Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN VĂN HUẤN
HÌNH TƢỢNG THẦN TRONG THẦN THOẠI
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đức Ngôn
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN
Tác giả
Nguyễn Văn Huấn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THẦN THOẠI VÀ
VIỆC PHÂN LOẠI HÌNH TƢỢNGTHẦN TRONG THẦN THOẠI
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM 14
1.1 Một số vấn đề lí luận về thần thoại 14
1.1.1 Các quan niệm khác nhau về thần thoại 14
1.1.2 Cơ sở hình thành và tồn tại của thần thoại trong cộng đồng các
dân tộc thiểu số Việt Nam 20
1.2. Hình tượng thần và việc phân loại hình tượng thần trong thần thoại
các dân tộc thiểu số Việt Nam 25
1.2.1 Hình tượng nghệ thuật và hình tượng thần 25
1.2.2 Phân loại hình tượng thần 26
3.1. Những môtíp cơ bản trong cấu trúc hình tượng thần 83
3.1.1. Môtip hình dạng khổng lồ 83
3.1.2. Các môtíp thể hiện hành động phi thường 85
3.2. Các biện pháp nghệ thuật chủ yếu để xây dựng hình tượng thần trong
thần thoại của các dân tộc thiểu số Việt Nam 90
3.2.1. Phóng đại 90
3.2.2. So sánh 94
2.2.3. Ẩn dụ 96
3.3. Sắc thái tộc người trong việc xây dựng hình tượng nhân vật 99
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
3.3.1 Sắc thái tộc người thể hiện qua những yếu tố biểu thị không gian
địa lí vùng miền 100
3.3.2 Sắc thái tộc người thể hiện những yếu tố biểu thị giá trị văn hóa
vật chất gắn liền với hình tượng thần 101
3.3.3 Sự phát triển hình tượng thần trong thần thoại các dân tộc 103
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Nxb : Nhà xuất bản
KHXH : Khoa học xã hội
văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể” và “coi trọng
và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng phát triển những
giá trị mới về văn hoá văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số là một nhiệm
vụ vô cùng cấp bách" [37, tr 214]
Trong dòng chảy ào ạt của cuộc sống hiện tại, có những yếu tố văn hóa
tồn tại từ lâu đời nhưng nếu chúng ta không tìm hiểu thì cũng không thể nhận
thức được cặn kẽ vấn đề. Chẳng hạn tại sao khi động thổ làm nhà, người ta lại
thường cúng thổ địa? Tại sao dân gian lại có câu "Thần cây đa, ma cây gạo,
cú cáo cây đề" và việc thờ cúng ở cây cổ thụ sao lại diễn ra dường như ở mọi
nơi, mọi chốn. Tất cả những câu hỏi trên, chúng ta đều tìm thấy câu trả lời khi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
phân tích cặn kẽ thần thoại - một thể loại có lịch sử ra đời từ xa xưa của mỗi
dân tộc. Nói như vậy có nghĩa là thần thoại ẩn chứa trong đó vẻ đẹp, nhiêu
truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc. Việc tìm hiểu thần thoại đồng thời là
một hành trình thưởng thức, lí giải vẻ đẹp văn hóa của thời kì "một đi không
trở lại". Đứng trước thực tế tiếng nói của nhiều dân tộc đang bị mai một, thế
hệ trẻ ngày nay, nhiều người đã quên cả vốn văn hóa, văn học của dân tộc
mình, việc tìm hiểu vẻ đẹp của thần thoại các dân tộc thiểu số chính là góp
phần tìm lại vẻ đẹp văn hóa và ngôn ngữ của họ.
Khoa học về Văn học dân gian ở Việt Nam trong thời gian qua đã có
những bước phát triển rất nhanh chóng. Việc nghiên cứu thể loại thần thoại
cũng đã đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên việc nghiên cứu thần thoại các
dân tộc thiểu số vẫn còn ít ỏi. Những chuyên luận chuyên sâu về hình tượng
thần trong thần thoại các dân tộc thiểu số ở Việt Nam dường như chưa có.
