việt Nam
5
- Tính chất xã hội thay đổi:
+ Chính sách cai trị của thực dân Pháp đã làm thay đổi tính chất xã
hội Việt Nam.
+ Xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến độc lập đã trở thành xã
hội thuộc địa nửa phong kiến.
- Mâu thuẫn xã hội thay đổi:
+ Mâu thuẫn cơ bản vốn có trong lòng xã hội Việt Nam phong kiến là
mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến không mất đi mà vẫn tiếp
tục tồn tại.
+ Hình thành mâu thuẫn mới: Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt
Nam với thực dân Pháp xâm lược.
+ Hai mâu thuẫn đó gắn chặt với nhau, trong đó mâu thuẫn bao trùm,
gay gắt, cơ bản, chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với thực dân
Pháp và tay sai. Thái độ, vị trí các giai cấp ở Việt Nam đều bị mâu thuẫn này
chi phối.
II. NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP ĐẢNG
1. Cuộc khủng hoảng con đường cứu nước (SV tự nghiên cứu tài
liệu)
• Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến
quốc ngữ.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918 - 1930)
- Phong trào quốc gia cải lương của tầng lớp tiểu tư sản thành thị và
địa chủ lớp trên:
+ Năm 1919, phong trào tẩy chay Hoa kiều, bài trừ hàng hoá ngoại,
chấn hưng hàng nội hoá, với khẩu hiệu: “Người Việt Nam không mang vàng
đi đổ sông Ngô”, “ Người Việt Nam mua hàng Việt Nam”.
+ Năm 1923, phong trào chống độc quyền xuất khẩu gạo ở cảng Sài
Gòn của Pháp.
+ Cuộc đấu tranh chống độc quyền nước mắm (1920-1926).
+ Cuộc đấu tranh đòi mở rộng các quyền tự do, dân chủ, tham gia các
hoạt động chính trị. Tiêu biểu là Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu
(1923).
7
- Phong trào yêu nước dân chủ công khai:
+ Những phần tử tiểu tư sản yêu nước khác tập trung trong những tổ
chức như “Tâm Tâm xã” (1923), “ Việt Nam nghĩa hoà Đoàn” (1925), “Hội
phục Việt” (1925), “Đảng Thanh niên” ( 1926).
+ Họ xuất bản một số tờ báo tiến bộ như “Chuông rè”. “ L’ Annam”, “
Nước Annam trẻ”, với một loạt các nhà xuất bản như: Nam đồng thư xã,
Cường học thư xã…
- Phong trào cách mạng quốc gia tư sản:
+ Gắn liền với hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng.
+ Ra đời ngày 25-12-1927. Tiền thân là Nam đồng thư xã.
+ Lãnh tụ : Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài.
+ Thành phần: Công chức, hào lý, địa chủ, binh lính trong quân đội
+ Tư tưởng chính: Đánh đổ thực dân Pháp, phá bỏ ngôi vua, thành lập
chính quyền của người Việt Nam.
+ Địa bàn hoạt động: Đồng bằng, trung du Bắc Bộ.
+ Tiến hành các hoạt động ám sát và bị thực dân Pháp đàn áp.
+ Các dân tộc muốn được độc lập tự do thực sự phải trông cậy trước
hết vào lực lượng của bản thân mình, phải tự mình giải phóng mình (1919).
+ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
khác, ngoài con đường cách mạng vô sản (7-1920).
- 12-1920, khi bỏ phiếu tán thành thành lập ĐCS Pháp và gia nhập
Quốc tế III, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc
Việt Nam.
3. Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối
giải phóng dân tộc vào Việt Nam
• Hệ thống quan điểm về cách mạng giải phóng dân tộc của
Nguyễn Ái Quốc những năm 20 (XX)(SV tự xem lại môn Tư
tưởng HCM)
Hệ thống quan điểm và lý luận về “Đường cách mệnh” thể hiện khá
hoàn chỉnh qua các tác phẩm, bài viết của Người trong chặng đường hoạt
động từ năm 1921 đến 1927. Nội dung hệ thống quan điểm đó là:
9
- Vạch rõ bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân. Từ đó xác định,
chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động toàn thế giới, là kẻ thù trực tiếp của nhân dân các nước thuộc địa.
- Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận cách mạng của thời
đại cách mạng vô sản. Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân
dân lao động và giai cấp công nhân.
- Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng ở
“chính quốc” có quan hệ khăng khít với nhau. Phải thực hiện liên minh
chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng ở thuộc địa và “chính quốc”. Cách
mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở “chính quốc”, mà
có tính chủ động, độc lập và nó có thể thành công trước cách mạng ở “chính
quốc”.
- Cách mạng ở thuộc địa trước hết là giải phóng dân tộc, sau đó mở
đường tiến lên giải phóng hoàn toàn lao động, giải phóng con người, tức là
công nhân.
4. Sự phát triển của phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô
sản và các tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời
• Phong trào công nhân chuyển sang tự giác
- Từ năm 1920-1925, đã nổ ra 25 cuộc bãi công của công nhân, tiêu
biểu nhất là cuộc bãi công của 1000 công nhân xưởng Ba Son (Sài Gòn- 8-
1925).
- Trong hai năm 1926-1927, có 17 cuộc đấu tranh của công nhân trong
cả nước. Tiêu biểu là bãi công của công nhân nhà máy sợi Nam Định (7-
1926), đồn điền Cam Tiên (12-1926), đồn điền Phú Riềng (tháng 8, 9-1927).
- Năm 1928-1929, các cuộc đấu tranh đã thể hiện rõ rệt tinh thần đoàn
kết giai cấp, ý thức tổ chức của công nhân.
- Phong trào nông dân đến năm 1927 đã phát triển khá mạnh ở nhiều
vùng trong cả nước.
- Phong trào công nhân và phong trào nông dân đã có tác dụng hỗ trợ lẫn
nhau.
• Sự ra đời của các tổ chức cộng sản
11
Phong trào công nhân cuối những năm 20 phát triển không đồng đều,
mạnh nhất là phong trào công nhân ở Bắc Kỳ. Nắm bắt được đòi hỏi của
phong trào, những người lãnh đạo trong kỳ bộ Bắc Kỳ nhận ra sự cấp thiết
phải thành lập một ĐCS thay cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, để
tiếp tục đưa phong trào giải phóng dân tộc tiến lên. Xu thế thành lập một
ĐCS đã chín muồi.
- Tháng 3-1929, một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách
mạng thanh niên họp tại số nhà 5D Hàm Long (Hà Nội) quyết định thành lập
chi bộ cộng sản đầu tiên bao gồm 7 đồng chí.
- Đầu tháng 5-1929, tại Đại hội I của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên, đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc Kỳ đưa ra đề nghị giải tán Hội Việt Nam cách
mạng Thanh niên và thành lập ĐCS. Nhưng đề nghị đó không được chấp
mạng đầu tiên của Đảng - Cương lĩnh Hồ Chí Minh.
- Ngày 24-2-1930, Đông Dương cộng sản liên đoàn chính thức gia
nhập ĐCSVN. ĐCSVN đã hoàn tất việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt
Nam.
b.Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
- Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng bao gồm: Chính cương
vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Chương trình tóm tắt; được thông qua tại Hội
nghị thành lập Đảng.
- Cương lĩnh xác định các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
+ Phương hướng chiến lược: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
+ Về nhiệm vụ cách mạng, Cương lĩnh xác định trên những lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hóa. Các nhiệm vụ đó bao hàm cả nội dung dân tộc,
dân chủ và XHCN. Song, nổi bật là nhiệm vụ ''đánh đổ đế quốc chủ nghĩa
Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập''.
