Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG PHƢƠNG DUNG
NHỮNG KHÚC HÁT LỄ HỘI NÀNG HAI CỦA
NGƢỜI TÀY Ở THẠCH AN – CAO BẰNG Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Phòng Văn hoá huyện Thạch An - Cao Bằng và các cán bộ Thư
viện tỉnh Cao Bằng… đã giúp đỡ em thực hiện công trình này.
- Hoàng Phƣơng Dung -
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 3
môc lôc
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 12
6. Đóng góp của luận văn 12
7. Bố cục luận văn 12
NỘI DUNG 13
Chƣơng 1: NHỮNG KHÚC HÁT LỄ HỘI NÀNG HAI TRONG ĐỜI
SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƢỜI TÀY Ở THẠCH AN - CAO BẰNG…. 9
1.1. Vài nét về cộng đồng ngƣời Tày ở Cao Bằng 13
1.1.1. Cộng đồng người Tày Cao Bằng 13
1.1.2. Cộng đồng người Tày ở Thạch An - Cao Bằng 14
1.2. Một số vấn đề chung về lễ hội Nàng Hai của ngƣời Tày ở Thạch An
- Cao Bằng 21
1.2.1. Lễ hội Nàng Hai trong đời sống tinh thần của người Tày ở
Thạch An - Cao Bằng 21
1.2.2. Khái quát về những khúc hát lễ hội Nàng Hai của người Tày ở
Thạch An - Cao Bằng 31
CHƢƠNG 2: 36
3.2.4. Cử chỉ, động tác khi diễn xướng 121
KẾT LUẬN 124
TƢ LIỆU THAM KHẢO 128
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Về phương diện khoa học
Từ xưa, hội xuân đã trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa và tâm
linh của dân tộc Việt Nam. Trong cảnh đất trời được chúa xuân khoác lên
mình một chiếc áo mới: rực rỡ, tươi nguyên và tràn trề nhựa sống ấy, lòng
người lại chợt thấy xốn xang hơn trong những ngày trẩy hội.
Hòa chung dòng chảy của con sông văn hóa Việt Nam, hội Nàng Hai
(hay còn được gọi là hội Hai, hội Nàng Trăng, hội Hằng Nga, hội Hát mời
trăng) của người Tày ở huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng như dòng nước ngọt
ngào tưới mát tâm hồn của những người dân miền núi nơi đây. Chính vì vậy,
hội Nàng Hai đã trở thành một phong tục đẹp, một điểm hẹn văn hóa để con
người bày tỏ những ước mong của mình, để tâm hồn giao thoa cùng trời đất
cỏ cây, để tấm lòng gặp gỡ những tấm lòng trong mỗi dịp đầu năm. Thế mới
hiểu được hết câu hát:
“Người về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”.
Và càng thấy việc tìm hiểu, nghiên cứu lễ hội này là việc làm thực sự ý nghĩa
và cần thiết.
Trong lễ hội Nàng Hai, mọi lời nói, suy nghĩ, tình cảm và mong ước
của con người được thể hiện rất độc đáo qua làn điệu dân ca đặc sắc của
người Thạch An: Lượn Hai (hay Lượn Nàng Hai). Những khúc hát ấy được
cất lên từ tâm hồn mộc mạc, giản dị với tình yêu tha thiết quê hương và con
sáng” còn ẩn giấu trong đời sống văn hoá mà cha ông mình để lại, nên chúng
tôi chọn “Những khúc hát lễ hội Nàng Hai của người Tày ở Thạch An - Cao
Bằng” làm đề tài nghiên của luận văn. Hy vọng, những nghiên cứu của đề tài ít
nhiều góp phần hiệu quả vào việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị loại hình
văn hoá nghệ thuật dân gian độc đáo này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 7
2. Lịch sử vấn đề
Văn hóa dân tộc Tày nói chung và văn hóa lễ hội Tày nói riêng là một
mảng vô cùng đa dạng và phong phú. Trong đó, nổi bật lên là lễ hội gắn liền
với nghi lễ nông nghiệp như hội Lồng Tồng (hay Xuống đồng) mà biến thái
của nó là lễ hội Nàng Hai (hay còn gọi là Nàng Trăng, Cầu Trăng, Hát mời
Trăng ). Trong mỗi lễ hội, các nghi thức và trò chơi dân gian mang ý nghĩa
riêng, song có lẽ một trong những nghi thức mang đậm giá trị nhân văn nhất
phải kể đến hát Lượn trong nghi lễ cầu mùa.
