Đề tài 1 văn hóa kinh doanh mỹ và bài học cho doanh nghiệp VN - Pdf 22

Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA THƯƠNG MẠI - DU LỊCH - MARKETING

BÀI TẬP NHÓM MÔN: QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: “PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA MỸ
ĐẾN KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ RÚT RA BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM”
GVHD: ThS. TRƯƠNG THỊ MINH LÝ
Danh sách thành viên nhóm: MSSV
1. BÙI THỊ THƠM 33131020833
2. NGUYỄN MINH NGUYỆT 33131021207
3. NGUYỄN HỒ TỐ DIỄM 33131021968
4. HUỲNH QUỐC NGHIÊM 33131022343
Trang 1
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
Danh sách các thành viên:
Phần nhận xét của giảng viên:
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………….
Trang 2
STT Họ & Tên Mã số SV Ký tên
1 Bùi Thị Thơm 33131020833
2 Nguyễn Hồ Tố Diễm 33131021968
3 Nguyễn Minh Nguyệt 33131021207

hóa, đặc biệt là một thị trường năng động như Hoa Kỳ, việc cập nhật thông tin và tìm hiểu sức
ảnh hưởng của nó là một việc rất cần thiết. Chính vì vậy nhóm quyết định chọn đề tài “Phân
tích ảnh hưởng của môi trường văn hóa Mỹ đến kinh doanh quốc tế và rút ra bài học kinh
nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam khi kinh doanh tại Mỹ” để nghiên cứu.
Trang 4
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
1. Môi trường văn hóa
1.1. Khái niệm môi trường văn hóa
Theo định nghĩa văn hoá của UNESCO, trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá ngày nay có thể
coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách
của một xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương,
những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và
những tín ngưỡng.
Văn hoá là những giá trị có thể học hỏi, chia sẻ và liên hệ mật thiết với nhau, nó cung cấp
những định hướng cho các thành viên trong xã hội. Những định hướng này cung cấp những giải
pháp cho những vấn đề mà xã hội cần giải quyết.
Văn hoá được hiểu là tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ, niềm tin, nghệ thuật, đạo
đức, luật pháp, phong tục và tất cả khả năng khác mà con người có được. Văn hoá quy định
hành vi của mỗi con người, thông qua mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Do có sự khác nhau về nền văn hoá đang tồn tại giữa các quốc gia, cho nên các nhà kinh
doanh phải sớm có những quyết định có hay không tham gia kinh doanh ở môi trường đó. Điều
này trong một chừng mực nhất định tuỳ thuộc vào sự chấp nhận của doanh nghiệp đối với môi
trường văn hoá nước ngoài. Sự khác nhau về văn hoá dẫn đến sự khác nhau trong mô hình quản
lý của các doanh nghiệp.
1.2. Các yếu tố văn hóa
 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và phong cách tư duy. Nó là sản phẩm của văn
hoá và là một nhân tố cấu thành của văn hoá. Nó cung cấp cho các nhà sản xuất kinh doanh một
phương tiện quan trọng để giao tiếp trong quá trình kinh doanh quốc tế. Đối với các công ty đa

Irắc, Xiri hoặc đem thịt bò đến bán ở Ên Độ thì đó là một điều nguy hiểm, vì những sản phẩm
đó theo tập quán, tôn giáo thì các quốc gia này không tiêu dùng. Nếu nắm bắt được thị hiếu, tập
quán của người tiêu dùng, doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện mở rộng khối lượng cầu một
cách nhanh chóng. Chính thị hiếu và tập quán của người tiêu dùng mang đặc điểm riêng của
từng vùng, từng châu lục, từng dân téc và chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, lịch sử, tôn
giáo.
1.3. Ảnh hưởng của môi trường văn hóa đối với hoạt động kinh doanh quốc tế
Môi trường kinh doanh của một quốc gia bao gồm 4 yếu tố: văn hóa, chính trị, luật pháp
và kinh tế. Bốn yếu tố này nói chung và văn hóa nói riêng đều có ảnh hưởng đến các hoạt động
kinh tế quốc tế, và ảnh hưởng đó không phải là gián tiếp, mà chúng liên quan mật thiết đến kinh
tế quốc tế. Rất nhiều sai lầm trong kinh doanh quốc tế bắt nguồn trực tiếp từ sự thiếu hiểu biết
về những yếu tố này, trong đó nghiêm trọng nhất là sự thiếu hiểu biết về văn hóa. Bởi vì, mỗi
nước đều có những tập tục, quy tắc, kiêng kị riêng. Chúng được hình thành theo truyền thống
văn hoá của mỗi nước và có ảnh hưởng to lớn đến tập tính tiêu dùng của khách hàng nước đó.
Giua các nền văn hóa cũng có sự khác biệt về quản lý nhân lực, chính sách Marketing…
1.3.1. Ảnh hưởng của văn hóa đến tư duy
Trang 6
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
Trong số những khía cạnh quan trọng của cuộc sống có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt
động kinh doanh, người ta thường có quan điểm khác nhau về văn hóa đối với thời gian, công
việc và thành công, với những thay đổi văn hóa. Chúng ta cùng xem xét những khía cạnh này.
 Quan điểm về thời gian
Người dân ở nhiều nền văn hóa thuộc Châu Mỹ La tinh và vùng Địa Trung Hải khá tùy
tiện về mặt thời gian. Họ có một thời gian biểu linh hoạt và thích hưởng thụ thời gian của họ
hơn là hy sinh nó vì một tính hiệu quả cứng nhắc. Chẳng hạn như các doanh nhân ở đó thường
đến muộn hơn giờ hẹn và thích dành thời gian để xây dựng niềm tin cá nhân trước khi bàn đến
công việc. Đương nhiên là điều đó khiến cho công việc tốn nhiều thời gian hơn so với ở Hoa Kỳ
hay ở Bắc Âu. Trái lại, người Nhật và người Mỹ thường đến rất đúng hẹn, có một lịch trình làm
việc chặt chẽ và làm việc nhiều giờ liền. Sự nhấn mạnh về việc sử dụng thời gian một cách hiệu
quả thể hiện giá trị tiềm ẩn về làm việc vất vả ở cả hai quốc gia này. Tuy nhiên, đôi khi người

Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
Một yếu tố văn hóa có ảnh hưởng rõ rệt đến giao tiếp trong hoạt động ngoại thương chính
là ngôn ngữ. Hiểu biết về ngôn ngữ và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ thành thạo của thương nhân
là một thuận lợi hết sức to lớn trong việc giao tiếp với các thương gia nước ngoài, cũng như
trong việc tìm hiểu từ phong tục tập quán, thói quen làm việc, nhu cầu tiêu dùng cho đến môi
trường chính trị, luật pháp của nước mà họ có quan hệ buôn bán. Ngược lại, sự bất đồng về ngôn
ngữ đôi khi là rào cản rất lớn trong việc giao tiếp với những thương nhân và doanh nghiệp nước
ngoài. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng mẹ đẻ vẫn có thể hiểu lầm nhau, bởi thế giao
tiếp bằng ngoại ngữ lại càng khó khăn hơn. Nếu năng lực ngoại ngữ hạn chế, các thương nhân
có thể gặp khó khăn trong khi đàm phán hoặc trao đổi ý tưởng kinh doanh, dẫn đến hiểu lầm lẫn
nhau và gây ra sự trì hõan trong hoạt động buôn bán song phương hay hợp tác kinh doanh.
Hiện nay, ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất trong giao tiếp quốc tế là tiếng Anh, tuy
nhiên việc biết tiếng địa phương vẫn là một thuận lợi, bởi phần lớn mọi người chuộng sự khác
biệt trong ngôn ngữ riêng của họ và việc nói tiếng địa phương có thể hình thành mối quan hệ tốt,
rất quan trọng trong giao tiếp thương mại. Thông thường, doanh nghiệp hay nhà sản xuất không
hiểu tiếng địa phương có thể phạm sai lầm do dịch không chính xác. Ví dụ, hãng General
Motors đã gặp khó khăn khi đưa ra loại xe mới mang tên Chevrolet Nova ở thị trường Puerto
Rico. Khi dịch sang tiếng Tây Ban Nha thì Nova có nghĩa là ngôi sao, nhưng nếu nói như “no
va” thì lại có nghĩa là “nó không đi” do đó hãng General Motors đã phải đổi tên loại xe này
thành Caribe.
 Giao tiếp bằng ngôn ngữ không lời
Bên cạnh những thông điệp được trình bày ra rằng qua ngôn từ thì còn phải lưu ý đến
những thông điệp ẩn sau ngôn ngữ. Việc không nắm được những thông điệp ngoài ngôn từ của
người đối thoại có thể gây nên những nhầm lẫn đáng tiếc. Việc hiểu ngôn ngữ không lời của một
nền văn hóa giúp chúng ta tránh được việc gửi đi những thông điệp không dự kiến hoặc gây
phiều hà. Ở Mỹ, khoảng cách theo phong tục mà các bên tham gia thảo luận về kinh doanh phải
từ 5 đến 8 bước chân, trong khi đó ở Mỹ Latin khoảng cách này là 3 đến 5 bước. Kết quả là
nhiều người Bắc Mỹ cảm nhận một cách không ý thức rằng người Mỹ Latin đang “chiếm vị trí
con người họ” và có thể lùi khỏi suốt cuộc nói chuyện.
Việc tặng quà là một phần của giao tiếp trong đời sống hàng ngày cũng như trong kinh

 Văn hóa quyết định mẫu mã sản phẩm: cùng một loại sản phẩm khi được bán ở các địa
phương, các nền văn hoá khác nhau và hướng tới những đối tượng người tiêu dùng khác nhau
thì phải có những đặc điểm đặc trưng riêng. Những đặc trưng đó được quy định bởi thị hiếu,
quan niệm và các đặc điểm khác nhau của từng nền văn hoá. Ví dụ, ở Việt Nam xe máy là
phương tiện đi lại phổ biến, người ta dùng nó để di chuyển trong thành phố, trên những con
đường nhiều chỗ rẽ, trong những ngõ nhỏ và sâu. Vì thế, xe máy sản xuất cho thị trường tiêu
dùng Việt Nam phải là loại xe có phân khối nhỏ, kích thước hợp lý để tiện đi lại, tiết kiệm nhiên
liệu và không chiếm nhiều chỗ trong những ngôi nhà nhỏ hẹp. Trong khi đó, xe máy sản xuất
hướng tới người sử dụng ở châu Âu hay châu Mỹ lại phải là xe máy phân khối lớn vì chúng
được sử dụng làm phương tiện thể thao hoặc để di chuyển trên đường cao tốc.
 Văn hóa ảnh hưởng đến việc phân phối sản phẩm: tập quán mua sắm của người tiêu
dùng ở các nên văn hoá khác nhau ảnh hưởng đến khâu phân phối trong kinh doanh. Các doanh
nghiệp khi tiếp cận một thị trường mới cần tìm hiểu thói quen mua sắm tại thị trường đó để lựa
chọn hình thức phân phối hiệu quả nhất. Người Mỹ thường thích mua hàng ở các siêu thị hoặc
các trung tâm buôn bán lớn (shopping mall). Họ thường dành dịp cuối tuần để đi mua sắm nên
việc tất cả các loại hàng hoá cùng có mặt trong một địa điểm bán hàng khiến họ cảm thấy thuận
tiện. Hơn nữa, do phần lớn các gia đình Mỹ đều có ô tô riêng nên việc mua sắm một khối lượng
hàng lớn là tiện lợi đối với họ. Trái lại, người Việt Nam lại thích mua sắm ở gần nơi ở để không
phải đi xa, và khi nào cần gì là có thể mua được ngay. Phần lớn người Việt Nam không có thói
quen mua sắm một số lượng hàng lớn để dùng trong một thời gian dài. Chỉ với những hàng hóa
có giá trị lớn thì họ mới đến các đại lý hoặc các trung tâm phân phối để mua, còn với những tiêu
dùng hàng ngày thì họ thích đến các cửa hàng tạp hoá hơn. Người Nhật thì lại thích những cửa
hàng tiện lợi mở cửa 24/24 giờ.
Trang 9
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
 Văn hóa ảnh hưởng đến giá cả: quan niệm về giá cả và chất lượng hàng hoá của người
tiêu dùng có tác động không nhỏ đến chiến lược giá của doanh nghiệp. Người Việt Nam thích
hàng hoá có chất lượng cao nhưng giá phải thấp, trong khi với người Nhật thì hàng hóa giá thấp
chưa chắc đã thu hút được họ. Người Nhật quan niệm giá cao đồng nghĩa với hàng hoá tốt,
thương hiệu được nhiều người biết đến, còn giá thấp hàm ý chất lượng không cao. Doanh nghiệp

