Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
MÔNG THỊ BẠCH VÂN
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN THƠ TÀY
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN THƠ TÀY
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đức Ngôn
Thái Nguyên - Năm 2011
3.2. Nhiệm vụ 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1. Đối tượng nghiên cứu 7
4.2. Phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu khảo sát 8
5.1. Phương pháp nghiên cứu 8
5.2. Tư liệu khảo sát 9
6. Đóng góp mới của luận văn 9
7. Cấu trúc luận văn. 9
B. PHẦN NỘI DUNG10
Chƣơng 1: PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KHÔNG GIAN, THỜI
GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN THƠ TÀY 10
1.1. Khái niệm về không gian và thời gian nghệ thuật 11
1.1.1. Khái niệm không gian nghệ thuật 11
1.1.2. Khái niệm thời gian nghệ thuật 12
1.2. Phân loại không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày 15
1.2.1. Phân loại không gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày 15
1.2.2. Phân loại thời gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày 17
1.3. Đặc điểm của không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày 18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1.3.1. Đặc điểm của không gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày 18
1.3.2. Đặc điểm thời gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày 23
Chƣơng 2: SỰ THỂ HIỆN KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN THƠ TÀY 29
2.1. Các hình ảnh về không gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày 29
2.1.1. Không gian sinh hoạt 29
2.1.2. Không gian thiên nhiên 36
2.1.3. Không gian siêu hình 41
3.3.3 Các mẫu đề “ngày trước”, “ngày xưa”, “bây giờ”, “hôm nay”, “ngày
nay”, “hôm sau”, “ngày mai” 92
C. PHẦN KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với nền văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, truyện thơ là
một thể loại đặc sắc, được các nhà nghiên cứu đánh giá “Là thể loại phát triển
cuối cùng và cũng là đỉnh cao của dân ca Tày”. Vì sớm có chữ viết nên việc
ghi chép các tác phẩm truyện nôm Tày được các nho sĩ bản tộc và các thầy đồ
miền xuôi, gia công chau chuốt, tạo nên thể loại truyện thơ có giá trị cho tới
ngày nay. Bản thân tác giả luận văn là người con của dân tộc Tày nên việc tìm
hiểu về văn học dân tộc mình là điều cần thiết để góp phần giới thiệu, tôn
vinh bản sắc văn hóa tộc người.
Như đã biết, trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt
Nam. Truyện thơ khá phong phú về số lượng, trên thực tế, mặc dù đã có nhiều
công trình sưu tầm, dịch thuật, nghiên cứu thành công về thi pháp truyện thơ
Tày nhưng chưa có một công trình nghiên cứu về thi pháp không gian và thời
gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày.
Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài luận văn
“Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày”.
2. Lịch sử vấn đề
Dựa trên các tài liệu hiện có, chúng tôi đã tham khảo và tiếp cận những
nhận định, những ý kiến của các nhà sưu tầm, biên soạn, dịch thuật và nghiên
cứu trong quá trình thực hiện đề tài luận văn cao học của mình.
truyện của tác giả Lê Trường Phát, và bổ sung thêm một thành phần kết cấu:
“Theo quan niệm truyền thống về kết cấu, truyện thơ Nôm được xây dựng
theo mô hình ổn định của hệ thống cốt truyện với ba sự kiện cơ bản: Gặp gỡ -
Tai biến – Đoàn tụ”[9]. Mô hình này là sự tiếp nối mảng cổ tích thần kỳ. Tuy
nhiên, trong nhiều truyện cổ và truyện thơ, ngoài ba sự kiện cơ bản trên, còn
có một thành phần khá quan trọng đứng trước sự kiện “Gặp gỡ”: Giới thiệu
nhân vật. Như vậy, kết cấu truyện thơ có thể khái quát theo mô hình bốn
chặng: Giới thiệu-Gặp gỡ-Tai biến–Đoàn tụ. Trong quan niệm về sự khác biệt
thời gian giữa cõi trần và cõi tiên, tác giả nhận xét: “Người Tày cho rằng có
ba tầng thế giới, mỗi tầng có người đứng đầu, kẻ hậu thuẫn. Trật tự xã hội của
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ba tầng thế giới như vậy, là giống nhau. Nhưng giữa cõi trần và cõi tiên, thời
gian khác xa nhau. Một ngày ở cõi tiên có thể bằng cả năm hạ giới”[9:109].