+ Lực lượng cách mạng: đoàn kết tất cả các giai cấp cách mạng, các
lực lượng tiến bộ và cá nhân yêu nước, tập trung lực lượng đánh đổ kẻ thù
chủ yếu của dân tộc là CNĐQ Pháp và tay sai, mở đường cho cách mạng
phát triển đến thắng lợi hoàn toàn.
+ Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạngthế
giới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, đứng
trong mặt trận cách mạng của các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân
thế giới, mà đội quân tiên phong của mặt trận này là Liên Xô.
+ Lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách
mạng Việt Nam. ĐCSVN là đội tiên phong của giai cấp vô sản và là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
13
2. Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng (SV tự nghiên cứu tài
liệu)
- Sự ra đời của Đảng chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta đã trưởng
5. Trịnh Nhu (2000), “Nguyễn Ái Quốc với sự kiện thành lập
ĐCSVN”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3, tháng 3, tr. 30-34.
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), Bản án chế độ thực dân Pháp, Tập 2,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 21-128.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), Đường cách mệnh, Tập 2, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 257-318.
8. Lê Ngọc (1997), “Đường cách mệnh”- tác phẩm đặt nền móng
đường lối cứu nước mới”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 6, tr. 10-13.
9. Song Thành (2000), “Những cống hiến lịch sử của Nguyễn Ái
Quốc vào quá trình thành lập ĐCSVN”, Tạp chí Cộng sản, số 3, tháng 2, tr.
22-25.
10. Phạm Xanh (1990), Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin ở Việt Nam (1921-1930), Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội.
15
Chương II
ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN
(1930-1945) (4 tiết)
I. CHỦ TRƯƠNG ĐẤU TRANH TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1939
1. Trong những năm1930-1935
a. Luận cương chính trị tháng 10-1930
Nội dung của Luận cương
- Luận cương chỉ rõ: mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt ở Đông
Dương.
- Phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương:
+ Lúc đầu cách mạng Đông Dương là một cuộc cách mạng tư sản dân
quyền, có tính chất thổ địa và phản đế, tư sản dân quyền cách mạng là thời
kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng.
+ Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển,
bỏ qua thời kỳ tư bản mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền: Đánh đổ phong kiến,
Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm
nền tảng tư tưởng, đại biểu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông
Dương, đấu tranh để đạt được mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
Ý nghĩa của Luận cương
- Luận cương chính trị khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về
chiến lược cách mạng mà Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã nêu
ra.
- Bên cạnh mặt thống nhất cơ bản giữa Luận cương chính trị với
Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt có mặt khác nhau:
+ Luận cương chính trị không nêu ra được mâu thuẫn chủ yếu là mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp, từ đó không đặt nhiệm vụ
chống đế quốc lên hàng đầu.
+ Đánh giá không đúng vai trò cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản,
phủ nhận mặt tích cực của tư sản dân tộc và chưa thấy được khả năng phân
hoá, lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ trong cách mạng giải phóng
dân tộc, từ đó Luận cương đã không đề ra được một chiến lược liên minh
dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và
tay sai.
- Nguyên nhân chủ yếu của những mặt khác nhau:
17
+ Luận cương chính trị chưa tìm ra và nắm vững những đặc điểm của
xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam.
+ Do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đề dân tộc và giai cấp
trong cách mạng ở thuộc địa, và lại chịu ảnh hưởng trực tiếp khuynh hướng
“tả” của Quốc tế Cộng sản và một số đảng cộng sản trong thời gian đó.
