1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
ĐỖ HÀ KHÁNH TRANG
MÔ HÌNH TRƢỜNG HỌC THÂN THIỆN Ở VÙNG
MIỀN NÚI DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp trường tiểu học và trung học cơ sở Lầu
Thí Ngài, xã Lầu Thí Ngài, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1. Một số khái niệm công cụ 13
1.1.1. Trường học thân thiện 13
1.1.2. Khái niệm thân thiện với trẻ em 15
1.1.3. Khái niệm Giới và Tôn trọng giới 15
1.1.4. Khái niệm Môi trường giáo dục thể chất 16
1.2. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu Mô hình Trường học
thân thiện ở vùng miền núi dân tộc thiểu số Việt Nam 16
1.2.1. Lý thuyết vai trò xã hội 16
1.2.2. Lý thuyết cấu trúc-chức năng 17
1.2.3. Lý thuyết xã hội hóa 18
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 20
1.4. Một số nét về địa bàn nghiên cứu 23
1.4.1. Khái quát về huyện Bắc Hà 23
3
1.4.2. Đặc điểm chung về xã Lầu Thí Ngài 24
1.4.3. Trường tiểu học và trung học cơ sở Lầu Thí Ngài 25
Chƣơng 2: NHẬN DẠNG MÔ HÌNH TRƢỜNG HỌC THÂN THIỆN ĐANG
ĐƢỢC ÁP DỤNG TẠI XÃ LẦU THÍ NGÀI, HUYỆN BẮC HÀ 27
2.1. Các tiêu chí xây dựng trường học thân thiện theo tiêu chí quốc tế 27
2.1.1. Cơ sở lý luận về trường học thân thiện 27
2.1.2. Các tiêu chí của trường học thân thiện theo tiêu chí quốc tế 28
2.2. Các tiêu chí xây dựng trường học thân thiện theo quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo và sự phù hợp với địa phương 29
2.3. Các đặc điểm chính của trường học theo mô hình trường học thân thiện ở
xã Lầu Thí Ngài và tác động của mô hình tới học sinh 31
2.3.1. Trường học thân thiện tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục đối với
mọi trẻ em 31
2.3.2. Trường học thân thiện có cơ sở vật chất, môi trường giáo dục thể
chất, chăm sóc sức khỏe, tôn trọng giới phù hợp với trẻ em 35
STT bảng
Tên bảng
Trang
1
Bảng 2.1
Các phương tiện học sinh sử dụng đi đến trường hàng ngày
33
2
Bảng 2.1
Quan điểm của học sinh về việc bị ốm bố mẹ tự mua thuốc
hoặc mời thầy cúng/thầy mo đến nhà
38
3
Bảng 2.3
Tỉ lệ học sinh thích đến trường vì điều kiện cơ sở vật chất tốt
gần gũi, thân thiện
41
4
Bảng 2.4
Tỉ lệ học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa
47
5
Bảng 2.5
Quan điểm “Nam và nữ đều có quyền được đi học” của học
sinh
51
6
Bảng 2.6
Quan điểm “Nam được đi học, nữ ở nhà và lấy chồng” của
học sinh
gian phỏng vấn nhất
65
14
Bảng 2.14
Số liệu về học sinh qua các năm học
70
15
Bảng 3.1
Hiện tượng nữ học sinh bị kéo về làm vợ
80
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ thực trạng giáo dục của các trường miền núi dân tộc thiểu số: Tỷ lệ
đến trường vào đầu năm học mới thấp, đặc biệt đối với trẻ em nữ; tình trạng bỏ học,
nghỉ học thường chiếm tỉ lệ cao. Do vậy, cần phải xây dựng một mô hình trường học
mới, khác với trường học truyền thống nói chung hiện nay nhằm thu hút học sinh miền
núi dân tộc thiểu số.
Trường học thân thiện là một mô hình trường học thực hiện Công ước Quốc tế
về Quyền trẻ em. Trường học thân thiện cung cấp cho trẻ em một môi trường giáo dục
toàn diện, một chất lượng giáo dục hiệu quả và thiết thực, đồng thời là một mô hình có
khả năng khơi dậy sự hứng thú và niềm yêu thích được đến trường hàng ngày của học
sinh.