Jordani, Pakistan và Cộng hịa A-rập. Điều đó dẫn tới việc hàng hóa thường được đóng gói màu
xanh lá cây để lợi dụng thông điệp về màu sắc này. Ngược lại, một loạt các nước châu á, màu
xanh lá cây thường gây liên tưởng tới sự ốm yếu.
Như vậy, chúng ta thấy rằng văn hóa có vai trò không nhỏ trong kinh doanh nói chung và
hoạt động ngoại thương nói riêng.
Trang 10
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
2. Ảnh hưởng của môi trường văn hóa Mỹ đến hoạt động kinh doanh quốc tế
2.1. Môi trường văn hóa Mỹ
Nền văn hoá của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thật đa dạng, phong phú, cũng giống như một
cây xanh cao to, gồm nhiều cành, nhánh và dĩ nhiên là chúng mọc xúm xít chung quanh thân
hình chính, làm nên diện mạo đầy đủ cho cây xanh đó.
Tuy bắt nguồn từ văn hoá Tây Âu là chính nhưng khi hình thành phát triển thì văn hoá
Mỹ thể hiện là một nền văn hoá đa dạng – phức tạp do gần 300 năm hấp thụ được ở những
người nhập cư và tỵ nạn từ khắp thế giới, tức là xã hội Mỹ có nhiều nền văn hoá và các nhánh
văn hoá phụ.
2.1.1. Ngôn ngữ và bản sắc dân tộc
Theo số liệu của Bộ lao động và thương mại nêu trong cuốn sách “một thế kỷ tăng trưởng
dân số”, cho biết: Khi người Anh đến Mỹ nhập cư ngày một gia tăng chiếm 60 đến 80% dân số
Mỹ thì 13 thuộc địa đầu tiên là do người Anh cai trị. Luật pháp, cơ cấu tổ chức chính quyền, đời
sống văn hoá xã hội thuộc địa Mỹ chủ yếu mang đặc điểm Anglo – saxon. Tiếng Anh là ngôn
ngữ được sử dụng ở tất cả mọi nơi trừ những cộng đồng “nước ngoài” biệt lập.
Cho đến tận ngày nay, nước Mỹ vẫn chưa có ngôn ngữ chính thức, 1/3 số bang lấy tiếng
Anh làm ngôn ngữ chích thức, 2/3 số bang còn lại coi tiếng Mỹ hoặc không coi ngôn ngữ nào là
chícnh thức. Riêng bang đảo Hawai lại tuyên bố có hai ngôn ngữ chính thức tiếng Anh và tiếng
Hawai. Việc ủng hộ tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức cũng khác nhau. Tuy nhiên, trong kinh
doanh quốc tế, tiếng Anh là ngôn ngữ chính được sử dụng ở tất cả mọi nơi trừ những cộng đồng
“nước ngoài” biệt lập.
Có khoảng 337 ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ bằng dấu tại Hoa Kỳ mà trong đó khoảng 176
là có nguồn gốc bản địa. 52 ngôn ngữ nói trong lãnh thổ của Hoa Kỳ ngày nay đã tuyệt chủng

2.1.3. Tính cách, lối sống và suy nghĩ của con người Mỹ
Khác với một số nền văn hóa khác, nhất là văn hóa Châu Á, nhìn chung, người Mỹ rất coi
trọng tự do cá nhân và tính tự lập. Gia đình, cộng đồng, tôn giáo, hoặc tổ chức là thứ yếu so với
các quyền cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân này cũng dẫn đến một tính cách nổi bật của người Mỹ là
cạnh tranh.
Phong cách chung của doanh nhân Mỹ là ít chú ý đến nghi lễ, đi thẳng vào vấn đề, và
muốn có kết quả nhanh. Trong đàm phán, người Mỹ thường xác định trước và rõ mục tiêu cần
đạt được, chiến lược và chiến thuật đàm phán, và dùng số liệu để chứng minh cho các luận điểm
của mình. Họ muốn dành chiến thắng về phần mình, song cũng sẵn sàng thỏa hiệp trên cơ sở đôi
bên cùng có lợi. ở Hoa Kỳ, “có đi có lại” là nguyên tắc quan trọng trong đàm phán chính trị
cũng như trong kinh doanh.
Người Mỹ thích nói thẳng, rõ ràng, và dễ hiểu. Họ không thích kiểu nói vòng vo, xa xôi,
hoặc ví von. Nhìn chung, khi người Mỹ nói “được” thì có nghĩa là được và “không được” có
nghĩa là không được. Người Mỹ không ngại ngùng khi trả lời “tôi không biết” nếu như họ không
biết về vấn đề mà bạn quan tâm, hoặc “tôi không phụ trách việc này” nếu như vấn đề bạn quan
tâm không trong phạm vi trách nhiệm của họ. Tuy nhiên, người Mỹ thường sẵn sàng chỉ cho bạn
biết bạn phải hỏi ai hoặc tìm ở đâu để có những thông tin mà bạn cần, hoặc ai là người phụ trách
việc mà bạn quan tâm.
Tính thẳng thắn và sự lịch thiệp cũng có mức độ khác nhau tuỳ theo vùng. Người New
York nổi tiếng là trực tính, và thậm chí hơi thô bạo nếu so sánh với văn hóa Châu á. Người ở
vùng Trung Tây cũng thẳng thắn nhưng thường lịch sự hơn nhiều. Người California không phải
lúc nào cũng nói đúng ý nghĩ của họ. Ví dụ ở Los Angeles – miền đất của những giấc mơ - nếu
ai đó nói với bạn “Tôi sẽ trở lại vấn đề này với bạn” thì cũng có thể là họ sẽ làm như vậy thật,
song cũng có thể họ ngụ ý là “Bạn không có cơ hội”.
Nhìn chung, người Mỹ không có thói quen nói hoặc cười to trong khi ăn uống hoặc ở nơi
công cộng. Họ rất tự giác xếp hàng đợi đến lượt mình khi có từ hai người trở lên, và không có
thói quen chen ngang hàng. Tại cửa ra vào thang máy, tầu điện ngầm, hoặc xe buýt, người ở
ngoài thường đợi cho người ở trong ra hết rồi mới vào. Người Mỹ có thói quen cám ơn khi được
người khác giúp đỡ dù chỉ là một việc rất nhỏ như nhường đường chẳng hạn.
 Thời gian là tiền bạc