Thực tế trên là điều băn khoăn không những của cá nhân tôi mà của nhiều
người quan tâm tới văn học dân gian. Vì thế trong quá trình học tập, tìm hiểu,
nghiên cứu tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là "Hình tượng thần
sưu tầm về thần thoại miền núi gồm các dân tộc: Mường, Thái, H
'
Mông, Dao,
Lô lô, Ba na, Ê đê Ngoài việc công bố những tác phẩm sưu tầm về thần thoại
các dân tộc thiểu số, tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề của thần thoại
như: nguồn gốc, tính chất và nghệ thuật, diễn tiến của thần thoại Việt Nam,
tương quan giữa thần thoại các dân tộc Để khẳng định mối tương quan giữa
thần thoại các dân tộc, ông viết " Sự tương quan giữa thần thoại các dân tộc
đã có thời kì đặc biệt ảnh hưởng lẫn nhau. Như trong thần thoại của đồng bào
thiểu số ở cao nguyên Nạn hồng thủy cũng có ở thần thoại cảu các sắc dân
trên dãy. Trường Sơn và thượng du Bắc Việt. Thần thoại Việt Nam có nhiều
nhân vật đều mang tên nhân vật trong thần thoại Trung Quốc " [20; tr. 9]
Năm 1961, nhà nghiên cứu Phúc Khánh đã cho ra đời cuốn Thử tìm
hiểu những yếu tố tư tưởng triết học trong thần thoại. Sách được chia là hai
phần chính: phần thứ nhất là mấy nét về bối cảnh lịch sử của thần thoại Việt
Nam, phần thứ hai là những yếu tố tư tưởng triết học trong truyện thần thoai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Để minh chứng cho những nhận định của mình, tác giả đã dẫn ra nhiều thần
thoại của các dân tộc thiểu số như: thần thoại Lô lô, thần thoại Ba Na Cuốn
sách đó đã mang lại những điều vô cùng lí thú, thể hiện một cách tiếp cận khá
độc đáo đối với thần thoại nói chung và thần thoại các dân tộc thiểu số nói riêng.
Văn học dân gian của các dân tộc ít người được nhìn nhận sâu hơn dưới
góc nhìn của nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn. Trên Tạp chí Văn học số 4
năm 1977 ông đã cho đăng bài viết: Thần thoại và truyền thuyết của các dân
tộc ít người. Nếu như trước đây nhiều người vẫn hoài nghi về sự tồn tại của
thần thoại của các dân tộc thiểu số thì Võ Quang Nhơn đã khẳng định cụ thể
"Ở các dân tộc it người, thần thoại không chỉ đóng vai trò phản ánh một cách
năm 1995 các tác giả Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Huế, Phạm Minh Thảo đã
cho ra mắt bạn đọc cuốn Kho tàng thần thoại Việt Nam. Ngoài lời giới thiệu
về thần thoại, cuốn sách đã chia thành 2 phần: phần 1 giới thiệu về thần thoại
dân tộc Kinh (Việt), phần 2 giới thiệu về thần thoại của các dân tộc thiểu số.
Có thể khẳng định rằng Kho tàng thần thoại Việt Nam là cuốn sách tra cứu vô
cùng bổ ích cho những ai quan tâm nghiên cứu thần thoại.
Nhờ sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, Viện Khoa học xã hội Việt
Nam, Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian đã phối hợp chủ trì biên soạn bộ
Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam bao gồm 23 tập.
Tập 3 dành riêng cho thần thoại của các dân tộc thiểu số. PGS-TS Nguyễn Thị
Huế đã có phần dẫn luận giới thiệu đánh giá toàn diện về thể loại thần thoại
của các dân tộc thiểu số với những nội dung chủ yếu: định nghĩa thần thoại,
cơ sở ra đời của thần thoại, phân loại và nội dung phản ánh của thần thoại các
dân tộc thiểu số. Phần giới thiệu các tác phẩm thần thoại song ngữ (ngôn ngữ
dân tộc thiểu số và ngôn ngữ Kinh) bao gồm 10 dân tộc: Cơ Ho, Ê Đê, H
Mông, Hà Nhì, Mạ, Mơ Nông, Ra Lai, Sán Dìu, Tà Ôi, Thái.
