KHÔNG
GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG “ SỐNG MÒN ” của Nam Cao
Nguyễn Thị
Hiền
Không gian là một phạm trù triết học chỉ hình thức tồn tại của
vật chất, của
thế
giớ
i. Không có gì tồn tại ngoài không gian và thời
gian.
Tác phẩm nghệ thuật là 1 thế giới- thế giới nghệ thuật. Thế giới
đó có con người tồn tại trong không gian và thời gian nhất định.
Không gian và thời gian trong tác phẩm là không gian nghệ thuật
(KGNT) và thời gian nghệ thuật (TGNT). Nó không chỉ là KG-TG
vật chất mà là một phương thức biểu hiện thế giới tinh thần, hiện thực
đời sống.
KGNT và TGNT luôn gắn liền với cảm xúc và ý nghĩa nhân
sinh. Nó luôn mang tính chủ quan. Chính yếu tố này giúp ta phát hiện
được thực tại đối với con người. Trong các tác phẩm của Nam Cao,
KGNT vừa là phương thức tồn tại, biểu đạt thế giới nghệ thuật, vừa là
hình tượng nghệ thuật để tái tạo đời sống. Không gian nghệ thuật
trong “Sống mòn” là nơi nhân vật sống, hành động, suy nghĩ. KGNT
trong “Sống mòn” cũng là một hình tượng nghệ thuật biểu hiện cuộc
sống tù túng, bế tắc, “sống mòn” của tầng lớp trí thức Việt Nam trước
Cách mạng tháng Tám. Tìm hiểu thi pháp KGNTcủa Nam Cao không
chỉ giúp chúng ta hiểu được cách hiểu, cách thể hiện thế giới của Nam
Cao mà còn thấy được những băn khoăn
trăn
là bát cơm từ bữa trưa để phần lại, ủ trong chăn, cả nhà nhường cho
Thứ: bà không ăn vì lấy cớ già rồi, không cần ăn nhiều; Liên (vợ Thứ)
cũng không ăn vì nghĩ chồng cần phải ăn hơn…Lớp không gian này
cho thấy nguồn gốc con người lương thiện, nhân bản trong Thứ, là
nơi neo đậu của tâm hồn Thứ, giữ và khẳng định, chứng minh anh ta
“sống” mà không đánh mất lương tri, không đánh mất nhân phẩm.
Không gian thành thị là nơi Thứ rời làng để đến với hy vọng
thực hiện
đượ
c
những
ước mơ tốt đẹp của đời mình. Không gian hiện
ra nhỏ hẹp, tù túng: nơi thứ ở trọ, cả hai nơi đều chật hẹp, nơi ở lần
sau chuyển đến còn tệ hại hơn: “lối đi bẩn thỉu và rác rưởi,…những
vũng nước đen, những chỗ đất phủ rêu
nhầy
nhầy,
những đống rác lù
lù, bừa bãi,… mùi khai khai, khăn khẳn bốc lên”; người ở tạp nham
đủ nghề và đủ người ở tầng lớp đáy cùng của xã hội. Các chi tiết về
đời sống, của Thứ vẫn là đời sống của
ngườ
i nghèo, bữa ăn của người
nghèo, cách chia sẻ bữa ăn của người nghèo. Từ không gian làng quê
đến không gian thành thị, tuy điểm không gian có khác nhau nhưng
vẫn là không gian sống của người nghèo khó: chật chội, lam lũ, ảm
đạm.Bên cạnh những chi tiết về cuộc sống của Thứ, những chi tiết về
những người xung quanh Thứ như San, Oanh, Đích cũng nhất quán
như vậy. Ở quê hay thành thị Thứ và những người bạn trí thức của
như một kẻ chung thân… luôn nhận mình là con sâu cái kiến”. Đi liền
với những con người ấy là “cơm gạo đỏ như nâu, độn ngô khoai…”
Liên - vợ Thứ ở quê “lo hóp người đi, ăn chẳng đủ no, và chỉ chăm
sóc đứa con nay sài mai đẹn của y cũng đứt hết thở rồi, huống chi còn
phải làm để kiếm tiền thêm…” Không gian làng quê hiện ra trong tâm
tưởng Thứ cùng với những kỷ niệm buồn, nỗi xót xa, trăn trở, dằn vặt,
hối hận với vợ con, với mẹ,: “bà chưa bao giờ
đượ
c
ăn
ngon, chưa
bao giờ được nghỉ nghơi, không thể tin rằng người ta có quyền nghỉ
ngơi, chưa bao giờ được vui vẻ, yêu đương…”, “… y rất sợ bà chết đi
mà chưa được hưởng một chút
gì,
chư
a trông thấy một tí gì của chính
y”. Không gian tâm tưởng vì thế luôn đè nặng trong tâm
hồn
Thứ,
cùng với những lo toan hiện tại làm cho đời sống tinh thần của anh ta
luôn ngột
ngạ
t,
bế
tắc. Không gian tâm tưởng lại chính là không gian
làng quê, chính là nơi Thứ đã muốn đi xa, từ giã nó và là nơi cuối
cùng anh ta đành phải quay trở về. Điều này biểu hiện cuộc sống luẩn
quẩn, bế tắc, không lối thoát của Thứ, của những người tri thức nghèo
sống sẽ dễ dàng hơn, công bằng hơn…đẹp đẽ hơn”. Không gian nghệ
thuật của tác phẩm “Sống mòn” vì thế
không
phả
i là không gian khép
kín như nhiều tác phẩm hiện thực phê phán khác của Nam Cao.
Không gian của “Sống mòn” là không gian mở. Cấu trúc mở của
không gian cuối tác
phẩm
có ý nghĩa như một chút niềm tin, một dự
báo cho tương lai người trí thức có lương tri như Thứ sẽ thoát ra khỏi
“sống mòn”, sẽ sống một cuộc sống đích thực có ý nghĩa đẹp đẽ
hơn.Trong thực tế, chính nhà văn Nam Cao đã tự mình thoát khỏi sự
bế tắc của thế hệ mình để trở thành một nhà văn cách mạng.
Không gian nghệ thuật mà Nam Cao xây dựng không chỉ là nơi
nhân vật sống, hoạt động mà còn là hình tượng nghệ thuật- đó là một
nét đặc biệt trong thi pháp không gian của Nam Cao. Không gian nghệ
thuật trong “Sống mòn” cũng như không gian nghệ thuật trong “Chí
Phèo”, “Lão Hạc” đều là những hình tượng nghệ thuật có ý nghĩa sâu
sắc. Thành công của Nam Cao ở phương diện này là nhà văn vừa quan
sát tinh tế và cảm nhận không gian trong mối quan hệ với con người,
vừa dụng công lựa chọn chi tiết, tổ chức kết cấu không gian nghệ thuật
của tác phẩm như một hình tượng nghệ thuật quan trọng. Không gian
vừa là hiện thực nghiệt ngã, vừa là chiều sâu của tâm trạng nhân vật,
vừa phản chiếu nhận thức, tư tưởng của tác giả… Đó là đặc điểm tiêu
biểu của không gian nghệ thuật trong hầu hết các tác phẩm của Nam
Cao.
Không gian nghệ thuật là một phương diện của thi pháp giúp
người đọc có thể tìm hiểu, nắm bắt tác phẩm văn học một cách sâu