Mỗi người là một cá nhân tự do. Người Mỹ không tin vào lý tưởng hoặc phong cách
chung. Cá nhân và biểu tượng cá nhân thường được tôn kính và khuyến khích.
Sự cạnh tranh tạo ra những con người tốt nhất và công việc tốt nhất. "Chỉ có những sinh
vật nào khoẻ nhất, tốt nhất mới có thể tồn tại sau cuộc cạnh tranh sinh tồn”.
Chỉ có bạn mới là người quyết định cuộc sống của bạn sẽ như thế nào và tương lai của
bạn ra sao. Người Mỹ thường không tin vào sự may rủi hoặc số phận. họ rất tự hào về thành tựu
mà cá nhân đạt được.
Sự thay đổi là một điều cần thiết và tốt đẹp. Nó sẽ mang lại sự tiến bộ và cải tiến. Truyền
thống cũ thường không được đánh giá cao ở Mỹ như các nước khác.
Tóm lại, khi giao dịch thương mại người Mỹ thường nghĩ thẳng, nói thẳng và rất có tinh
thần cạnh tranh. Doanh nghiệp Mỹ nhìn chung mạnh dạn và nhanh chóng đi vào những lĩnh
vực kinh tế mới có khả năng mang lại lợi nhuận trước mắt cao. Nền kinh tế Mỹ từng đi đầu
Trang 13
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
trong quá trình biến đổi kết cấu, nâng cao tỷ trọng công nghiệp và sau nữa là tỷ trọng của khu
vực dịch vụ. Cùng với nét văn hoá đề cao cá nhân ở phần trên, mạo hiểm và thực dụng góp
phần thúc đẩy sự bành trướng quan hệ thị trường ở Mỹ. Hoạt động kinh tế Mỹ đề cao lợi ích
ngắn hạn…và do đó, thiên về tầm nhìn ngắn hạn.
Nếu so sánh với các nước Tây Âu như Pháp, Anh, Italia thì có thể nói cuộc sống ở Mỹ
gấp gáp hơn, văn hoá Mỹ mang tính thương mại cao hơn và có nhiều biểu hiện của chủ nghĩa
cực đoan. Về phương diện nào đó, văn hoá Mỹ đồng cảm với chủ trương của các nhà vạch chính
sách Mỹ là khuếch trương một số khía cạnh văn hoá Mỹ, lối sống Mỹ ra các khu vực khác trên
thế giới, làm cho văn hoá Mỹ chiếm vị trí thượng phong, được hoan nghênh và hỗ trợ cho kỳ
vọng nước Mỹ luôn mạnh nhất thế giới, chỉ huy được các quốc gia khác, mọi quyền lợi (kể cả
văn hoá) của họ phải ít nhiều phục vụ cho chủ nghĩa thực dụng của Mỹ.
Ta có thể thấy sự khác biệt giữa người Mỹ và người Á Đông qua các bảng sau:
NĂM GIÁ TRỊ CON NGƯỜI QUAN TRỌNG NHẤT
Người Á Đông Người Mỹ
1. Cần cù 1. Tự lực cánh sinh
2. Hiếu học 2. Thành đạt cá nhân

và gay gắt. Người Mỹ không sợ cạnh tranh mà trái lại lao vào cuộc cạnh tranh khốc liệt. Doanh
nghiệp Mỹ luôn luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi làm thế nào để trở nên cạnh tranh hơn, bởi họ không
chỉ tranh giành miếng bánh thị phần với các doanh nghiệp trong nước mà còn với các công ty,
các tập đoàn của Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ…đang mở rộng thị trường tại Mỹ. Bản
thân việc cạnh tranh là điều kiện không thể thiếu để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển, điều
đáng nói là ở đây cạnh tranh trong kinh doanh ở Mỹ được đẩy lên đến mức độ khốc liệt. Thị
trường Mỹ là mảnh đất màu mỡ, quy tụ các công ty và doanh nghiệp có tiềm lực lớn, năng động,
luôn luôn muốn bành trướng thị phần và thôn tính đối thủ. Nếu muốn tồn tại và phát triển ở thị
trường này, tính cạnh tranh cao phải trở thành phẩm chất cơ bản của doanh nghiệp.
Các công ty cạnh tranh với nhau khốc liệt, tìm cách chiêu mộ nhân tài, lấy thông tin và bí
quyết kĩ thuật của công ty khác. Họ luôn tìm cách để kiếm ra nhiều tiền hơn với chi phí ít hơn.
Mỹ là một trong những nước dẫn đầu thế giới về số bằng phát minh và sáng chế mỗi năm. Sự
cạnh tranh khốc liệt thể hiện ở xu thế mua lại và sáp nhập diễn ra mạnh mẽ ở Mỹ. Các công ty
sáp nhập với nhau để trở nên mạnh hơn nhằm thôn tính thị trường hoặc để tránh bị mua lại bởi
các đối thủ cạnh tranh mạnh hơn. Điển hình cho xu thế mua lại sáp nhập ở Mỹ là Microsoft. Từ
khi thành lập, Microsoft – công ty máy tính nổi tiếng của Mỹ đã thực hiện hơn 131 vụ mua lại.
Trung bình Microsoft thôn tính sáu công ty một năm thông qua mua lại. Bằng cách này,
Microsoft đã xóa sổ các đối thủ cạnh tranh và biến sức mạnh các công ty bị mua lại thành nguồn
lực phát triển của mình.
Sự cạnh tranh diễn ra không chỉ ở bên ngoài doanh nghiệp mà ngay ở chính bên trong
doanh nghiệp. Người lao động ở Mỹ được trả lương theo kết quả làm việc nên họ tập trung phát
triển kỹ năng và trình độ của mình. Họ chuyên chú vào phát triển cá nhân để cạnh tranh hơn là
quan tâm đến mối liên hệ với tập thể. Mối liên hệ giữa những người lao động trong một cơ sở
kinh doanh không chặt chẽ và gắn bó theo kiểu Nhật Bản. Công nhân Nhật Bản gắn bó với công
ty, coi đó là gia đình của mình; họ cống hiến cho công ty một cách tận tụy, trung thành và hiếm
khi nghỉ việc để tìm đến một công ty khác. Điều này trái ngược với Mỹ. Việc đào tạo và môi
trường kinh doanh ở Mỹ được thiết kế sao cho mỗi cá nhân có thể được thay thế dễ dàng mà
không ảnh hưởng gì đến sự vận hành chung của cả một doanh nghiệp hoặc dây chuyền sản xuất.
Người lao động ở Mỹ dễ dàng thay đổi chỗ làm để tìm kiếm một môi trường làm việc tốt hơn và
mức lương cao hơn. Họ sử dụng tên công ty cũ để làm cho bản sơ yếu lí lịch của mình hấp dẫn