Chính vì vậy, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10-1930 đã không
chấp nhận những quan điểm mới, sáng tạo, độc lập tự chủ của Nguyễn Ái
Quốc được nêu trong Đường Cách mệnh, Chánh cương vắn tắt và Sách lược
vắn tắt.
b. Chủ trương khôi phục tổ chức đảng và phong trào cách mạng. (SV tự
thực hiện những nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến và tiến lên thực
hiện chủ nghĩa xã hội. Để chuẩn bị cho cuộc võ trang bạo động sau này,
Đảng phải đề ra và lãnh đạo quần chúng đấu tranh giành những quyền lợi
thiết thực hàng ngày, rồi dần đưa quần chúng tiến lên đấu tranh cho những
yêu cầu chính trị cao hơn. Những yêu cầu chung trước mắt của đông đảo
quần chúng được nêu lên trong Chương trình hành động:
Thứ nhất, đòi các quyền tự do tổ chức, xuất bản, ngôn luận, đi lại
trong nước và ra nước ngoài.
Thứ hai, bỏ những luật hình đặc biệt đối với người bản xứ, trả tự do
cho tù chính trị, bỏ ngay chính sách đàn áp, giải tán Hội đồng đề hình.
Thứ ba, bỏ thuế thân, thuế ngụ cư và các thứ thuế vô lý khác.
Thứ tư, bỏ các độc quyền về rượu, thuốc phiện và muối.
Ngoài ra Chương trình hành động của Đảng còn đề ra những yêu cầu
cụ thể riêng cho từng giai cấp và tầng lớp nhân dân.
Những yêu cầu chính trị trước mắt cùng với những biện pháp tổ chức
và đấu tranh do Đảng vạch ra trong Chương trình hành động năm 1932 phù
hợp với điều kiện lịch sử lúc bấy giờ. Nhờ vậy, phong trào cách mạng của
quần chúng và hệ thống tổ chức của Đảng đã nhanh chóng được khôi phục.
- Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao
(Trung Quốc). Đại hội khẳng định thắng lợi của cuộc đấu tranh khôi phục
phong trào cách mạng và hệ thống tổ chức Đảng. Đại hội đề ra ba nhiệm vụ
trước mắt là: củng cố và phát triển Đảng; đẩy mạnh cuộc vận động thu phục
quần chúng; mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống chiến tranh, ủng hộ
Liên bang Xô viết, ủng hộ cách mạng Trung Quốc…
2. Trong những năm 1936-1939
a. Hoàn cảnh lịch sử (SV tự nghiên cứu tài liệu)
19
- Hậu quả trầm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm
1929-1933 và tình trạng tiêu điều tiếp theo trong các nước thuộc hệ thống tư
bản chủ nghĩa đã làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản thêm gay
20
bình; "lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi chính để bao gồm các giai
cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau,
các dân tộc ở xứ Đông Dương để cùng nhau tranh đấu để đòi những điều dân
chủ đơn sơ"
+ Phải chuyển hình thức tổ chức bí mật không hợp pháp sang các hình thức
tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp,
nhằm làm cho Đảng mở rộng sự quan hệ với quần chúng, giáo dục, tổ chức
và lãnh đạo quần chúng đấu tranh bằng các hình thức và khẩu hiệu thích
hợp.
+ Phải nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ,
phản đế và điền địa trong cách mạng ở Đông Dương.
• Nhận thức mới của Đảng về nhiệm vụ dân tộc, dân chủ:
Trong văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới công bố tháng
10-1936, Đảng nêu một quan điểm mới: "Cuộc dân tộc giải phóng không
nhất thiết phải kết chặt với cuộc cách mạng điền địa. Nghĩa là không thể nói
rằng: muốn đánh đổ đế quốc cần phải phát triển cách mạng điền địa, muốn
giải quyết vấn đề điền địa thì cần phải đánh đổ đế quốc. Lý thuyết ấy có chỗ
không xác đáng". Nói tóm lại, nếu phát triển cuộc tranh đấu chia đất mà
ngăn trở cuộc tranh đấu phản đế thì phải lựa chọn vấn đề nào quan trọng hơn
mà giải quyết trước. Nghĩa là chọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập
trung lực lượng của một dân tộc mà đánh cho được toàn thắng. Đó là nhận
thức mới phù hợp với tinh thần trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của
Đảng, bước đầu khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930.