Mô hình trường học thân thiện đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và
đặc biệt tỏ ra hiệu quả đối với những quốc gia đang phát triển như Thái Lan (1998)
Campuchia, Philipines (1999), Jamaica, Srilanka… Ở Việt Nam mô hình này trước đây
đã được xây dựng ở các trường tiểu học dưới tên gọi “Trường học bạn hữu trẻ em” với
sự phối hợp giữa Vụ Giáo dục, Bộ Giáo dục & Đào tạo và tổ chức UNICEF. Ở cấp
Trung học cơ sở đã tổ chức thí điểm xây dựng mô hình “Trường học thân thiện” tại 50
☼ Thế nào là Trường học thân thiện?
☼ Trường học thân thiện có gì khác so với trường học thông thường?
☼ Có những tiêu chí hoặc căn cứ nào để xây dựng trường học thân thiện?
☼ Trường học thân thiện có các đặc điểm gì?
☼ Trong quá trình thực hiện, trường học thân thiện có chịu tác động bởi yếu tố nào?
☼ Các nhân tố nào gây cản trở đến hiệu quả của mô hình trường học thân thiệnd?
☼ Giải pháp để khắc phục những rào cản đó là gì?
7
4. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng tới mục đích cơ bản, đó là nhận diện trường học thân thiện và sự
khác biệt về cơ bản giữa trường học thân thiện và trường học nói chung ở Việt Nam
hiện nay; chỉ ra một số đóng góp của trường học thân thiện cũng như những khó khăn
của mô hình khi ứng dụng vào thực tiễn địa bàn nghiên cứu nhằm rút ra bài học kinh
nghiệm cụ thể và giải pháp nhân rộng mô hình.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài hướng tới một số mục tiêu cụ thể sau:
Chỉ ra những tiêu chí nhận diện trường học thân thiện.
Chỉ ra mục đích và các đặc điểm chính của trường học thân thiện
Chỉ ra một số kết quả tích cực bước đầu khi mô hình được ứng dụng vào trong thực
tiễn địa bàn nghiên cứu.
Nhận diện những khó khăn trong quá trình ứng dụng mô hình trường học thân thiện
Tìm ra một số nguyên nhân và giải pháp khắc phục.
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Mô hình trường học thân thiện ở miền núi dân tộc thiểu số Việt Nam
5.2. Khách thể nghiên cứu
Chia ra 4 nhóm khách thể chính:
Nhóm trẻ em là học sinh tiểu học và trung học cơ sở Lầu Thí Ngài, xã Lầu Thí Ngài,
trong đó chia ra làm 2 nhóm chính: Nhóm học sinh tiểu học và THCS được lựa chọn
chung; đồng thời phải xuất phát từ thực trạng giáo dục của trường tiểu học và THCS
Lầu Thí Ngài nói riêng. Bên cạnh đó, việc đánh giá mô hình Trường học thân thiện ở
9
trường tiểu học và THCS Lầu Thí Ngài cũng không được tách rời khỏi các quan điểm,
chính sách giáo dục của Bộ Giáo dục&Đào tạo hiện hành.
6.2. Các phương pháp thu thập thông tin cụ thể
6.2.1. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được xây dựng gồm 21 câu hỏi nhằm làm rõ những thông tin cơ bản
sau:
+ Nhận diện sơ lược thực trạng cuộc sống và thái độ học tập của học sinh
+ Đánh giá hiệu quả mô hình trường học thân thiện
+ Một số yếu tố tác động đến mô hình trường học thân thiện
Do đặc thù riêng của địa bàn nghiên cứu là một địa phương ở miền núi cao, dân
cư sinh sống chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số (90% dân tộc H’mong còn lại là dân
tộc Dao); do đặc thù của khách thể nghiên cứu (học sinh tiểu học và THCS) trình độ
nhận thức và khả năng nói tiếng phổ thông còn nhiều hạn chế nên tác giả phải sử dụng
hai phương pháp phỏng vấn.
Phương pháp trưng cầu ý kiến đối với học sinh THCS lớp 7,8 và lớp 9 do
nhận thức của các em được nâng cao. Vì vậy, tác giả tiến hành hướng dẫn nhóm học
sinh này làm quen với bảng hỏi và để các em tự trả lời.
Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi đối với học sinh tiểu học, do khả năng nói
tiếng phổ thông của các em còn rất hạn chế. Vì vậy, tác giả trực tiếp phỏng vấn từng
HS tham gia phỏng vấn để có thể thu về những thông tin đầy đủ và chính xác nhất.
Để đảm bảo tiến hành thu thập thông tin chính xác , tác giả chọn dung lượng
mẫu khảo sát ban được xác định ban đầu là 250 người dành cho các đối tượng là học
sinh các khối tiểu học và THCS Lầu Thí Ngài. Trong quá trình khảo sát thực địa, có
một số trường học học sinh vắng mặt do nghỉ học, ra ngoài chơi; số người thực tế tham
gia trả lời là 229 học sinh.