để kiếm ra nhiều tiền và thu về nhiều lợi nhuận hơn. Một trong những nguyên nhân gây ra cuộc
khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Mỹ năm 2008 chính là do sự năng động của các ngân hàng
thương mại Mỹ trong việc sáng tạo ra các khoản cho vay tiền gửi tiết kiệm từ dân chúng, các
ngân hàng thương mại của Mỹ tìm cách bán lại cho nhà đầu tư như những giấy tờ có giá. Ngay
cả với các khoản nợ, các ngân hàng Mỹ cũng tìm ra cách để biến chúng ra tiền, họ không thỏa
mãn với các công cụ có lợi nhuận thấp mà nghĩ ra các công cụ cho lợi nhuận cao hơn nữa. Điều
này thể hiện rõ nét tính năng động, sáng tạo của người Mỹ trong kinh doanh dịch vụ tài chính.
Sự năng động của nền kinh tế Mỹ còn thể hiện ở sự ra đời và phá sản của các công ty
Mỹ. Người Mỹ quan niệm thất bại không phải là điều cay đắng đặt dấu chấm hết cho cả sự
nghiệp mà nó là quá trình tích lũy kinh nghiệm cần thiết trong kinh doanh. Trong năm 2005 ở
Mỹ có khoảng 671.800 công ty mới thành lập và 544.800 công ty khác được chuyển nhượng. Có
khoảng 10.000 công ty phá sản mỗi năm. Hơn 39.000 công ty ở Mỹ thông báo phá sản trong
năm 2005. Ngay cả các công ty lớn của Mỹ là Trans World Airline, United Air Lines, Delta
Airline, Northwest Airline, US Airways, Continentical Airlines, Eastern Airlines và Pan Am đã
bị phá sản trong năm 1979 khi chính phủ bãi bỏ quy định du lịch hàng không. Tính năng động
của nền kinh tế Mỹ được thể hiện rõ ở sự biến động khôn lường của các công ty trong nền kinh
Trang 16
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
tế. Năm 1986, Dow Jones niêm yết 12 công ty có chỉ số chứng khoán đại diện cho lĩnh vực
công nghiệp. Đến nay chỉ còn lại một công ty nằm lại trong danh sách chỉ số Dow Jones là
General Electric. Mười một công ty khác đã bị thôn tính bởi đối thủ cạnh tranh, hoặc trở thành
các công ty nhỏ hơn và vai trò trong ngành công nghiệp bị lu mờ hoặc bị giải thể. Vị trí đứng
đầu đã bị thay thế bởi các công ty mới ra đời, và xuất phát điểm của các công ty này chỉ là
những công ty nhỏ (17)
2.2.3. Văn hóa kinh doanh Mỹ coi trọng luật pháp
Người Mỹ tôn trọng luật pháp vì họ tin rằng có thể sử dụng các quy định của luật pháp để
bảo vệ sự tự do và quyền lợi của mình. Điều này hơi trái với những gì chúng ta hay mường
tượng về Mỹ - một xã hội “tự do”. Thực sự dân Mỹ rất tự do nhưng tự do trong khuôn khổ của
pháp luật, những gì pháp luật không cấm người dân có quyền làm. Xã hội Mỹ là điển hình của
một xã hội được vận hành theo luật lệ (rule-based society), tức là tất cả đều được qui định, viết

Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
kiếm lợi nhuận. Chủ nghĩa thực dụng có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Mỹ và trở thành học
thuyết triết học đặc trưng của người Mỹ.
Người Mỹ coi hiệu quả mới là thước đo quan trọng nhất. Việc tuyển mộ nhân viên mới
vào ngành thường căn cứ vào thành tích hay hiệu quả làm việc của người này trong quá khứ.
Người Mỹ không đề cao mối quan hệ trong làm ăn như người Nhật và người Trung Quốc. Với
họ, chuyện làm ăn chỉ tiến hành với những người có hiệu quả, tức là có khả năng làm tăng lợi
nhuận của họ. Trong kinh doanh, người Mỹ đặt con người ra khỏi công việc “separate people
out of business” và cái họ nhắm đến là hiệu quả làm việc của người đó chứ không phải thái độ.
Sự đề cao tính hiệu quả và áp lực cạnh tranh buộc người Mỹ phải tôn trọng thời gian và
sử dụng thời gian hợp lý. Khác với quan niệm thời gian đa chiều của người châu Á, với người
Mỹ thời gian là đơn chiều, thời gian đã qua sẽ không bao giờ phục hồi lại được nữa. Bởi vậy
cách duy nhất và hiệu quả nhất là sử dụng triệt để thời gian.
Sự tôn trọng thời gian của người Mỹ thể hiện ở việc họ luôn đúng giờ trong các buổi hẹn
hay công việc. Nếu một người Mỹ đươc mời đi ăn nhưng đến muộn thì phải gọi điện báo trước
cho người mới, nếu không sự lỡ hẹn hoặc đến muộn của người này sẽ là mất lịch sự và gây khó
chịu cho người mời. Người Mỹ luôn luôn ám ảnh với sự đúng giờ, với lịch làm việc đã sắp đặt
sẵn, thời hạn chót và ngày hoàn thành kế hoạch. Họ lập kế hoạch trước để hoàn thành tối đa
công việc trong quỹ thời gian của mình. Người Mỹ luôn xem đồng hồ, kiểm tra giờ trong điện
thoại và trên máy tính. Các câu hỏi thường gặp của người Mỹ là “Mấy giờ rồi?”, “Tôi có bị
muộn không?”, “Khi nào thì dự án hoàn thành?”, “ Chúng ta đã tiến hành được bao lâu rồi?”,
“Chúng ta còn bao nhiều thời gian nữa?”. Với đức tính như vậy, họ tạo ra cho mình một không
khí và nhịp độ làm việc khẩn trương, vào việc ngay, giải quyết vấn đề nhanh. Tuy vậy, những
nghiên cứu so sánh phương pháp làm việc Đông – Tây cũng chỉ ra rằng người Mỹ ra quyết định
nhanh nhưng thực hiện quyết định, nghĩa là triển khai dự án chậm. Ngược lại người Nhật chậm
trong khi ra quyết định nhưng một khi đã ra quyết định thì việc triển khai dự án lại nhanh.
2.3. Ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh Mỹ tới mối quan hệ kinh tế Việt – Mỹ
2.3.1. Ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh Mỹ đến quá trình tìm kiếm và tiếp xúc với
các đối tác Mỹ
Khác với phần đông thương nhân Châu Á và thương nhân một số quốc gia khác, người

đẩy cuộc thương lượng đến chỗ kết thúc một cách mau chóng nhất. Rất tự tin và phô trương, họ
dễ dàng tìm cách ép buộc bạn chấp nhận điều họ đề nghị. Điều đầu tiên là họ muốn gây ấn
tượng là họ rất hùng mạnh bằng các con số về quy mô của công ty trên thị trường, kim ngạch
mua bán hay số nhân công. Họ muốn làm cho đối phương có cảm giác được giao dịch với họ là
quyền lợi lớn nhất của doanh nghiệp.
2.3.2. Ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh Mỹ đến quá trình đàm phán ký kết hợp
đồng kinh tế.
Xét về tương quan giữa thế và lực của doanh nghiệp Việt Nam và Mỹ trên bàn đàm phán
thì doanh nghiệp Việt Nam thường là bên yếu hơn. Chính vì thế, mặc dù văn hóa kinh doanh của
hai nước đều có ảnh hưởng tới quá trình đàm phán mua bán hàng hóa quốc tế giữa hai doanh
nghiệp nhưng văn hóa kinh doanh Mỹ thể hiện tác động lớn hơn.
Đa phần các doanh nghiệp Mỹ và Việt Nam giao dịch thông qua fax, email, telex và gặp
gỡ trực tiếp. Tuy nhiên, chỉ có phương pháp đàm phán thông qua gặp gỡ trực tiếp mới có sự tiếp
xúc và tương tác thực tế giữa hai đoàn đàm phán gặp gỡ mặt đối mặt, sự tương tác giữa hai vùng
văn hóa kinh doanh Việt Nam và Mỹ diễn ra trực tiếp có sự phản hồi nhanh chóng, có thể quan
sát được. Do đó, ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh Mỹ lên quy trình đàm phán qua gặp gỡ trực
tiếp là rõ rệt nhất. Quy trình đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa Việt Nam và
Mỹ tiến hành tuần tự theo các bước: chuẩn bị, đàm phán chính thức và ký hợp đồng.
 Chuẩn bị đàm phán: Thực tế cho thấy ảnh hưởng của tính năng động, tính hiệu quả
và thói quen ưa mạo hiểm một cách có tính toán của người Mỹ đến đàm phán ký kết hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế với doanh nghiệp Việt Nam. Trước khi đàm phán, các doanh nghiệp
Mỹ thường tìm hiểu kỹ về đối tác Việt Nam trong các phương diện: văn hóa kinh doanh, các
quy định pháp luật điều chỉnh hàng hóa của hợp đồng và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tư
cách pháp lý, uy tín của các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành hàng cụ thể. Thực hiện tốt
khâu chuẩn bị đàm phán giúp doanh nghiệp Mỹ tiết kiệm được chi phí, tổn thất do không lường
hết được rủi ro hoặc do chọn sai thị trường. Đây là một biểu hiện của tính hiệu quả và cũng là
cách đảm bảo cho việc kinh doanh của doanh nghiệp Mỹ không đồng nghĩa với rủi ro.
Trang 19
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
Việc thu thập thông tin của doanh nghiệp Mỹ được tiến hành với sự hỗ trợ từ Đại sứ quán