Ngoài những công trình nghiên cứu về thần thoai kể trên, chúng ta còn
phải kể đến những công trình nghiên cứu của Phan Đăng Nhật (Văn học các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
dân tộc thiểu số Việt Nam ra đời năm 1981), Đinh Gia Khánh - Chu Xuân
Diên (Văn học dân gian Việt Nam gồm 2 tập, ra đời năm 1997), Lê Chí Quế -
Nguyễn Hùng Vĩ - Võ Quang Nhơn (Văn học dân gian Việt Nam ra đời năm
1990), Đinh Văn Lành (Bước đầu tìm hiểu thần thoại dân tộc Thái ra đời năm
2000) bên cạnh đó là các luận văn, luận án của nhiều nghiên cứu sinh, học
viên cao học
2.2 Nghiên cứu về hình tượng thần trong thần thoại
Nghiên cứu thần thoại có thể xuất phát từ nhiều góc độ nhưng vấn đề
Chân ngài là đất
Con người là trái tim của vua cha
Mắt bên trái của thần là mặt trời
Mắt bên phải của thần là mặt trăng
Cũng như người Thái và các dân tộc anh em ở phía Bắc, nhiều dân tộc
anh em ở phía Nam cũng quan niệm - qua hệ thống thần thoại của họ - thiên
nhiên do hàng loạt các vị thần hợp sức nhau sáng tạo ra. Như người Srê và
người Mạ ở Lâm Đồng cho rằng thần Bung(hoặc Kbung) là vị thần đã sáng
tạo ra đất trời. Tiếp theo đó có các thần như Tang, Lút, Kon, Xur, Blang, K
'
yan…sáng tạo nên cây cỏ (như tranh, tre, chuối dứa…), muông thú(từ con
kiến bé nhỏ đến con voi, con hổ)… [10; tr. 590]
Công trình khoa học khá đồ sộ Kho tàng thần thoại Việt Nam do Vũ
Ngọc Khánh chủ biên xuất bản 1995 đã có nhiều kiến giải về hình ảnh thần
trong thần thoại một số dân tộc thiểu số. Sách có đoạn viết "…Kể về nguồn
gốc vũ trụ và thế giới tự nhiên, người Thái có sử thi Ẳm ệt luông, người Lô lô
có Bài ca trời đất, người H Mông có thần thoại Khúa Kê…Trong đó có kể đến
nhiều vị thần khai sáng xây dựng vũ trụ: ở người Lô Lô là ông bà Ket Dơ, Ga
Gi; ở người Thái là Xô Công Phạ, Xô Công Din, có nơi thì lại cho là do Thẻn
Luông sinh ra trời đất và mọi vật. Còn ở người Chăm thì kể rằng trời đất là do
Thần Trời (thần Cha) và thần Đất (thần Mẹ) sáng tạo nên. Trong thần thoại sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường là ông Chu Tha và bà Chu Thiên…Tên
gọi các vị thần sáng tạo ra vũ trụ và thiên nhiên ở các dân tộc kể trên tuy có
khác nhau nhưng các vị thần ấy có cái chung: họ là những cặp vợ chồng khai
sáng vũ trụ, trời đất đã được sinh ra từ sự hôn phối của hai ông bà có tầm vóc
đối với những ai đang xem xét phương diện hình tượng các thần trong thần
thoại các dân tộc thiểu số Việt Nam. Dù vậy với tính chất là công trình khoa
học giới thiệu, hệ thống hóa các văn bản thần thoại là chính do đó tài liệu chưa
đi sâu đánh giá, xem xét kĩ hình tượng các thần trong các văn bản thần thoai.
Thần thoại cũng như hình tượng thần trong thần thoại của các dân tộc
thiểu số tiếp tục là đối tượng nghiên cứu của các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ.
Năm 1997, Đàm Quang Kế đã thực hiện đề tài "Hệ thống nhân vật
trong sử thi thần thoại Mường "Đẻ đất đẻ nước". Đề tài trên đã tiến hành
khảo sát, phân loại hệ thống nhân vật và đặc biệt đi sâu phân tích 8 nhân vật
được coi là 8 vị anh hùng, tám vị thần của người Mường. Đó là hình tượng
các nhân vật Dạ Dần, Lang Cun Cần, Lang Cun Khương, Toóng Ín, Tặm
Tạch, Pồng Pêu, Tun Mun, Dật Cái Dành. Xét về phương diện văn học, luận
văn trên đã áp dụng những lí thuyết về nhân vật để đánh giá, phân tích khá
cặn kẽ vẻ đẹp các nhân vật. Tuy vậy đứng về phương diện tìm hiểu một tác
phẩm dân gian, việc phân tích các hình tượng nhân vật thần thoại như văn học
viết là một thiếu sót về phương pháp luận.
Sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường tiếp tục là đề tài
được học viện Búi Văn Thành quan tâm nghiên cứu. Đề tài mà Bùi Văn
Thành nghiên cứu có tên là Thế giới biểu tượng thần thoại trong mo Mường.