Mục đích của những lễ hội trên là cầu mùa vụ mới tốt tươi, con người có
sức khoẻ, vật nuôi đầy đàn, béo tốt Mong muốn rất thực tế và chính đáng đó
được cụ thể hoá trong lời hát Lượn.
Nghiên cứu về lễ hội liên quan đến việc sản xuất nông nghiệp của người
Tày cùng với những bài hát Lượn trong đó đã có khá nhiều công trình, bài
nghiên cứu:
Mùa xuân và phong tục Việt Nam (1976) của các nhà nghiên cứu: Trần
Quốc Vượng, Lê Văn Hảo, Dương Tất Từ [56] và Hội Lồng Tồng (Dân tộc
Tày ở Bắc Thái) [7, Tr. 112 - 114], của tác giả Dương Kim Bội in năm 1977
là những bài nghiên cứu đầu tiên về hội xuân của người Tày. Trong những bài
viết này, các tác giả đã khẳng định sự hấp dẫn của các trò chơi dân gian như:
tung còn, kéo co, hát Sli, hát Lượn: “Mùa hoa mận trắng xoá, tiếng róc rách
của suối nước, sự ồn ã của gió rừng Người xem hội không muốn dứt khỏi
hội Nàng Trăng một sinh hoạt văn hoá dân gian của dân tộc Tày [50], của tác
giả Nguyễn Đức Thụ đã nêu bật được giá trị văn hoá đặc sắc của lễ hội qua
nghi thức cầu trăng và lời hát cầu trăng. Tuy bước đầu chưa đi sâu vào tìm
hiểu về giá trị văn học dân gian của những bài hát Lượn cầu mùa song người
viết đã nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của thể loại dân ca nghi lễ Lượn Hai:
“Đến ngày hội Trăng, con người hát Lượn say sưa để mời trăng xuống trần,
ban điều may mắn ” [5].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 9
Dù chưa bàn nhiều về các trò diễn dân gian, đặc biệt là hát Lượn nói
chung và Lượn cầu mùa nói riêng mà nhưng Trần Hoàng với Ngày xuân đi
hội Lồng Tồng [16], năm 1995 và Nguyễn Hải Hà với Trẩy hội Lồng Tồng
[13], năm 1996, đều cùng đề cao vai trò của hát Lượn: Không gian, thời gian
mùa xuân được làm sống dậy, tươi trẻ và ấm áp hơn bằng câu hát Lượn của
người chơi hội.
Triều Ân cũng là một trong nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến lễ hội
cầu mùa của người Tày mà cụ thể là người Tày ở Cao Bằng. Trong cuốn Lễ
hội Hằng Nga in năm 1997, đóng góp rất lớn của ông là đã giới thiệu, sưu tầm
và biên dịch những khúc Lượn Hai của người Tày Cao Bằng. Trong phần đầu
cuốn sách, ông đã viết: “những khúc hát trong lễ hội và hát hội đã gieo vào
tâm hồn người đi dự hội một tình cảm trong sáng, lành mạnh, một niềm lạc
quan tin tưởng để sau đó bắt tay vào vụ sản xuất”[1, Tr. 14].
Ngay trong năm tiếp theo, trên Tạp chí Văn hoá dân gian cũng giới thiệu
Hội Lồng Tồng ở xã Yên Khánh Hạ, Lào Cai [29, Tr. 27 - 33], của Lê Hồng Lý.
