quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số việt nam - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HOÀNG MINH LƯỜNG

QUAN NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN
CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC
MÃ SỐ 5.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS KH BÙI VĂN BA (PHƢƠNG LỰU)

HÀ NỘI - 2001


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HOÀNG MINH LƯỜNG

QUAN NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN
CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC
MÃ SỐ 5.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN


SỐ. ..................................................................................................................................... 112
3.1. Đổi mới quan niệm về nghệ thuật ở các nhà văn dân tộc thiểu số hiện đại . .......... 115
3.2. Sự kế thừa quan niệm về nghệ thuật dân gian cổ truyền của các nhà văn dân tộc
thiểu số hiện đại . ........................................................................................................... 125
KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 153
NHỮNG CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ .............................................................................................................................. 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................... 160


MỞ ĐẦU
1. Giải thích và giới thuyết đề tài:
Hegel có nói rằng, nhiệm vụ đầu tiên của nghiên cứu khoa học là phải giới thuyết đối
tƣợng nghiên cứu. Nói rộng ra về luận án khoa học là phải giới thuyết và giải thích đề tài thật
rõ ràng, nhất là đối với đề tài : Quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền
của các dân tộc thiểu số Việt Nam với tƣ cách là một đề tài thuộc chuyên ngành Lý thuyết
và lịch sử văn học ít nhiều còn có phần khác lạ, lại càng cần phải giải thích cận kẽ trƣớc về
một số điểm cần thiết :
Nói Quan niệm về nghệ thuật ... chứ không phải chỉ riêng cho quan niệm về văn học,
bởi vì văn học và nghệ thuật vốn phần nào có những đặc điểm và những nguyên lý chung,
hơn nữa trong văn học dân gian cổ truyền vốn tồn tại trong dạng phôn cờlo mang tính chất
tổng hợp quả thực có nói nhiều đến những hoạt động nghệ thuật cụ thể, cho dù ở đó chƣa có
khái niệm nghệ thuật chung.
Nói đến ... Văn học dân gian... , nhƣng đây không phải là đề tài thuộc chuyên ngành
Văn học dân gian, cho nên chúng tôi xin đƣợc phép chƣa vận dụng những phƣơng pháp của
chuyên ngành này nhƣ : khảo dị văn bản, kiểm đính lời dịch, đặc biệt là phƣơng pháp điền dã,
sƣu tầm thêm v.v... Để khảo sát, thống kê và nghiên cứu khái quát các quan niệm về nghệ
thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số, chúng tôi chỉ dựa vào những văn
bản mà các Nhà xuất bản có trách nhiệm đã công bố mặc dù chƣa hầu khắp nhƣng cũng đã là
những văn bản của tuyệt đại bộ phận các dân tộc thiểu số mà chúng tôi sẽ liệt kê ở các phần


hay chẳng luận dài dòng hoặc tiếng đàn Thạch Sanh trong văn học dân gian của dân tộc
Kinh) để khái quát lên những quan niệm nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc anh em chắc
chắn sẽ có phần sát hợp hơn. Tất nhiên từ những cứ liệu nhƣ vậy, việc khái quát lên những
quan niệm nghệ thuật dân gian sẽ khó có thể tránh khỏi những sắc màu cảm quan tự phát,
chƣa có đƣợc hệ thống chặt chẽ của lý luận hoàn bi. Cho nên chúng tôi xem đây chỉ là một
mũi tiếp cận vào ý thức nghệ thuật của dân gian, nó hoàn toàn không thể thay thế cho những
con đƣờng tiếp cận khác đối với di sản phôncờlo vô cùng phong phú và đặc sắc của các dân
tộc anh em. Tuy nhiên đây cũng là một hƣớng tiếp cận có ý nghĩa và không phải là không có
đủ độ tin cậy. Cũng nhƣ chỉ qua hai câu thơ "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm" và
"Nay ở trong thơ nên có thép"..., chúng ta cũng có thể thấy đƣợc một phƣơng diện quan trọng
trong tƣ tƣởng văn nghệ của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và Hồ Chí Minh. Cho nên cũng xin
đƣợc tin rằng hƣớng tiếp cận của luận án này sẽ bƣớc đầu mở đƣợc một cánh cửa thoáng rộng
để nhìn sâu vào các quan niệm về nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc thiểu số anh em.
Trong khoa học, quý hồ góp thêm đƣợc một tiếng nói tƣơng đối mới mẻ, miễn là tiếng nói đó
đƣợc xây dựng dựa trên những căn cứ xác đáng.
Trở lên là một số điểm cần thiết phải giải thích một cách tập trung liền mạch từ trƣớc,
mặc dù sẽ còn phải chứng giải cụ thể thêm trong những mục tƣơng ứng nhƣ đối tượng,
phương pháp nghiên cứu, ... riêng lẻ ở sau.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trong di sản văn học nghệ thuật của nƣớc Việt Nam đa dân tộc, văn học dân gian các
dân tộc thiểu số có vị trí đặc biệt quan trọng. Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu mảng văn học này
đủ ở phƣơng diện nào cũng đều đáng khích lệ và cổ vũ. Các chuyên gia văn học dân gian
nƣớc ta đã có nhiều nỗ lực trong cuộc hành trình tìm tòi, thu nhập và nghiên cứu văn học