Hà Thị Bích Hiền trong “Truyện thơ nôm Tày - Điểm nối giữa văn học dân
gian và văn học Tày” (luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Hà Nội 2000) đã khảo sát
truyện nôm Tày trên các phương diện chữ viết, phong tục tập quán, chủ đề,
cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ…Tác giả luận văn có nêu ý kiến về quan niệm
về vũ trụ của người Tày: “Với truyện thơ nôm Tày, ba thế giới (mường trời,
dương gian, diêm cung) gần giống nhau: có đủ bộ máy cai quản, có trật tự, có
quan, có dân, có binh tướng….”[18]. Đây là một nhận xét quan trọng để
người viết vận dụng vào việc nghiên cứu của mình về vấn đề không gian nghệ
thuật.
Năm 1992 tác giả Kiều Thu hoạch trong cuốn “Truyện Nôm - nguồn gốc
39và bản chất thể loại” đã tìm ra mối quan hệ giữa truyện nôm Việt với
truyện thơ nôm Tày. Biểu hiện sự tương đồng ở câu mở đầu, câu kết thúc
truyện, ở phong cách ngôn ngữ thơ “…Pha tạp không thuần nhất, không đồng
dừng lại ở đó mà vẫn đang được các nhà nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật bổ
sung. Lục Văn Pảo đã chỉ ra: “Về kết cấu truyện thơ, thường khá hoàn
chỉnh…Mở đầu truyện, thường xác định câu chuyện ở thời điểm nào…”
“Cách kể ở đây theo từng chương. Các chương thường không có câu đề mà
chỉ chuyển đoạn bằng những câu, như “Lại ca đoạn…” ”[32: 23]. Đây là một
nhận xét khá tinh tế thú vị về kết cấu truyện, tuy nhiên cần được giải thích
một cách cụ thể hơn nữa.
Đáng chú ý là công trình nghiên cứu “ Đặc điểm thi pháp truyện thơ các
dân tộc thiểu số ” (luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội, năm 1997) của Lê Trường
Phát. Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu truyện thơ của dân tộc thiểu
số trên các phương diện kết cấu cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ và đặt truyện
thơ dân tộc thiểu số Việt Nam trong bối cảnh truyện thơ các nước Đông Nam
Á. Về mô hình, cấu trúc cốt truyện, tác giả nhận định “Mô hình kết cấu cốt
truyện kết thúc có hậu với ba chặng: [Gặp gỡ, Tai biến, Đoàn tụ] không phổ
biến, không tiêu biểu cho kiểu kết cấu cốt truyện của thể loại truyện thơ các
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên dân tộc thiểu số”; và mô hình “Kết thúc bi kịch” mới là phổ biến và tiêu biểu,
chiếm tỉ lệ lấn át kiểu “kết thúc có hậu”, có trường hợp chiếm 100% (dân tộc
Mường, Chăm) [34: 127]. Riêng ở nhóm truyện thơ Tày- Nùng tình hình
ngược lại: “Kết thúc có hậu chiếm tỉ lệ lấn át” [34: 128]. Tác giả lý giải, sở dĩ
có sự kết thúc khác nhau giữa nhóm truyện thơ Tày – Nùng so với truyện thơ
Mường, Chăm chính là do vai trò tham gia sáng tạo tác phẩm của các nho sĩ,
thầy đồ người Việt miền xuôi lên, họ mang theo ảnh hưởng của truyện nôm
Việt vào truyện thơ Tày – Nùng.
Gần đây nhất, tác giả luận văn Triệu Thị Phượng với luận văn thạc sĩ ngữ
văn “Sự tương đồng và khác biệt về nội dung giữa truyện thơ Tày và truyện
trong các công trình nghiên cứu nêu trên, chưa có công trình nào chuyên biệt
viết về không gian và thời gian nghệ thuật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích: Làm rõ các đặc điểm thi pháp truyện thơ nôm Tày về phương
diện không gian và thời gian nghệ thuật.
3.2. Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu phân loại không gian và thời gian nghệ thuật.
- Nghiên cứu đặc điểm của từng loại không gian và thời gian nghệ thuật.
- Nghiên cứu các phương tiện và công thức thể hiện không gian và thời -
gian nghệ thuật.