Trong quá trình nghiên cứu của mình, tác giả đề tài kể trên đã tiếp cận hệ
thống hình tượng, biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa, lịch sử nghĩa là đi tìm
cội nguồn hình tượng, quá trình sinh tồn của hình tượng để dần vươn lên là
những biểu tượng văn hóa của người Mường. Hình tượng Dạ Dần được phân
tích, nhìn nhận là hình ảnh của một vị thần, một biểu tượng mang tính văn
hóa. "…Có thể nói, Dạ Dần là một vị thần vũ trụ khởi nguyên, có công sắp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
xếp thê giới và làm toàn bộ các công việc quan trọng buổi đầu để cõi hỗn
Truyện kể về người anh hùng Bồ Piêl (nay là tên của một ngọn núi vùng Bảy
núi của An Giang) có công trừ cá sấu hung ác, bảo vệ cuộc sống của người
dân"…[30; tr. 57]
Những nghiên cứu trên của tác giả Phạm Tiết Khánh rất có ý nghĩa đối
với thần thoại của người Khơ Me Nam Bộ. Rất tiếc tác giả chưa có sự mở
rộng để phân tích hình tượng thần của các dân tộc thiểu số khác.
Ngoài các đề tài nghiên cứu trên, ta có thể kể đến các đề tài khác đã
bước đầu khai thác vẻ đẹp hình tượng các vị thần trong thần thoại các dân tộc
thiểu số như: "Quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các
dân tộc thiểu số Việt Nam" của Phạm Minh Lường, thực hiện năm 2001. Đề
tài này đã hệ thống những hình ảnh các vị thần trong thần thoại các dân tộc
thiểu số từ đó đưa ra những kết luận về quan điểm nghệ thuật của một số tộc
người như: Mường, Thái, Ê Đê…Bên cạnh đó chúng ta có thể tìm thấy hình
ảnh sơ lược về các vị thần qua đề tài nghiên cứu của Lê Thị Tây Phương có
tên: "Tìm hiểu quan niệm về cái đẹp và nghệ thuật trong văn học dân gian
Việt Nam". Hình ảnh một số vị thần được khai thác ở cả hai phương diện là
nội dung và nghệ thuật.
Những công trình nghiên cứu trên thực sự là những tài liệu vô cùng giá
trị góp phần đánh giá giá trị thần thoại của các dân tộc thiểu số nói riêng và
dân tộc Việt Nam nói chung.Tuy vậy các công trình nghiên cứu trên ít hoặc
chưa đặt ra trọng tâm phân tích sâu hình tượng thần trong thần thoại. Từ thực
tiễn tình hình nghiên cứu trên, được sự hướng dẫn của thầy Trần Đức Ngôn,
tôi đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là "Hình tượng thần
trong thần thoại các dân tộc thiểu số Việt Nam".
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Khẳng định những giá trị của hình tượng thần trong thần thoại của các
dân tộc thiểu số Việt Nam góp phần làm phong phú thêm tri thức về thần
thoại nói chung và thần thoại các dân tộc thiểu số nói riêng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
- Phương pháp tổng hợp, liên ngành
5.2 Tư liệu khảo sát
Các văn bản thần thoại trong cuốn
- Kho tàng thần thoại Việt Nam do Vũ Ngọc Khánh (chủ biên) cùng
PGS. TS Nguyễn Thị Huế, Phạm Minh Thảo biên soạn, Nxb Văn hóa thông
tin, H 1995.
- Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 3 - Thần
thoại do PGS. TS Nguyễn Thị Huế (chủ biên), NXB Khoa học xã hội, H 2009
- Lược khảo thần thoại Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi, Nxb Văn - Sử
- Địa xuất bản 1961
6. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận: Hệ thống hóa tri thức về thể loại thần thoại cũng như tri
thức về hình tượng nhân vật thần trong thần thoại các dân tộc thiểu số Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: góp phần làm phong phú, giàu đẹp hơn giá trị văn
hóa, văn học của các dân tộc thiểu số thông qua việc phân tích đánh giá về
hình tượng thần trong thần thoại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THẦN THOẠI VÀ VIỆC
PHÂN LOẠI HÌNH TƢỢNGTHẦN TRONG THẦN THOẠI
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
văn học mà tồn tại trong nó rất nhiều tri thức tổng hợp, đa dạng, nó là một
kiểu tư duy tồn tại phổ biến ở nhiều loại hình nghệ thuật cũng như trong cuộc
sống của người xưa.
Trong công trình nghiên cứu của mình, Lại Nguyên Ân đưa ra cách
hiểu về thần thoại như sau "Sáng tạo của trí tưởng tượng tập thể toàn dân,
phản ánh khái quát hiện thực dưới dạng những vị thần được nhân cách hóa
hoặc những sinh thể có linh hồn mà dù là quái tượng, phi thường đến mấy
cũng vẫn được đầu óc người nguyên thủy nghĩ và tin là hoàn toàn có thực.