3


dân gian các dân tộc thiểu số về nhiêu khía cạnh khác nhau. Song hƣớng nghiên cứu chuyên
chú vào các quan niệm nghệ thuật của bộ phận văn học này trong, các mối quan hệ đồng đại

Đến với các quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc
thiểu số, ngoài mục đích hiểu sâu hơn những vấn đề của sáng tác truyền thống, từ đó cũng có
tác dụng gợi ý mang tính định hƣớng tích cực đối với các sáng tác hiện đại về mảng đề tài
dân tộc và miền núi. Phải thừa nhận rằng, trên thực tiễn sáng tác của các nhà văn dân tộc
thiểu số hiện đại, bên cạnh số đông các nhà văn chẳng mấy khi ly thoát hoàn toàn khỏi.
những phẩm chất dân tộc truyền thống bền vững tựa nhƣ đã hằn sâu tự nhiên vào máu thịt
của họ thì vẫn còn đây đó nhà văn đổi mới thái quá đến nỗi làm mờ nhạt bản sắc dân tộc
truyền thống. Vì thế, việc thấu hiểu sâu sắc hơn các quan niệm nghệ thuật truyền thống rõ
ràng sẽ có tác dụng mách bảo cho các nhà văn hiện đại những phƣơng thức sáng tạo mang
đậm bản sắc dân tộc truyền thống của cha ông mình để từ đó quán triệt một cách tự giác hơn
vào thực tiễn sáng tạo tác phẩm. Quả vậy, việc thấu hiểu bản chất đích thực của các quan
niệm nghệ thuật dân gian cổ truyền các dân tộc trong các mối quan hệ đồng đại và lịch đại
của nó là một yêu cầu quan trọng đối với việc học tập và chiếm lĩnh nguồn tri thức về nghệ
thuật của dân tộc để từ đó có ý thức và thái độ đúng đắn đối với quá trình kế thừa và đổi mới
trong thực tiễn sáng tạo của các nhà văn hiện đại theo tinh thần tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc.
Việc lý giải thấu đáo các quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các
dân tộc thiểu số còn tạo ra những cơ sở và điều kiện

5


thuận lợi cho việc giáng dạy và học tập các tác phẩm văn học dân gian các dân tộc ít ngƣời
trong các nhà trƣờng thuộc mọi cấp học của chúng ta hôm nay. Và ngay trong việc học tập và
giảng dạy Lý luận văn học. các kiểu giải về nghệ thuật của dân gian các dân tộc anh em cũng
sẽ góp phần hiện thực hóa những tri thức lý thuyết khái quát bởi các cứ liệu sinh động và độc
đáo. Nhà đó những nguyên lý phổ quát về các vấn đề thẩm mỹ và nghệ thuật sẽ không chỉ
đóng khung khép kín trong giới hạn chủ yếu của văn học việt mà còn tỏa rộng sức thuyết
phục của nó tới mọi chiều kích sâu xa của lịch sử văn hóa nghệ thuật cha ông trong đó có các
di sản quan niệm nghệ thuật. của các dân tộc anh em. Nhƣ thế mục đích nghiên cứu đề tài