- Nghiên cứu vai trò và khả năng biểu cảm của không gian và thời gian
nghệ thuật trong tác phẩm.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Truyện thơ nôm của dân tộc Tày
Trên cơ sở kế thừa sự nghiên cứu của người đi trước và bổ sung thêm một
truyện thơ vào bảng thống kê. Dưới đây chúng tôi giới thiệu số lượng các
truyện thơ nôm Tày (kèm theo số dòng thơ và nơi sưu tầm) đã được người
đọc biết đến. Cụ thể là những truyện sau:
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên BẢNG THỐNG KÊ SỐ LƢỢNG TRUYỆN THƠ NÔM TÀY
STT
Tên truyện thơ
Tên gọi khác
Số dòng thơ
Nơi sưu tầm truyện
6
Vượt Biển
Khảm Hải
249 →
651 →
( bản Hoàng Hạc)
( bản Vi Hồng ) Cao
Bằng, Lạng Sơn
7
Lưu Đài – Hán
Xuân
Nàng Hán
3437
Chợ Rã( Bắc Kạn )
8
Kim Quế
Nàng Kim
1883
Chợ Đồn, Chợ Rã, Bạch
Thông( Bắc Kạn ) Định
Hóa ( Thái Nguyên )
9
Trần Châu
Nàng Quyển
2946
Chợ Rã, Cao Bằng
10
Nàng Ngọc Long
2237
2209
Cao Bằng
16
Nho Hương
1754
Cao Bằng
17
Tử Thư – Văn
Thậy
Tử Thư; Tứ
Thư – Văn
Thụy; Sôi
Văn Thậy
( Bản gốc
Nôm đã bị
mất phần
đầu và phần
cuối, số câu
còn lại )
1451
Ngân Sơn, Bạch Thông,
Ba Bể ( Bắc Kạn ), Bảo
Lạc ( Cao Bằng )
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu về phương diện không gian và thời
gian nghệ thuật trong một số tác phẩm tiêu biểu: Lưu Đài – Hán Xuân (Nàng
Hán), Nam Kim-Thị Đan, Nhân Lăng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và tƣ liệu khảo sát.
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Về măt thực tiễn: Tìm hiểu thi pháp truyện thơ nôm Tày giúp cho chúng
ta hiểu về văn học dân tộc Tày và bản sắc văn hóa dân tộc Tày một cách sâu
sắc, đầy đủ hơn, đồng thời cũng giúp cho việc giảng dạy phần văn học dân
gian có liên quan đến dân tộc Tày ở trường đại học và cao đẳng.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, nội dung chính của
luận văn được thể hiện trong ba chương:
Chương 1: Phân loại và đặc điểm của không gian và thời gian nghệ thuật
trong truyện thơ Tày.
Chương 2: Không gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày.
Chương 3: Thời gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày.
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Chƣơng 1
PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KHÔNG GIAN, THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN THƠ TÀY
Việc nghiên cứu thi pháp có ảnh hưởng rất lớn trong ngành nghiên cứu
văn học thế kỉ XX. Đặc biệt nghiên cứu thi pháp văn học dân gian, một phạm
vi của thi pháp học, có những nét đặc sắc, độc đáo riêng. Chúng ta cần “phải
xác lập các phạm trù thi pháp, dùng chúng làm điểm quy chiếu những phát
hiện riêng lẻ về từng yếu tố rời rạc của tác phẩm cần châu tuần vào những
điểm quy chiếu ấy, từ đó mới khái quát thành những điểm độc đáo của tác
phẩm” và phải “ đặt thi pháp của tác phẩm trong mối quan hệ với thi pháp thể
loại…” [41: 9].
Tìm hiểu không gian và thời gian truyện thơ Tày, thực chất chính là
nghiên cứu thi pháp thể loại truyện thơ. Điều đáng nói là với một đối tượng
khoa học, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, cho nên cũng có nhiều cách hiểu
Không những thế, “Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của
người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định
về cuộc sống, do đó không thể quy nó về như là sự phản ánh giản đơn không
gian địa lý hay không gian vật lý, vật chất”[40: 87]. Điều đó có nghĩa là
không gian nghệ thuật thể hiện con người và cả những quan niệm trong cuộc
sống thường ngày, hoặc những gì đã diễn ra. Không thể xem xét không gian
nghệ thuật một cách phiến diện, tách rời với con người và cuộc sống. Trong
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên thực tế, khi tiếp xúc với các văn bản, thấy được những hình ảnh nói về không
gian như ngôi nhà, con đường, dòng sông ,các hình ảnh này chỉ trở thành
biểu tượng của không gian nghệ thuật khi chúng mang một quan niệm nghệ
thuật về thế giới của tác giả.