Nguyên tắc chọn mẫu: Dung lượng mẫu được xác định dựa trên cơ sở lựa chọn
ngẫu nhiên theo cụm. Tác giả tiến hành điều tra đối với học sinh tiểu học từ lớp 3 đến
● 04 học sinh tiểu học và 05 học sinhTHCS Lầu Thí Ngài
● 04 cán bộ quản lý trường tiểu học và THCS Lầu Thí Ngài
● 08 giáo viên trường tiểu học và THCS Lầu Thí Ngài
● 07 cha mẹ học sinh ở các thôn Pờ Chồ 2, Pờ Chồ 3 và Lử Chồ 1, xã Lầu Thí Ngài
● 01 cán bộ Phòng Giáo dục huyện Bắc Hà
● 01 cán bộ huyện Đoàn huyện Bắc Hà
7. Giả thuyết nghiên cứu
7.1. Trường học thân thiện với mục đích và phương pháp can thiệp tất cả vì trẻ em đã
tạo nên sự khác biệt về cơ bản so với trường học nói chung ở Việt Nam hiện nay.
7.2. Trường học thân thiện ở miền núi dân tộc thiểu số bước đầu đã thu hút được đông
đảo học sinh đến trường và mang lại cho các em niềm yêu thích học tập
7.3. Có nhiều yếu tố tác động đến việc tổ chức trường học thân thiện như kỹ năng và
phương pháp giảng dạy; chương trình giảng dạy và sách giáo khoa; công tác tuyên
truyền; văn hóa bản địa và về khả năng ngôn ngữ tiếng Việt khiến cho trường học thân
thiện chưa phát huy được đầy đủ hiệu quả như kỳ vọng 12
8. Khung lý thuyết
GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG,
ĐIỀU CHỈNH MÔ HÌNH
◘ Phương pháp
và kỹ năng giảng
dạy của giáo
viên
◘ Chương trình
giảng dạy và
chương trình
sách giáo khoa
◘ Công tác
truyền thông
◘ Văn hóa bản
địa và khả năng
ngôn ngữ tiếng
Việt
■ Cơ hội tiếp cận giáo dục
■ Cơ sở vật chất, môi trường giáo dục thể
chất, chăm sóc sức khỏe, tôn trọng giới
■ Môi trường tâm lý xã hội và sự
tham gia của trẻ
■ Chất lượng dạy và học; sự tham gia của
học sinh, gia đình và cộng đồng
13
NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
và nữ; xoá bỏ các hình thức thiên vị giới; đảm bảo có các cơ sở vật chất, phương pháp
dạy và học phù hợp, đặc biệt với trẻ em nữ; giúp trẻ em nam và nữ hoà nhập trong một
môi trường phi bạo lực, tôn trọng các quyền trẻ em.
♣ Sự tham gia của trẻ em, cha mẹ và cộng đồng: Thực hiện cơ chế để học sinh, cha
mẹ, và cộng đồng đóng góp ý kiến và chủ động tham gia vào việc xây dựng và giám
sát trường học [31, tr.97].
Theo quan điểm của Bộ Giáo dục&Đào tạo
Cùng với các cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành
tích trong giáo dục” và “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng
tạo”, để tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục toàn diện cho học
sinh, ngày 22-07-2008, Bộ Giáo dục&Đào tạo đã ban hành chỉ thị 40/2008 QĐ-
BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 với mục tiêu, yêu cầu
và nội dung cụ thể như sau:
♦ Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp
♦ Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi địa
phương, giúp các em tự tin trong học tập
♦ Tổ chức các hoạt động tập thể
♦ Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh
15
♦ Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa,
cách mạng ở địa phương
Quan điểm của Bộ Giáo dục&Đào tạo là sự cụ thể hóa hơn và bổ sung thêm tiêu
chí về Trường học thân thiện, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam.
Nói tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát về Trường học thân thiện như sau:
Trường học thân thiện là:
♥ Nơi mọi trẻ em đều được tới trường, được lắng nghe và bảo vệ
♥ Nơi trẻ em học tập theo phương pháp tích cực, được vui chơi, khám phá và chuẩn bị
cho cuộc sống
♥ Nơi trẻ em được tôn trọng và được đảm bảo quyền bình đẳng giới
kiện thuận lợi để phát triển sức khỏe toàn diện và phù hợp với lứa tuổi của trẻ em, đó là
trường học phải có sân chơi cho trẻ, các thiết bị phát triển thể chất cho trẻ và dịch vụ y
tế chăm sóc sức khỏe cho trẻ em [18, tr.96].