đến quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số đã có tác dụng gợi ý
cho chúng tôi không những về phƣơng hƣớng nội dung mà còn cả về cách thức khai thác của
đề tài.
Ngoài ra cũng cần kể đến một số công trình khác có liên quan gián tiếp tới đề tài nhƣ
Về đặc điểm thẩm mỹ của truyện cổ tích thần kỳ ở Việt Nam (Văn học số 5/1972) và bài Về
quan niệm thẩm mỹ dân gian Việt Nam (Văn học số 1/1984) của tác giả Hà Châu. Tác giả
Nguyễn Xuân Kính có bài "Qua những tư liệu văn nghệ dân gian, tìm hiểu quan niệm của
ông cha ta về người nghệ sĩ" (Văn hóa dân gian số 3/1987). Tác giả Nguyễn Thị Huế có
một số công trình lý thú xoay quanh vấn đề Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích
các dân tộc Việt Nam (Văn học số 4/1985) hoặc Mô típ tiếng hát trong truyện kể dân gian
Việt Nam (Văn học số 5/1991). Điều đáng nói, những công trình trên chỉ chủ yếu phân tích,
đánh giá sáng tác nghệ thuật dân gian song vẫn gián tiếp gợi ý cho chúng tôi trong việc khái

7


quát quan niệm về nghệ thuật dân gian, cụ thể là dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt
Nam.
Về phần mình, hơn 10 năm qua chúng tôi đã có ý thức chủ động đến với đối tƣợng
quan tâm của mình qua những tìm tòi, gạn lọc các cứ liệu có liên quan đến quan niệm về
nghệ thuật (và cái đẹp) trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số. Từ những số liệu khảo sát
đƣợc, bƣớc đầu chúng tôi cũng đã có đƣợc một số kết quả nghiên cứu đã từng đƣợc công bố.
Chẳng hạn các bài viết: Bước đầu tìm hiểu quan niệm về vẻ đẹp lý tưởng của con người
trong văn học dân gian một số dân tộc ít người ở Việt Bắc (Thông báo khoa học của Trƣờng
Đại học Sƣ phạm Việt Bắc số [11/1980); Những nét tương đồng trên bình diện quan niệm
về cái đẹp trong văn học dân gian các dân tộc Việt Nam (Thông báo khoa học của Trƣờng
Đại học Sƣ phạm Việt Bắc số 11/l990); Quan niệm về cái đẹp trong văn học dân gian các
dân tộc thiểu số Việt Nam (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trƣờng -Trƣờng Đại học Sƣ
phạm Việt Bắc năm 1992) v.v...
Tóm lại, từ trƣớc tới nay, vấn đề quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ

ca, tục ngữ v.v...
Những cảm nhận, khái quát về nghệ thuật dƣới dạng phát biểu trực tiếp thƣờng gặp
trong các thể loại văn vần dân gian nhƣ ca dao dân ca tục ngữ, thành ngữ... Ở đây các phát
biểu, cảm nhận của dân gian về nghệ thuật hiện lên trực tiếp nhƣ những lời lẽ tự nghiệm,
tuyên ngôn bộc trực về nghệ thuật (nhƣ: "Thiếu tiếng đàn, tiếng hát nhƣ ăn cơm không canh
ăn rau không muối" (dân ca Thái); "Hát lên cảnh mới đẹp, hát lên nhà mới vui" (dân ca Lô
Lố) v.v...). Những cảm nhận trực tiếp về nghệ thuật nhƣ vậy chủ