Cũng theo GS. Trần Đình Sử, “không gian nghệ thuật là mô hình thế giới
của tác giả, được biểu hiện bằng ngôn ngữ của các biểu tượng không gian ”,
và không gian nghệ thuật là một hiện tượng khép kín. Đối với tác giả thì việc
xây dựng một không gian nghệ thuật cho riêng mình là điều phải làm và nó
cũng quyết định sự thành công của tác phẩm. Mỗi tác giả đều hình dung
tưởng tượng một không gian riêng, phù hợp với việc hình thành ý tưởng của
mình trong tác phẩm. Vậy nó biểu hiện bằng ngôn ngữ, mang tính cá thể là
điều dễ hiểu. Không gian do tác giả sáng tạo ra và người đọc là người cảm
nhận chia sẻ.
Tóm lại không gian nghệ thuật là mô hình không gian của thế giới được
diễn tả bằng ngôn ngữ nghệ thuật để biểu hiện quan niệm về thế giới và quan
niệm về con người qua lăng kính chủ quan của tác giả.
1.1.2. Khái niệm thời gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật là hai phạm trù tồn tại
tồn tại với thời gian, tất nhiên không thể nằm ngoài thời gian được. Nhận biết
được điều này, con người đã biết cách tính bằng đơn vị thời gian theo quy ước
chung ngày, tháng, năm, giờ, phút, giây Khi thời gian đi vào tác phẩm và trở
thành hình tượng nghệ thuật, sẽ thể hiện những quan niệm khác nhau của mỗi
nhà văn về cuộc đời, về con người.
Thời gian nghệ thuật được tập hợp từ nhiều thời gian cá biệt, cùng vận
động trên cả ba chiều thời gian tồn tại như đã nói ở trên. Tất nhiên trong các
tác phẩm, nhà văn có thể đảo ngược các chiều thời gian, chứ không nhất thiết
phải theo trình tự, từ quá khứ, hiện tại, cho tới tương lai.
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Trong tác phẩm, thời gian nghệ thuật có thể kéo dài hay rút ngắn, tùy
thuộc vào cảm quan của tác giả khi chiếm lĩnh và thể hiện thời gian. Có thể từ
một điểm nhìn mà thời gian kéo dài hoặc dồn lại trong mười năm, hai mươi
năm, hay cả một cuộc đời hoặc chỉ trong một khoảng khắc. Có rất nhiều loại
thời gian khác nhau như: thời gian lịch sử, thời gian vật lý, thời gian sinh vật,
thời gian tâm lý, thời gian thiên nhiên, thời gian sinh hoạt
Với thời gian của thiên nhiên vũ trụ, trải qua từng giai đoạn lịch sử, đã có
sự thay đổi trong quan niệm của con người. Trước đây do luôn quan niệm thời
gian là tự nhiên, tuần hoàn, nên con người sống rất ung dung tự tại, lạc quan
yêu đời. Đến nay quan niệm đó đã thay đổi rất nhiều. Vì thời gian của thế giới
vô tận một đi không trở lại nên quan niệm của con người về cuộc sống cũng
thay đổi khác xa so với trước đây: thời gian trôi đi, con người phải sống vội
vã hơn, gấp gáp hơn nhưng làm sao cho có ý nghĩa hơn.
Đến với thời gian nghệ thuật, chúng ta có thể làm sống lại thời gian đã
trôi đi bằng cách để con người trở về quá khứ. Ngược lại, có thể hướng con
người đến cuộc sống tương lai Để làm được việc này, cần có sự sáng tạo của
Tày, dễ dàng nhận diện ra nó và hiểu hơn về không gian và thời gian nghệ
thuật mà tác giả dân gian sử dụng để xây dựng nên tác phẩm.
1.2.1. Phân loại không gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày
Không gian nghệ thuật trong các tác phẩm văn học chính là những mô
hình thể hiện mối liên hệ giữa các sự kiện với nhau. Không gian nghệ thuật
trong tác phẩm văn học còn biểu hiện quan niệm nghệ thuật về thế giới của
tác giả. Không gian nghệ thuật được chia thành nhiều loại khác nhau. Ở luận
văn này chúng tôi chỉ xét trong phạm vi thể loại truyện thơ nôm Tày.
Trong tác phẩm, nhân vật bộc lộ mọi phương diện trong môi trường
không gian của mình, có bao nhiêu sự kiện sẽ có bấy nhiêu không gian, thậm
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên chí không gian ứng với từng hành động của nhân vật, môi trường không gian
càng rộng thì môi trường hoạt động của nhân vật càng nhiều và càng lớn.
Trên phương diện tìm hiểu không gian nghệ thuật, trong đề tài này, chúng tôi
đi sâu tìm hiểu ở ba tác phẩm cụ thể: Nam Kim – Thị Đan; Lưu Đài – Hán
Xuân (Nàng Hán); Nhân Lăng: là những truyện thơ nôm Tày tiêu biểu, mang
giá trị nghệ thuật đặc sắc.