1.2. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu Mô hình Trường học thân
thiện ở vùng miền núi dân tộc thiểu số Việt Nam
Có nhiều lý thuyết có thể giúp thiết lập cơ sở khoa học để nghiên cứu, phân tích,
đánh giá, dự báo về mô hình Trường học thân thiện đang được áp dụng tại trường tiểu
học và THCS Lầu Thí Ngài, xã Lầu Thí Ngài, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Trong
phạm vi giới hạn được xác định, luận văn chỉ đề cập đến một số lý thuyết liên quan làm
cơ sở lý luận tiếp cận làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu.
1.2.1. Lý thuyết vai trò xã hội
Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng.
Do nó luôn luôn có sự biến đổi trong xã hội khác nhau, thậm chí qua các nhóm xã hội
khác nhau nên vai trò xã hội của cá nhân là mặt động của vị thế xã hội. Với mỗi vị thế,
vai trò khác nhau, cá nhân buộc phải có những hành động phù hợp với vị thế và vai trò
17
xã hội đó. Các hành vi này được xã hội mong đợi. Trong xã hội hiện đại, khi mạng lưới
quan hệ xã hội của họ ngày càng được mở rộng cũng đồng nghĩa với việc họ sẽ đảm
nhận nhiều vị thế và do đó họ đóng nhiều vai trò khác nhau. Mỗi vai trò sẽ có những
đòi hỏi riêng phù hợp với hoàn cảnh. Những đòi hỏi này, ở một số vai trò có thể phối
hợp được với nhau, nhưng cũng có những đòi hỏi không thể đi đôi với nhau dẫn đến sự
xung đột vai trò.
Khi xem xét trường học thân thiện với tư cách là một bộ phận của hệ thống giáo
dục thì nó cũng sẽ đóng những vai trò nhất định tương ứng với vị thế của trường học
thân thiện trong mối tương quan với hệ thống giáo dục và trong sự điều tiết hiệu quả
giáo dục. Trường học thân thiện có thể có những phẩm chất, mục đích và phương pháp
xây dựng và phát triển riêng song mục đích cuối cùng của trường học thân thiện là
mang lại một môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, chất lượng cho trẻ em, thúc đẩy
lòng yêu thích được đến trường của trẻ em.
1.2.2. Lý thuyết cấu trúc-chức năng
1.2.3. Lý thuyết xã hội hóa
Xã hội hóa là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các bộ môn khoa học như
tâm lý học, giáo dục học, kinh tế học và xã hội học. Xã hội hóa có thể được phân chia
thành hai khuynh hướng cơ bản là xã hội hóa cá nhân và xã hội hóa xã hội.
Xã hội hóa cá nhân là quá trình biến đổi cá thể người thành cá nhân và thành
nhân cách. Với nội dung này, xã hội hóa cá nhân bao gồm cả giáo dục và các quá trình
học tập.
Xã hội hóa xã hội là quá trình biến những hành vi, hoạt động có tính đơn lẻ, khu
biệt của cá thể, tư nhân hay nhóm, tổ chức xã hội thành những hành vi, hoạt động có
tính xã hội với sự tham gia rộng rãi của các thành phần xã hội khác nhau.
19
Hai nội dung khái niệm nếu trên có thể được xem xét tương ứng trên hai cấp độ
xã hội hóa. Xã hội hóa cá nhân thuộc cấp độ vi mô và xã hội hóa xã hội thuộc cấp độ vĩ
mô. Trong nghiên cứu này, tác giả thiên về xu hướng sử dụng khái niệm xã hội hóa xã
hội nhằm nêu bật được sự tương tác, mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa cá nhân với tập
thể, giữa tổ chức này với các tổ chức khác trong phạm vi không gian nhất định.
Khái niệm xã hội hóa xã hội đã được Max và Engels nêu ra trong các công trình
nghiên cứu về sự vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản thế kỷ 19. Không chỉ lao
động cá thể bị xã hội hóa thành lao động xã hội mà nền sản xuất nội địa và thị trường
nội địa cũng bị xã hội hóa trở thành nền sản xuất thế giới, thị trường thế giới. Không
chỉ nền sản xuất vật chất bị xã hội hóa mà cả nền sản xuất tinh thần cũng bị xã hội hóa,
ví dụ văn hóa trở thành văn hóa thế giới. Khi xã hội hóa vượt ra khỏi phạm vi một quốc
gia thì có thể nói đến quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa.