- Tiếp theo Hội nghị 7/1936, các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng họp trong năm 1937, 1938 và 1939 đã tiếp tục giải quyết mối
quan hệ giữa mục tiêu chiến lược với mục tiêu cụ thể trước mắt của cách
mạng, đã đặt ra nhiệm vụ chính trị cụ thể của cách mạng trong một hoàn
cảnh cụ thể, biết tập hợp rộng rãi những lực lượng chính trị dù là bé nhỏ, bấp
bênh, tạm thời, sử dụng các hình thức tổ chức và đấu tranh linh hoạt, phù
- Căn cứ vào tính chất cách mạng Đông Dương đã có sự thay đổi, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ sáu (11-1939), Hội
nghị lần thứ bảy (11-1940), và Hội nghị lần thứ tám (5-1941). Trên cơ sở
nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới lần thứ hai và căn cứ
vào tình hình cụ thể ở trong nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã
quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược như sau:
22
+ Một là, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Tạm gác lại
vấn đề “ruộng đất dân cày”
+ Hai là, tăng cường đoàn kết các lực lượng cho cuộc đấu tranh giải
phóng.
+ Ba là, thay đổi hình thức đấu tranh, quyết định xúc tiến chuẩn bị
khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta
trong giai đoạn hiện tại.
Bên cạnh đó, Ban Chấp hành Trung ương còn đặc biệt chú trọng tới
công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của
Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ
công vận, nông vận, binh vận, quân sự và đẩy mạnh công tác vận động quần
chúng.
c. Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
Đường lối gương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên hàng đầu, tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu nước
trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng ở cả
nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ
trang, là ngọn cờ dẫn đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi trong
sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập cho dân tộc và tự do cho
nhân dân.
2. Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
a. Phát động Cao trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi nghĩa
từng phần
kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh để phía sau sơ hở. Cũng có thể là
cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật
được thành lập, hoặc Nhật bị mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn
chinh Nhật mất tinh thần.
Đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận (SV
tự nghiên cứu)
- Từ giữa tháng 3-1945 trở đi, Cao trào kháng Nhật cứu nước đã diễn
ra rất sôi nổi, mạnh mẽ và phong phú cả về nội dung và hình thức.
+ Phong trào đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra
trong nhiều nơi ở vùng thượng du và trung du Bắc Kỳ. Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân phối hợp với lực lượng chính trị
của quần chúng nhân dân giải phóng hàng loạt xã, châu, huyện thuộc các
tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang.
24
+ Ở Bắc Giang, quần chúng nổi dậy thành lập Uỷ ban dân tộc giải
phóng ở nhiều làng. Đội du kích Bắc Giang được thành lập. Ở Quảng Ngãi,
cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Ba Tơ. Đội du kích Ba Tơ được thành lập.
- Giữa lúc Cao trào kháng Nhật cứu nước đang dâng lên mạnh mẽ,
ngày 15-4-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân
sự cách mạng Bắc Kỳ tại Hiệp Hoà (Bắc Giang). Hội nghị nhận định: tình
thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần
kíp trong lúc này. Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây
dựng căn cứ địa kháng Nhật để chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa cho kịp thời
cơ. Hội nghị đã quyết định thống nhất các lực lượng vũ tranh sẵn có thành
Việt Nam giải phóng quân; quyết định xây dựng bảy chiến khu trong cả
nước và chủ trương phát triển hơn nữa lực lượng vũ trang và nửa vũ trang…
- Trong tháng 5, 6-1945, các cuộc khởi nghĩa từng phần liên tục nổ ra
và nhiều chiến khu được thành lập ở cả ba miền. Ở khu giải phóng và một số
địa phương, chính quyền nhân dân đã hình thành, tồn tại song song với
chính quyền tay sai của phát xít Nhật.