Đến năm 2001 và năm 2002 bạn đọc lại tiếp tục được đón nhận bài viết Lễ hội
Lồng Tồng của người Tày [55, Tr. 14 - 16], do Lê Trung Vũ viết cùng với đề
tài nghiên cứu mang tên Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu
vực phía Bắc [28], do Hoàng Lương viết. Các tác giả tập trung bàn tới yếu tố
nói riêng. Mỗi bài viết là một sự đóng góp quí giá trong việc khẳng định, đề
cao các giá trị (văn hoá, lịch sử, nghệ thuật, văn học ) của hình thức dân
gian đặc sắc này. Qua đó, chúng tôi cũng nhận thấy việc tìm hiểu về giá trị
văn học dân gian từ những bài hát Lượn cầu mùa trong ngày hội xuân của
người Tày nói chung và của người Tày ở huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
nói riêng vẫn còn là một đề tài mở hấp dẫn. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy
những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước thực sự chứa
đựng nhiều tiền đề, bài học quí báu cho người đi sau triển khai, thực hiện đề
tài này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 11
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu những giá trị nội dung và thi pháp của khúc hát lễ hội Nàng
Hai của người Tày ở Thạch An - Cao Bằng. Qua việc tìm hiểu đó, chúng ta
thấy được tài năng nghệ thuật của các nghệ nhân dân gian, từ đó biết trân
trọng, gìn giữ và phát huy những khúc hát lễ hội nói riêng và dân ca Tày nói
chung. Cũng từ đó chúng ta hiểu thêm được đời sống vật chất và tâm tư tình
cảm của nhân dân Tày ở Thạch An - Cao Bằng.
- Thông qua đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn đóng góp một phần
nhỏ của mình vào việc gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc của người Tày nói
chung và của nhân dân Tày ở Thạch An - Cao Bằng nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tế liên quan đến đề tài.
- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, lý giải những vấn đề liên quan
đến khúc hát Lượn Hai chủ yếu từ góc độ văn học dân gian
- Trong điều kiện có thể, chúng tôi đi điền dã và sưu tầm thêm được một
số khúc hát Lượn Hai ở Cao Bằng chưa được xuất bản, công bố
lễ hội Nàng Hai nói riêng trong mỗi con người Việt Nam.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tư liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được thể hiện trong ba chương:
Chương I: Những khúc hát lễ hội Nàng Hai trong đời sống văn hoá của
người Tày ở Thạch An - Cao Bằng
Chương II: Giá trị nội dung những khúc hát lễ hội Nàng Hai của người
Tày ở Thạch An - Cao Bằng
Chương III: Một số đặc điểm thi pháp của những khúc hát lễ hội Nàng
Hai của người Tày ở Thạch An - Cao Bằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 13
NỘI DUNG
Chƣơng 1:
NHỮNG KHÚC HÁT LỄ HỘI NÀNG HAI TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA CỦA NGƢỜI TÀY Ở THẠCH AN - CAO BẰNG
1.1. Vài nét về cộng đồng ngƣời Tày ở Cao Bằng
1.1.1. Cộng đồng người Tày Cao Bằng
Cao Bằng là một tỉnh nằm ở biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Nơi đây là
địa bàn cư trú của nhiều dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Mông. Lô Lô… nhưng số
lượng lớn nhất là người Tày, chiếm khoảng 43% dân số toàn tỉnh. Theo các
nhà nghiên cứu, người Tày ở Cao Bằng được hình thành từ ba nhánh:
Nhánh người Tày gốc còn gọi là thổ, có nghĩa là thổ dân, là chủ nhân
của địa phương từ lâu đời. Nhánh này là con cháu lâu đời của người Tày cổ.
Họ là những con người đã sáng tạo ra khúc hát trong lễ lội Nàng Hai độc đáo
người Tày chiếm đa số. Với sự qui tụ của nhiều dân tộc trên một địa bàn cư
trú đã tạo nên một bức tranh đa sắc màu về đời sống văn hóa tinh thần của
những con người ở mảnh đất phía Đông Nam tỉnh Cao Bằng
Đặc điểm địa hình là đồi thoải hay lượn với những thung lũng nhỏ bên
cạnh dòng sông, dòng suối là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp,
đặc biệt là trồng lúa nước. Khí hậu ở đây chia làm bốn mùa rõ rệt nên cư dân
canh tác và trồng trọt theo mùa. Giới động thực vật khá phong phú và đa
dạng. Cư dân Tày sống chủ yếu vào trồng trọt và cày cấy mùa màng và chăn
nuôi gia súc. Ngay từ xa xưa, họ đã biết tận dụng những ưu thế mà thiên
nhiên ban tặng để lao động phục vụ cuộc sống.