9


yếu đƣợc khai thác từ các nguồn tƣ liệu đan ca, tục ngữ dân gian của các dân tộc đã đƣợc ấn
hành dƣới dạng văn bản nhƣ: Dân ca đám cưới Tày Nùng (1973); Dân ca Lò Lô (1975);
Dân ca Tây nguyên (1976); Tục ngữ Thái (1978); Dân ca Cao Lan (1981); Dân ca
H'mông (1984); Ca dao Tày Nùng(1994) v.v...
Cũng là để bày tỏ các quan niệm về nghệ thuật, nhiều khi những cảm nhận của dân
gian lại đƣợc triển khai gián tiếp thông qua hệ thống các hình tƣơng tự sự sinh động có liên
quan trực tiếp đến nghệ thuật thƣờng gặp trong các truyện cổ, truyện thơ, sử thi... ở đây, các
quan niệm về nghệ thuật đƣợc hiện hữu ra thông qua sự biên hóa của các hình tƣợng, ý nghĩa
quan niệm thâm ngấm vào giữn các chi tiết, tình tiết của câu truyện (nhƣ tiếng đàn, lời ca vô
hiệu hóa hành động tàn bạo của lũ giặc cƣớp qua truyện cổ Tiếng hát của người đá của dân
tộc Raglai hoặc tiếng đàn lời ca đánh tan ý chí xâm lăng của quân chƣ hầu 18 nƣớc trong
truyện cổ Chàng Sính của dân lộc H'mông v.v...). Các cảm nhận gián tiếp về nghệ thuật
thƣờng đƣợc gạn lọc từ các tuyển tập truyện cổ các dân tộc hoặc các tập truyện thơ, trƣờng
ca, truyện cổ riêng biệt của từng dân tộc nhƣ: Truyện thơ Tày Nùng (1964 - 1965); Truyện
cổ các dân tộc thiểu số Miền Nam - 2 tập (1975, 1976); Truyện cổ Việt Bắc (1976); Truyện
cổ Ề đê (1978); Truyện cổ Cơtu (1982); Truyện cổ CơHo (1984); Truyện cổ các dân tộc
Trường Sơn Tây Nguyên (1985) Truyện cổ Mảng (1985); Trường ca Tây Nguyên (1985);
Truyện cổ các dân tộc ít người ở Việt Nam - 4 tập (1987 - 1994); v.v...
Có thể nhận thấy đối tƣợng nghiên cứu của đề tài - các quan niệm về nghệ thuật, căn


11


rải rác trong các tác phẩm thuộc mọi thể loại khác nhau của văn học dân gian. Nguyên tắc tối
đa khi thống kê, phân loại là phải dựa vào các cứ liệu quan niệm tổn tại thực trên văn bản tác
phẩm đã đƣợc in ấn để trên cơ sở đó mà tổng hợp, khái quát thành các vấn đề lý luận văn
nghệ chứ không phải là ngƣợc lại. Điều này vô hình trung cũng dự báo trƣớc rằng: Phải dựa
vào những cứ liệu tử những "văn bản" đích thực nhƣ đã nói ở trên để khái quát lên một số
quan niệm nghệ thuật nhất định, tất yếu sẽ không thể và cũng không cần thiết minh chứng
cho toàn bộ những vấn đề, những khái niệm đã có trong hệ thống lý luận văn nghệ hiện nay.
Mặc dù phải hết sức tránh bỏ sót trong khi lƣợm lặt, thống kê khát quát nhƣng nếu cuối cùng
vẫn thiếu vắng vấn đề này, khái niệm kia thì đó là do hạn chế lịch sử tất yếu chính các quan
niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc tộc thiểu số anh em.
Với tính chất, nhiêm vụ của luận án, khó có thể qui hoạch phạm vi khảo sát, thống kê
vào một số thể loại cụ thể hay tác phẩm văn học dân gian của một hay một số dân tộc xác
định nào nhƣ đã từng nói ở trên. Bởi lẽ, không phải ở đâu, lúc nào các khía cạnh quan niệm
về nghệ thuật cũng hiện diện nhƣ một điều kiện tất yếu, thƣờng xuyên trong các tác phẩm.
Quả thực có chuyện có những dân tộc có tác phẩm văn học dân gian đã ấn hành) song không
hề có một phát biểu trực tiếp hoặc gián tiếp nào về nghệ thuật cả Ngay trong phim vi văn học
viết cũng vậy, có những tác gia nổi tiếng xứng tầm đại thụ cua làng văn chƣơng dân tộc song
chắc gì họ đã có ý thức bày tỏ những quan niệm của mình về văn chƣơng nghệ thuật? Vì thế
cho nên hiện trạng xuất hiện các quan niệm nghệ thuật một cách rải rác, lẻ tẻ và thất thƣờng
trong phạm vi các thể loại văn học dân gian âu cũng là chuyện thƣờng tình. Mặt khác, tỷ lệ
xuất hiện quan niệm nghệ thuật giữa các dân tộc cũng không giống nhau. Có dân tộc thì bày
tỏ quan niệm nghệ thuật khá