là hợp lý và không thể nhượng bộ hơn nữa. Tuy nhiên, bên Việt Nam thường hay mặc cả rất gắt
gao về điều khoản giá. Điều này không hiệu quả vì người Mỹ không có thói quen mặc cả điều
khoản giá với tỷ lệ lớn. Việc kinh doanh ở Mỹ thể hiện tính tiêu chuẩn hóa cao, giá cả của hàng
hóa trên thị trường đã được niêm yết và không thể thay đổi, hoặc có chênh lệch nhưng chênh
lệch không lớn như ở thị trường Việt Nam.
 Kết thúc đàm phán và ký kết hợp đồng: Hợp đồng được ký kết khi cả hai doanh
nghiệp cùng đi đến một thỏa thuận chung. Nếu hợp đồng được ký tại Việt Nam thì sau khi ký
hợp đồng, bên Việt Nam thường chiêu đãi đối tác Mỹ tại một nhà hàng hoặc khách sạn. Chi phí
chiêu đãi do doanh nghiệp Việt Nam chi ra. Điều này thể hiện thiện chí của doanh nghiệp Việt
Nam và cũng xuất phát từ văn hóa kinh doanh của cả hai nước: Khi một người được mời ăn tối
kết hợp giải quyết công việc thì chi phí sẽ do người mời chi trả. Việc chiêu đãi đoàn đàm phán
Trang 20
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
doanh nghiệp Mỹ thể hiện lòng hiếu khách và mong muốn tạo mối quan hệ làm ăn lâu dài của
phía Việt Nam. Tuy nhiên, trong văn hóa kinh doanh Mỹ, tính hiệu quả luôn được đặt lên hàng
đầu. Phía Mỹ thường không coi trọng chuyện chiêu đãi sau đàm phán. Chuyện chiêu đãi đoàn
đàm phán doanh nghiệp Mỹ không ảnh hưởng nhiều đến quyết định đặt quan hệ kinh doanh lâu
dài, trừ phi bên Việt Nam tỏ rõ rằng việc làm ăn với doanh nghiệp Việt Nam mang lại hiệu quả
thật sự cho doanh nghiệp Mỹ.
2.3.3. Ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh Mỹ đến quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế
 Vai trò của hợp đồng: Người Mỹ luôn sử dụng hợp đồng trong mọi tình huống. Với
họ hợp đồng là kết thúc. Sau khi ký hợp đồng họ sẽ không chịu mang theo bất cứ một trách
nhiệm nào ngoài những điều khoản của hợp đồng. Do vậy, một bản hợp đồng của người Mỹ
thường rất dài và được soạn thảo một cách tỉ mỉ và cẩn thận. Doanh nghiệp Mỹ thường thuê
những luật sư nhiều kinh nghiệm để giúp họ soạn thảo hợp đồng vì chỉ cần một điều khoản
không hợp lý gây mâu thuẩn thương mại giữa hai bên thì rất dễ bị đưa ra tòa.
Vì thế, trong quá trình làm ăn với một đối tác là doanh nghiệp Mỹ thì các doanh nghiệp
Việt Nam không nên tiếc tiền thuê một luật sư giỏi để tham vấn cách thảo hợp đồng, bởi nếu đã
phải ra tòa, có nghĩa là các bên đều bị thiệt hại. Các luật sư ở Mỹ có tinh chuyên môn hóa rất
cao, có những người chỉ chuyên về một lĩnh vực nào đó, nên các doanh nghiệp Việt Nam có thể

trong số ít các quốc gia trên thế giới tham gia nhiều vào các vụ tranh chấp thương mại quốc tế.
Trong nhiều thập kỷ qua, Mỹ luôn tích cực theo đuổi chính sách tự do hóa thương mại
toàn cầu, khu vực và song phương. Do đó, Luật Thương mại của họ có hẳn một số đạo luật quy
định về những trường hợp bồi thường, ví dụ như khi hàng hóa nước ngoài được hưởng lợi thế
không công bằng trên thị trường Mỹ hoặc hàng hóa của Mỹ bị phân biệt đối xử trên thị trường
nước ngoài. Hai đạo luật phổ biến nhất bảo hộ các ngành sản xuất của Mỹ chống lại hàng nhập
khẩu không công bằng là Luật Thuế bù giá và Luật Chống phá giá. Cả hai đạo luật này đều có
quy định, sẽ ấn định phần thuế bổ sung đối với hàng hóa nhập khẩu, nếu chúng bị phát hiện là
được trao đổi không công bằng.
Các chuyên gia kế toán, kiểm toán nhận định, hệ thống thuế của Mỹ cũng nổi tiếng là rắc
rối và ngày càng thêm phần phức tạp. Nhiều loại thuế ở 50 bang được áp dụng không chỉ ở cấp
liên bang, và tiểu bang mà còn tại ngay cả ở cấp thấp hơn (cấp địa phương). Hơn nữa, cá nhân
hay công ty đóng thuế đều phải tự khai thu nhập và đóng thuế trên thu nhập được khai, chú
không chỉ chờ lệnh từ cơ quan thuế. Chính do sự phức tạp này mà ngay cả người dân Mỹ cũng
phải thường xuyên viện đến dịch vụ của các nhà khai thuế nhằm tránh rủi ro bị phạt khi khai sai,
nộp chậm thuế…
Ngoài ra, thị trường cũng như văn hóa kinh doanh Mỹ còn có tính tiêu chuẩn hóa rất cao.
Biểu hiện của tính tiêu chuẩn hóa trong văn hóa kinh doanh Mỹ là sự đa dạng, phức tạp của hệ
thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm và quy trình sản xuất kinh doanh đới với hàng hóa
trong nước và hàng rào kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu.
Tính tiêu chuẩn hóa đối với hàng nhập khẩu của Mỹ mạnh hơn hẳn các nước châu Á.
Chẳng hạn, để nhập khẩu hàng thủy sản vào Mỹ, nước xuất khẩu phải sản xuất sản phẩm thỏa
mãn các tiêu chuẩn về độ sạch, đúng nhãn mác, không độc hại và có đầy đủ thông tin về sản
phẩm theo quy định của cơ quan thực phẩm và dược phẩm FDA (U.S Food and Drug
Administration), Cục quản lý nghề cá biển quốc gia NMFS ( national Marine Fisheries Service).
Ngoài ra, hàng thủy sản nhập khẩu vào Mỹ còn phải tuân theo các quy định của luật thực phẩm,
đạo luật chống khủng bố sinh học năm 2002 BTA (Bioterorrism Act Enforcement), Luật về
nhãn mác hàng hóa, các quy định về dán nhãn hàng hóa, và các quy định về phụ gia thực phẩm.
Vì văn hóa kinh doanh Mỹ có tính tiêu chuẩn hóa cao nên việc kinh doanh với thị trường
Mỹ đòi hỏi sự minh bạch cao. Các sản phẩm xuất khẩu vào thị trường Mỹ phải thảo mãn các