Mùa xuân thường không dài nhưng tiết trời ấm áp, tươi sáng, núi non
ngập tràn trong sắc hương xuân. Đặc biệt đến tháng 3 âm lịch, rừng núi Thạch
An xanh mướt một màu, cỏ hoa đang thì kết trái. Khung cảnh thật thi vị biết
mấy. Thiên nhiên Thạch An hùng vĩ, thơ mộng, hiền hòa là vậy nhưng có lúc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 15
cũng thật dữ dội. Về mùa mưa, mưa nhiều đã gây nên tình trạng rửa trôi, xói
mòn và lũ lụt, gây mất mùa. Cùng với việc chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông
Bắc trong mùa đông, các hiện tượng thời tiết như băng giá, sương muối gây
ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống con người.
Địa hình huyện Thạch An như một cánh cung đang căng lên. Những đám
ruộng bậc thang uốn mình quanh sườn đồi. Những dòng suối, dòng sông như
dải lụa bạc dài vô tận ẩn rồi lại hiện dưới thung lũng như lúc làm duyên, lúc
giận hờn với đồi núi trập trùng. Khung cảnh sơn thủy hữu tình này dường như
đã khơi nguồn cảm hứng thơ ca cho con người nơi đây. Để khiến ai đã từng
đứng trên mảnh đất này trong lòng không thể không cất lên tiếng hát. Những
câu Lượn ấy cất cao, thấm đẫm hơi thở của ruộng, của nương, của núi của
rừng Thạch An.
Nhà ở của người Tày ở Thạch An thường là nhà sàn cao ráo, thoáng mát.
Trong những nếp nhà sàn đơn sơ đó có 3 - 4 thế hệ cùng chung sống đầm ấm
và chan hòa. Hầu hết các gia đình người Tày được xây dựng theo thể chế và
chế độ hôn nhân một vợ một chồng, mang tính phụ hệ. Trước Cách mạng
tháng Tám, người phụ nữ Tày không được đối xử bình đẳng với nam giới,
không được hưởng gia tài, không được đi học. Tuy nhiên, họ vẫn được chồng
con tôn trọng vì họ không chỉ có vai trò “giữ lửa” trong gia đình mà họ còn
chính là người gìn giữ, nuôi dưỡng và làm giàu có thêm những điệu hát dân
ca. Bà truyền dạy cho mẹ, mẹ truyền dạy cho con… Cứ như thế, ngọn lửa văn
hóa cứ hồng mãi trong mỗi nếp nhà sàn và rồi thấm đượm, tỏa rạng trong tâm
hồn của mỗi con người nơi đây. Không chỉ có vậy, phụ nữ Tày còn rất khéo
tay. Họ không chỉ biết trồng bông, dệt vải, tự may quần áo, chăm màn mà
còn giỏi trong việc chế biến nhiều thứ bánh trái ngon phục vụ trong ngày
thường và các dịp lễ tết.