Theo sự tổng hợp tư liệu trong các truyện thơ nói trên, chúng tôi phân
chia không gian nghệ thuật ra thành những nhóm sau:
+ Không gian sinh hoạt gắn với cuộc sống con người
+ Không gian vũ trụ, thiên nhiên
+ Không gian siêu hình (không gian thần bí)
Ở nhóm thứ nhất, không gian này chiếm tỉ lệ lớn trong các truyện thơ
nói chung của các dân tộc thiểu số, và nó xuất hiện ở tất cả truyện thơ Tày.
Các hình ảnh của không gian sinh hoạt rất gần gũi thân quen với cuộc sống
con người. Nó được coi như phần không thể thiếu được trong cuộc sống nơi
(Mường âm), và tầng thế giới ở thượng giới (Mường trời), đây là những tầng
thế giới mà con người không thể biết được mà chỉ tưởng tượng ra, vì thế
những yếu tố không gian mà con người không thể nhìn thấy, cũng không thể
nắm bắt, đều trở thành không gian siêu hình. Mặc dù tên gọi của nó có khác
nhau nhưng dù bất kỳ tên gọi nào, đều biểu hiện quan niệm nghệ thuật về thế
giới của con người. Không gian siêu hình xuất hiện trong các tác phẩm truyện
thơ: Nhân Lăng; Lưu Đài – Hán Xuân; Nàng Ngọc Dong
Trên đây chỉ là cách phân loại một cách chung nhất. Trước một đối
tượng khoa học, tùy thuộc sự tiếp cận của người nghiên cứu mà có sự phân
loại theo nhiều cách khác nhau và với cách này, chúng tôi đã cố gắng phân
loại theo góc độ thi pháp thể loại.
1.2.2. Phân loại thời gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày
Thời gian nghệ thuật có quan hệ chặt chẽ với không gian nghệ thuật,
hai yếu tố này không thể tách rời nhau. Thời gian nghệ thuật cũng có thể được
chia thành những nhóm sau:
+ Thời gian thực (gắn với đời sống của con người).
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên + Thời gian thiên nhiên
+ Thời gian siêu thời gian (thời gian siêu hình)
Nhóm thứ nhất, thời gian thực gắn chủ yếu với đời sống sinh hoạt của
con người (được tính bằng ngày, tháng, năm cụ thể). Có thể kể đến các tác
phẩm Nam Kim – Thị Đan; Nhân Lăng; Kim Quế có loại thời gian này.
Nhóm thứ hai, thời gian thiên nhiên được đo đếm bằng cuộc vận hành
của các mùa, xuân, hạ, thu, đông, sáng, trưa, chiều tối, đêm khuya, trăng tròn,
trăng khuyết, tiếng ve kêu vào mùa hè, mặt trời gác núi vào lúc chiều tà
Nhóm thứ ba, thời gian siêu thời gian cũng thấy xuất hiện ở một số tác
luôn gắn liền với đời sống của con người, tuy nhiên không gian này có thể mở
rộng đến tận cùng hay có thể thu hẹp, có thể có chiều cao, chiều xa tùy theo
cái nhìn nghệ thuật của tác giả dân gian khi lựa chọn các hình ảnh để biểu đạt.
Ví dụ biểu hiện rõ nhất cho kiểu không gian này là không gian căn nhà và
không gian chợ.
- Cất chân bước tới nhà em ở
- Không chung nhà thì nay đành vậy
- Chỉ có mỗi con đường về chợ
(Nam Kim – Thị Đan)
Nhóm không gian sinh hoạt gắn với cuộc sống con người hiện lên trong
tác phẩm truyện thơ Tày với các hình ảnh đã trở thành biểu tượng nghệ thuật
như: lầu hồng, lầu các, nhà sàn, giường, ngoài sân, ngoài hiên, chợ, mường,
bản Đây là một không gian có thực, không ảo tưởng, thân thuộc gắn với
cuộc sống trần thế, với nhóm này không gian nghệ thuật chính là mô hình thế
giới của tác giả. Trong nhiều tác phẩm truyện thơ chúng ta cũng bắt gặp các
hình ảnh của không gian này.
- Dặn mẹ chốn giường trong thưa gửi
- Mẹ chờ con ở trong nhà gác
- Con sẽ đem về các đưa người
- Từ lầu hồng quan lạy tạ ông
- Đi vào đến ngoài hiên trưởng giả