12



em . So sánh nhƣ thế là so sánh lịch sử, cho nên những vấn đề hữu quan từ phƣơng pháp lịch
sử nhƣ lý thuyết về mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và cách tân... vốn đã đƣợc vận
dụng kết hợp ở đây.
Trong quá trình phân tích, lý giải quan niệm nghệ thuật dân gian, khi có điêu kiện
chúng tôi cũng đặc biệt coi trọng yêu cầu liên hệ với thực tiễn đời sống văn hóa vật chất và
văn hóa tinh thần đa diện của các dân tộc. Văn học dân gian mà trong đó có tiềm ẩn các quan
niệm nghệ thuật là bức tranh văn hóa tổng thể về mọi mặt tri thức da dạng của con ngƣời
đƣợc hun đúc và tích lũy qua quá trình lịch sử dài lâu. Vì vậy việc đặt nội dung các quan
niệm nghệ thuật dân gian trong ý thức liên hệ với thực tiễn sinh hoạt vật chất và tinh thần
phần nào mang tính chất tôn giáo và dân tộc học của các dân tộc thiểu số anh em sẽ giúp
chúng ta lý giải giá trị và ý nghĩa của các quan niệm đƣợc rõ ràng và sinh động hơn. Chẳng
hạn, những thông tin lý thú về lễ hội Lồng tồng của ngƣời Tày - Nùng; lễ hội Bỏ mả của một
số dân tộc Tây Nguyên... do các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cung cấp đã đƣợc đề tài
khai thác có lựa chọn để làm tƣ liệu liên hệ mở rộng trong quá trình phân tích, bình giá các
quan niệm nghệ thuật của dân gian. Các cứ liệu để liên hệ mở rộng ở đây, ngoài việc khai
thác từ các nguồn tài liệu hữu quan còn bao gồm cả những kiến văn cần thiết mà chúng tôi
với tƣ cách là đứa con của dân tộc và miền núi đã có dịp tiếp xúc và trải nghiệm thấm thía từ
thủa ấu thơ giữa cuộc sống muôn mặt của cộng đồng các dân tộc thiểu số anh em.

14


6. Những kết luận mới và cấu trúc luận án.
Nghiên cứu một cách toàn diện các quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian
cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam trong sự đối sánh theo các chiều đồng đại và lịch đại
của nó, bƣớc đầu chúng tôi đã có đƣợc những kết quả nghiên cứu tƣơng đối mới mẻ nhƣ sau:
Trải qua một quá trình lịch sử dài lâu, qua văn học dân gian cổ truyền, các dân tộc
thiểu số anh em đã có ý thức cảm nhận, suy ngâm khá phong phú và sâu sắc về các vấn đề cơ
bản của nghệ thuật nhƣ: về chủ thể nghệ thuật, về vai trò tác dụng của nghệ thuật đối với
cuộc sống đa diện của con ngƣời... Về chủ thể nghệ thuật, những khía cạnh quan niệm có liên

khai quan niệm trên các thể thơ ca, tục ngữ, thành ngữ.... Còn dân tộc Kinh, bên cạnh các thể
loại tự sự dân gian, lại chủ yếu bày tỏ quan niệm nghệ thuật qua các loại thể thơ ca, tục ngữ,
thành ngữ... Về sắc thái nội dung và cách thức biểu đạt quan niệm nghệ thuật, các dân tộc
thiểu số thiên về lối biểu đạt dung dị, mộc mạc, bộc trực thẳng thắn, giàu hình ảnh sinh động,
khác với dân tộc Kinh đã có thiên hƣớng bày tỏ quan niệm một cách khái quát, hàm súc...
Đối sánh với quan niệm nghệ thuật trong văn học các dân lộc thiểu số hiện đại, bên
cạnh những cách tân đổi mới toàn diện và tất yếu trên các bình diện dân tộc thống nhất, cách
mạng và khoa học, các quan niệm nghệ thuật dân gian truyền thống vẫn tỏ rõ sức sống trƣờng
tồn của nó đối với nền văn học hiện đại. Các nhà văn dân tộc thiểu số hiện đại vẫn kế thừa
rộng rãi các quan niệm nghệ thuật truyền thống nhƣ về chủ thể nghệ thuật và vai trò tác

16


dụng của nghệ thuật... vốn có từ trong văn học dân gian. Không chỉ biểu đạt quan niệm nghệ
thuật dƣới "dạng sáng tác", mà ở phạm vi nghị luận hiện đại của các nhà văn dân tộc anh em
vẫn thấm đƣợm cách cảm, cách nghĩ của quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ
truyền.
Để thể hiện những kết quả nghiên cứu nói trên, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh
mục Tài liệu tham khảo.................. luận án đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng chính nhƣ sau:
Chƣơng 1: Những nội dung cơ bản của quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân
gian cổ Truyền các dân tộc thiểu số.
Chƣơng 2: So sánh về quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền giữa
các dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh.
Chƣơng 3: Đối sánh về quan niệm nghệ thuật giữa văn học dân gian cổ truyền với văn
học hiện đại của chính các dân tộc thiểu số.