Bên cạnh lợi thế của bối cảnh chung đó, các công ty Việt Nam muốn thu hút đầu tư từ
phía Mỹ thì cần làm sao cho họ thấy được công ty của mình có triển vọng, hoạch định làm ăn
của mình có khả năng sinh lợi cao cùng với chứng tỏ được rằng mình có cái mà họ đang thiếu,
chẳng hạn sự am hiểu thị trường và các nguồn lực nội địa có sẵn.
Các doanh nghiệp Mỹ rất chú trọng đến yếu tố lợi nhuận khi đầu tư nhưng họ cũng là
người rất tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên, một yếu tố quan ngại cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ chính
là sự minh bạch của công ty Việt Nam. Họ rất sợ chuyện cổ phiếu tăng vọt trong vòng thời gian
vài ba ngày vì điều gì đó biểu thị sự không chuyên nghiệp của thị trường. Khi nhận thấy doanh
nghiệp không minh mạnh thì họ không dám đầu tư. Ở nước ngoài, họ có thể bỏ ra vài tỉ USD để
mua một công ty một cách nhanh gọn vì mọi thứ đã rõ ràng minh bạch, các đối tác chỉ cần xem
xét quà quyết đoán. Thực tế, vì lợi ích nào đó, một vài doanh nghiệp Việt Nam có lý do riêng
của mình để không minh bạch. Điều này chỉ khiến cho các doanh nghiệp chỉ thu được lợi ích
ngắn hạn mà lại đánh mất đi những khoản đầu tư đáng kể từ các doanh nghiệp Mỹ.
Sự minh bạch trong hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp nên các số liệu
được dùng để tính giá thành bị lấy từ một nước thứ 3 hoặc là từ các nhà sản xuất nội địa của Mỹ.
Chính điều này đã khiến cho các nhà xuất khẩu của Việt Nam gặp bất lợi và thường bị thua kiện
trong các vụ kiện bán phá giá hàng Việt nam ở nước ngoài.
Trang 23
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
2.3.5. Ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh Mỹ tới đặc tính, nhu cầu của thị trường Mỹ
 Thị trườngMỹ luôn luôn chú ý đến việc bảo vệ người tiêu dùng: Doanh nghiệp Việt
Nam cần biết rằng Hoa Kỳ là quốc gia có pháp luật bảo vệ người tiêu dùng khá hiệu quả. Án lệ
về bảo vệ người tiêu dùng cho thấy nhiều doanh nghiệp đã phải bồi thường cho người tiêu dùng
những khoản tiền khổng lồ do chất lượng hàng hóa kém, gây tổn hại đến sức khỏe thậm chí tính
mạng của người tiêu dùng. Việc khối lượng lớn đồ chơi sản xuất ở Trung Quốc nhập vào Mỹ bị
thu hồi, các công ty thuốc lá bồi thường cho nhiều bệnh nhân ung thư là một vài minh chứng.
Bảo vệ người tiêu dùng ở Hoa Kỳ tồn tại dưới chế dịnh pháp lý trách nhiệm sản phẩm
(product liability) và ở mức cao hơn là trách nhiệm nghiêm ngặt (Strict liability). Các quy định
về trách nhiệm sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải đảm bảo độ an toàn của sản phẩm khi đưa
vào lưu thông và phải cảnh báo cho người tiêu dùng những tác động xấu của việc sử dụng sản

Trang 24
Văn hóa kinh doanh Mỹ - Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
luôn chuộng những sản phẩm có mẫu mã đa dạng, độc đáo và giá rẻ. Không chỉ vậy, nhu cầu
của người Mỹ về chất lượng hàng hóa cũng rất đa dạng. Ở Mỹ có hệ thống cửa hàng dành cho
người có thu nhập cao, hệ thống cửa hàng dành cho người có thu nhập trung bình và cũng có
cửa hàng dành cho người nghèo chủ yếu bán hàng của các nước Trung Quốc, Châu Á, Châu Mỹ
La tinh có chất lượng thấp. Đây là những thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam khi thâm nhập thị
trường Mỹ.
Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm bắt được thị hiếu tiêu dùng của người Mỹ.
Ngay từ những năm đầu sau khi thiết lập quan hệ ngoài giao (1995), các sản phẩm thô như; cà
phê, hạt điều, hạt tiêu, tôm đông lạnh, dầu mỏ, do không bị thuế (0%) nên kim ngạch xuất khẩu
vào Mỹ tăng rất nhanh. Tuy nhiên, điểm hạn chế là: người Mỹ quen dùng cà phê Arabica trong
khi Việt Nam bán loại Robusta; Mỹ mua hạt tiêu theo tiêu chuẩn ASTA, trong khi Việt Nam chủ
yếu bán loại FAQ 500gr/l; hạt điều thì số lượng có hạn; hải sản chưa đa dạng sản phẩm, chủ yếu
là tôm đông lạnh và bị đánh thuế chống phá giá; dầu mỏ Việt Nam chưa coi Mỹ là thị trường
chính. Các sản phẩm thô nói trên giá cả biến động thất thường và theo thời vụ. Để tăng giá trị và
duy trì tăng trưởng các mặt hàng này, cần tăng tỷ lệ sản phẩm chế biến với chất lượng phù hợp.
Hiệp định Việt- Mỹ có hiệu lực ngày 10-12-2001 với việc cắt giảm mạnh thuế nhập khẩu,
đã tạo cơ hội cho nhiều sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp của Việt Nam. Kim ngạch
xuất khẩu hàng dệt may đã tăng ngoạn mục: Từ 50 triệu USD năm 2001 lên 5 tỷ USD năm
2009. Do khó cạnh tranh về giá với Trung Quốc, Ấn Độ, nên Việt Nam xác định tập trung làm
quần áo chất lượng trung bình trở lên. Hàng giày, dép cần tăng cường năng lực thiết kế để có
nhiều mẫu giày thời trang làm dàng FOB. Các mặt hàng gốm sứ, mây tre, mỹ nghệ, trang sức,
kim khí, đồ nhựa…. thời gian qua kim ngạch đã tăng đáng kể, những chủ yếu do mở rộng số
lượng mặt hàng, chưa tạo được mặt hàng chủ lực. Đồ gỗ gia dụng mất năm gần đay kim ngạch
tăng nhanh, nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ và phải nhập gỗ nguyên liệu giá cao.
Nhìn chung, hàng Việt Nam mới chỉ đáp ứng được yếu tố giá rẻ, chứ chưa phong phú về
chủng loại, mẫu mã, số lượng sản xuất không lớn, nên sức cạnh tranh và tiêu thụ không mạnh.
 Người tiêu dùng Mỹ chuộng quảng cáo và tiếp thị: Hàng hóa nếu có thương hiệu
nôi tiếng sẽ bán được nhiều hơn, với giá cao hơn. Hàng Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status