Học thuyết Marx vạch rõ rằng xã hội hóa là một quá trình lịch sử tự nhiên, là tất
yếu, là quy luật vận động và phát triển của nền sản xuất và tái sản xuất xã hội. Không
chỉ lao động cá thể và không chỉ lực lượng sản xuất bị xã hội hóa mà các lĩnh vực khác
như giáo dục cũng bị xã hội hóa. Trước đây, đã có thời trường học thực ra chỉ có một
thầy đồ với một số học trò đến học chữ và học một số môn để chuẩn bị tham dự các kỳ
thi do chính quyền tổ chức. Một loại trường khác chủ yếu là để dạy con em của tầng
lớp tinh hoa trong xã hội. Một hình thức trường học khác thuộc về các tổ chức tôn giáo,
đã có nhiều tiến bộ. Nếu các trường tiểu học trước đây hầu như chỉ có lớp 1, lớp 2 thì
nay đã có đến lớp 5 như ở Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang… Hình thức dạy lớp ghép ở các
thôn bản tuy còn nhiều hạn chế nhưng đã tích cực góp phần xoá các điểm trắng về giáo
dục và là giải pháp tình thế để đáp ứng với nhu cầu học tập của nhân dân. Phần lớn các
xã và cụm xã có trường trung học cơ sở toàn cấp, xã nào chưa có trường toàn cấp thì có
21
lớp 6, lớp 7 nhô gắn với trường tiểu học tạo điều kiện cho con em các dân tộc được tiếp
tục học tập. Điều đáng phấn khởi là đến nay các huyện miền núi vùng cao đều có ít
nhất môi trường trung học phổ thông.
Tuy chất lượng dạy và học có nhiều cải thiện rõ rệt song tỷ lệ học sinh khá, giỏi
còn khá thấp, càng những vùng khó khăn, xa xôi tỷ lệ học sinh có học lực yếu. Học
sinh phần lớn chỉ học xong tiểu học, số học sinh có trình độ trung học, nhất là học sinh
đi học ở các trường chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều so
với vùng thuận lợi. Hiệu quả giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số cũng rất thấp, nhất
là ở bậc trung học. Vấn đề này được thể hiện ở tỷ lệ lưu ban bỏ học ở tất cả các bậc học
đang chiếm tỷ lệ khá cao nhất là ở bậc trung học phổ thông, cụ thể: vùng Tây Bắc là
8,1%, Tây Nguyên là 15,3% (Theo điều tra của Ủy ban dân tộc)
Từ thực tế trên cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghỉ học, bỏ
học, chất lượng học sinh miền núi kém. Tuy nhiên, thực tế này cũng tự minh chứng
rằng, môi trường dạy và học hiện tại chưa đủ khả năng thu hút học sinh; phương pháp
giảng dạy và hệ thống sách tỏ ra chưa phù hợp với trình độ và đặc điểm của học sinh
các dân tộc thiểu số; cùng với sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan
khác, khiến cho chất lượng dạy và học của các trường vùng cao xa xôi qua bao nhiêu
năm vẫn không thể có bước phát triển về chất, khiến cho tỷ lệ nghỉ học, bỏ học, tỷ lệ
tái mù chữ vẫn còn tiếp diễn.
Trong những năm gần đây, nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ
GD&ĐT chủ trương xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, đổi mới phương pháp dạy và
học tích cực nhằm đạt mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ và khắc phục tình trạng nghỉ
học, bỏ học ở các trường miền núi dân tộc thiểu số.
Xuất phát từ ý tưởng của Thái Lan năm 1997, mô hình Trường học thân thiện
2. Testimonies on Child Friendly Schools from the field (Những ví dụ điển hình về
Trường học thân thiện ở địa bàn áp dụng)
3. A guideline of Assessing Child Friendly Schools (Tài liệu hướng dẫn đánh giá
Trường học thân thiện)
Vì thế, tuy nghiên cứu “Mô hình Trường học thân thiện ở miền núi dân tộc thiểu
số Việt Nam” chưa thực sự có thể được coi là điển hình cho cộng đồng dân tộc thiểu
số, nhưng tác giả kỳ vọng rằng nghiên cứu này có thể mang lại một cách nhìn, một sự
đánh giá bước đầu về tác động của mô hình tới hiệu quả giáo dục đối với trẻ em nói
chung, đặc biệt là trẻ em nhóm dân tộc thiểu số ở vùng sâu, xa.