17



Trong các biểu hiện đa dạng của vẻ dẹp con ngƣời, dân gian các dân tộc ít ngƣời rất
có ý thức quan tâm, đề cao cái đẹp bên ngoài của đối tƣợng. Trong kho tàng tục ngữ một số
dân tộc thiểu số, ý thức về cái đẹp hình thức của con ngƣời đã đƣợc đúc kết sắc gọn thành
những tuyên ngôn bất hủ:
- Tiền bạc nhƣ đất cỏ
Mặt mũi đáng ngàn vàng
(Tục ngữ Tày) [21 ,48]
- Chim đẹp nhờ bộ lông
Ngƣời đẹp nhờ bộ cánh v.v....
(Tục ngữ Thái) [21, 60]
Trong các tác phẩm tự sự dân gian, khi nói về vẻ đẹp bình thể của con ngƣời, dân gian
các dân tộc anh em thƣờng ƣu tiên nói nhiều về - phụ nữ phái đẹp. Các nhân vật nữ xuất hiện
trong tƣ cách là nhân vật chính diện - trung tâm ở các sử thi, truyện thơ, truyện cổ... dù ở Tây
Bắc, Việt Bắc hay Tây Nguyên... đều là hiện thân của cái đẹp bên ngoài đầy quyến rũ. Nàng
Mứn trong truyện thơ Khăm Panh của dân tộc Thái có một vẻ đẹp hình thể thật hoàn hảo:
Nàng đẹp nhƣ nai lƣợn
Nàng nói vui hơn suối reo
Tóc nàng dài, bƣớc mỗi bƣớc tóc leo lên gót
Tóc nhảy theo chân váy phập phồng
Khuôn mặt hình lá trầu không

19


Lá trầu không còn thua mềm mỏng... [153,18].
Vẻ đẹp ấy có thể khuynh đảo, làm sững sờ thế giới muôn loài xung quanh:
Nàng đến bên,suối, suối bỏ đƣờng đi
Nàng ở bên lửa, lửa quên reo cháy
Nàng vào rừng, nai quên chạy tìm đàn
Hoẳng thôi chạy lang thang... [153 18]

Lành ngoài mà mục trong v.v...
(Tục ngữ Thái) [102 ,120]
Dân tộc Dao có khá nhiều những câu ca khuyên dạy con cái về chuyện chọn vợ kén
chồng mà ở đó ý thức về vẻ đẹp bên ngoài của đối tƣợng bao giờ cũng, đƣợc đặt trong sự đòi
hỏi kèm theo cái đẹp bên trong tƣơng xứng:
- Xƣa nay hoa đẹp thƣờng đáng ngại
Đẹp sắc sợ gặp lòng không đẹp
Cố ý lấy không yên nhà yên cửa....

[21 , 372].

- Làm gái nết na biết nghĩ suy,
Chỉ biết điểm trang cho đẹp đẽ
Việc làm lƣời biếng hay chi mà v.v... [21 , 372]
Tóm lại, với dân gian, vẻ đẹp bên ngoài là rất đáng quý trọng song nó phải đƣợc gắn
liền với giá trị bên trong tƣơng xứng thì mới có giá trị đích thực.
1.1.1.2.Phẩm chất cao đẹp bên trong đòi hỏi phải có vẻ đẹp bên ngoài tƣơng xứng.
Các dân tộc thiểu số có cả một kho tàng truyện cổ theo môtíp "Ngƣời mang lốt xấu xí
mà tài ba lỗi lạc". Dân tộc H'Rê có truyện cổ Vu chư

21


Trích đoạn Đổi mới quan niệm về nghệ thuậ tở các nhà văn dân tộc thiểu số hiện đại Sự kế thừa quan niệm về nghệ thuật dân gian cổ truyền của các nhà văn dân tộc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status