Mặc dù thần thoại tồn tại như những truyện kể về thế gian, nhưng thần thoại
không phải là một thể loại ngôn từ mà là những ý niệm và biểu tượng nhất
định về thế giới. Cảm quan thần thoại nói chung không chỉ bộc lộ bằng truyện
kể, mà còn bộc lộ trong nhiều hình thức khác: trong hành động (nghi lễ, lễ
thức, răn cấm), trong các bài ca, điệu nhảy… Đặc trưng của thần thoại thể
hiện rõ nhất trong văn hóa nguyên thủy, ở đó thần thoại là cái tương đương
với "văn hóa tinh thần" và "khoa học" ở xã hội cận hiện đại. Trong đời sống
của các cộng đồng nguyên thủy, thần thoại là cả một hệ thống, con người
nguyên thủy tri giác và mô tả thế giới bằng các biểu tượng của hệ thống ấy.
Thần thoại là ý thức nguyên hợp của xã hội nguyên thủy. Về sau, thần thoại
phân chia thành các hình thái ý thức xã hội như tôn giáo, nghệ thuật, văn học,
khoa học, tư tưởng chính trị…thì các hình thái ấy vẫn bảo lưu trong chúng
hàng loạt mô hình thần thoại, được chế biến lại để đưa vào cấu trúc mới, thần
thoại có cuộc sống thứ hai".[16; tr. 299]
Như vậy khái niệm thần thoại ở đây cũng được hiểu là một hình thức tư
duy, tồn tại phổ biến trong cộng đồng nguyên thủy, nhờ lối tư duy này mà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
người nguyên thủy tri giác về thế giới và con người. Đó là lối tư duy thần
thoại, in dấu trong các hình thái ý thức xã hội. Văn học là một loại hình nghệ
nội dung của nó mang nặng tính chất hoang đường ảo tưởng nhưng trong đó
cũng chứa đựng nhiều yếu tố có giá trị quan trọng về nhiều mặt. Sự nhận thức
và lí giải sai lầm, ảo tưởng về thế giới ở trong thần thoại là điều tất yếu không
thể tránh khỏi" [7; tr. 315].
Ý kiến này của F. Enghen cho chúng ta thấy hai vấn đề mang tính bản
chất của thể loại thần thoại. Thứ nhất đó là sản phẩm tinh thần của người
nguyên thủy, mang tính chất ảo tưởng hoang đường nhưng chứa đựng nhiều
yếu tố có giá trị về nhiều mặt. Thứ hai là sự nhận thức và lí giải sai lầm, ảo
tưởng tồn tại trong thần thoại mang tính tất yếu không thể tránh khỏi, nó
chính là dấu hiệu của tư duy nguyên thủy đặc thù mà ta chỉ có thể tìm trong
thần thoại mà thôi.
Nhiều nhà nghiên cứu văn học trong nước từ lâu đã tìm cách định nghĩa
thần thoại theo cách nhìn nhận của riêng mình.
Một trong những tài liệu nghiên cứu mang tính chất mở đường về
nghiên cứu thần thoại ở nước là cuốn Lược khảo về thần thoại Việt Nam của
Nguyễn Đổng Chi. Trong tài liệu này, ông đã định nghĩa thần thoại như sau
"Thần thoại là một truyện cổ tích. Trong các truyện cổ tích có thể chia làm hai
thứ: một thứ nội dung hoàn toàn nói về người hoặc về vật mà ta có thể gọi là
nhân thoại, vật thoại, trong đó không có sức thần phép tiên len vào; một thứ
trái lại, bao hàm ít nhiều chất hoang đường quái đản. Thần thoại thuộc về thứ
sau" [20; tr. 9].
Cách hiểu trên đây của Nguyễn Đổng Chi đã cho chúng ta thấy mấy
vấn đề hết sức phức tạp trong nghiên cứu thần thoại:
- Thứ nhất, ranh giới giữa thần thoại và một số thể loại khác (đặc biệt là
với truyền thuyết, cổ tích) là khá mong manh, do đó có những tác phẩm được
xếp vào nhiều thể loại.
- Thứ hai, cách thức phản ánh của thần thoại và cổ tích có những nét
hết sức giống nhau từ đó dẫn tới việc phân loại và nghiên cứu thần thoại gặp
nhiều rắc rối.