1.4. Một số nét về địa bàn nghiên cứu
1.4.1. Khái quát về huyện Bắc Hà
Huyện Bắc Hà là một huyện miền núi với nhiều khó khăn về địa lý và kinh tế-xã
hội. Giai đoạn trước năm 1990 là thời kỳ khủng hoảng giáo dục của huyện với những
xã “trắng” không có trường, không có giáo viên. Với chương trình mục tiêu Phổ cập
giáo dục tiểu học và xóa mù giai đoạn 1990-2000 của Đảng và Nhà nước, ngân sách
đầu tư cho giáo dục tăng đáng kể, hầu như xã nào cũng được đầu tư xây trường học.
Đội ngũ cán bộ giáo dục tăng mạnh và được hưởng các chế độ ưu đãi hơn (năm 1990,
cả huyện Bắc Hà cũ (bao gồm cả huyện Bắc Hà và Simacai hiện nay) chỉ có 280 giáo
viên, nhưng tới năm 2003 chỉ huyện Bắc Hà nói riêng đã có 1007 cán bộ giáo dục).
Chính sách xã hội hóa giáo dục đã góp phần tăng tỷ lệ huy động học sinh tới trường.
Số người tham gia các lớp xóa mù tăng cao. Có thể nói, chương trình mục tiêu này đã
làm thay đổi căn bản và toàn diện giáo dục huyện Bắc Hà.
Bên cạnh đó, các Dự án từ chương trình 135 của Nhà nước đầu tư cho các vùng
khó khăn và từ các Dự án của Ngân hàng thế giới và nhiều tổ chức phi chính phủ khác
góp phần cải thiện đáng kể bộ mặt các trường học và tỉ lệ nhập học của trẻ em. 24
1.4.2. Đặc điểm chung về xã Lầu Thí Ngài
1.4.2.1. Điều kiện tự nhiên: Lầu Thí Ngài là một xã vùng cao giáp thị trấn Bắc Hà, dân
các loại chi phí giáo dục. Học sinh được cung cấp học phẩm và sách giáo khoa. Tuy
nhiên, với chính sách xã hội hóa giáo dục, các gia đình được yêu cầu có những đóng
góp bằng hiện vật hoặc bằng công lao động cho các hoạt động của trường cũng như để
mở rộng hoặc nâng cấp trường học. Ngoài ra, học sinh nội trú/bán trú còn phải tự túc
lương thực. Nhiều gia đình trong thời gian đói kém đã không có đủ lương thực cho con
mang tới trường. Nhiều em vì nhà nghèo không có gạo mang tới trường cũng không
chịu theo học lớp bán trú cho dù tới trường hàng ngày rất khó khăn.
1.4.3. Trường tiểu học và trung học cơ sở Lầu Thí Ngài
Là hai trường vùng cao của huyện Bắc Hà với 7 thôn bản sinh sống trên địa bàn
xã có hai dân tộc (Dao, H’mông) trong đó dân tộc H’mông chiếm 98,2%, còn lại là dân
tộc Dao.
Trường tiểu học và trung học cơ sở Lầu Thí Ngài được đặt ở khu vực trung tâm
xã. Riêng trường tiểu học Lầu Thí Ngài ngoài trường chính còn có 3 điểm phân hiệu
đặt ở ba thôn đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ em ở những thôn xa xôi.
Trường tiểu học và THCS Lầu Thí Ngài mặc dù gần thị trấn Bắc Hà nhưng là xã
có tới 98,2% là dân tộc H’mông [8, tr.96], đời sống người dân rất khó khăn, chủ yếu là
sống tự cung tự cấp, chỉ có một mùa ngô và một mùa lúa, lúa thì phải mang bán lấy
tiền mua sắm các vật dụng cần thiết, còn ngô thì phải để dành để ăn cả năm. Do nhận
thức người dân về giáo dục rất hạn chế, nên tỉ lệ đi học và bỏ học của học sinh xã Lầu
Thí Ngài luôn chiếm tỉ lệ cao của huyện Bắc Hà. Đây cũng là tình trạng phổ biến của
hầu hết các xã ở toàn huyện. Do học sinh sống ở các thôn bản, địa hình đường xã đi lại
khó khăn, đặc biệt đối với học sinh tiểu học. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
trường học nhiệt tình, yêu nghề. Tuy nhiên, sự khó khăn về điều kiện kinh tế, sinh hoạt