Cũng giống như người Tày ở nhiều địa phương khác, trang phục của
người Tày Thạch An được làm từ vải bông dệt, nhuộm chàm nhưng cắt may
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 17
đơn giản, không thêu thùa hoa văn cầu kì như trang phục của một số dân tộc
khác. Phụ nữ Tày mặc áo dài năm thân, cài cúc cổ. Áo dài tới bụng chân, có
yếm lót theo kiểu của người Kinh. Ngoài áo dài ra, họ còn tạo ra áo ngắn xẻ
tà, hở ngực, cài khuy, mặc lót bên trong áo dài. Để thuận tiện, các bà, các chị,
các cô gái Tày thường mặc áo ngắn khi lao động. Váy hoặc quần của họ
thường dài tới mắt cá chân. Váy có thắt lưng to bản làm bằng vải dệt thủ
công, dài hơn 3m và rộng 30cm để quấn quanh eo, khiến người đẹp thêm
duyên dáng. Việc cài nút thắt lưng cũng cho thấy người phụ nữ ấy thuộc tầng
lớp nào trong xã hội. Nếu là con nhà quyền quí thì các nút thắt lưng buộc về
phía trước trông điệu đà hơn. Nếu là con nhà bình thường thì các nút thắt
Mời rượu cả chum
Mời quả cả cây
Hơn nữa, để cho không khí vui tươi, để cho câu chuyện tế nhị, duyên
dáng họ dùng những tiếng hát lời ca để ướm hỏi, chào mừng nhau:
- Khách vào bản như mùa xuân hoa nở
Em đây xin hát câu lượn chào mừng
- Nàng mới đến như đêm trăng tỏ
Như tối trời gặp lửa ấm nhà ai
Nét phong tục độc đáo này chính là môi trường lí tưởng ươm mầm,
nuôi dưỡng tiếng hát lời ca của nhân dân. Để rồi, những điệu hát dân ca cứ thế
được lớn lên, lại quay trở lại nuôi dưỡng tâm hồn những con người của xứ sở
áo chàm. Có một thời, tiếng hát Lượn đã ngập tràn làng bản, đồi núi, hòa vào
tâm hồn, huyết mạch của đồng bào:
Nửa đêm Nàng ới cháy lòng
Khiến em dừng đường kim may vá
Khiến anh vở giữa trang ngừng đọc
Theo nhà nghiên cứu Vi Hồng, Lượn là lập luận, là lặp lại, là luyến, là
ru… Lượn chính là khúc hát dân ca của người Tày. Lượn có nhiều tiểu loại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 19
nhưng người Tày ở Thạch An chủ yếu hát Lượn Hai và Lượn Slương. Trong
đó Lượn Hai là một loại dân ca nghi lễ khá đặc biệt, chỉ được hát trong lễ hội
Nàng Hai.Với tính chất đặc trưng của Lượn là vang xa, thiết tha, bày tỏ được
những điều muốn nói một cách độc đáo và dễ lay động lòng người, do vậy mà
nó đã trở thành một nhu cầu tinh thần không thể thiếu trong đời sống của họ.
Hát Lượn có mặt khắp bản xa lũng vắng của người Tày. Trai gái đến tuổi
trưởng thành mà không biết hát Lượn bị coi là ngố, là đụt như con gà trống
không biết gáy, như con chim công chẳng biết làm dáng bên suối. Người Tày
- Giai đoạn hiện đại: Người Tày vừa dùng chữ Nôm vừa dùng chữ
Latinh. Do vốn từ còn nghèo nàn nên việc sử dụng chữ viết cũng như ngôn
ngữ Tày trong các hoạt động hành chính, trong các ngành khoa học rất hạn
chế và gặp nhiều khó khăn. Năm 1954, một số lớp trí thức mới đã tự sáng lập
ra chữ Latinh Tày nhưng không được phổ biến. Đến năm 1960, nhà nước đã
giúp dân tộc Tày xây dựng hệ thống chữ viết mới theo lối chữ Quốc ngữ bằng
chữ cái Latinh.
Tiếng nói Tày sinh động về âm thanh, giàu có về từ ngữ và đặc biệt là rất
sinh động về màu sắc biểu cảm. Việc ra đời của chữ viết tiếng Tày trở thành
một phương tiện đắc dụng cho việc ghi chép lại tiếng nói Tày, thơ ca Tày
Tín ngưỡng và lễ hội có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần
cũng như đời sống tâm linh của nhân dân Tày Thạch An.
Người Tày hầu như ít khi có chùa thờ Phật mà chủ yếu là có đình thờ
thần. Trong xã hội của họ, có hẳn một lớp người chuyên làm nghề cúng bái
được gọi là “Vửt”, “Then”, “Tào” Tục lệ thờ tổ tiên đã có từ rất lâu trong
đời sống tâm linh của nhân dân Tày. Bên cạnh đó, người Tày cũng thờ một số
vị Thần, Phật như Phật bà Quan âm, Hoa Vương, Thánh Mẫu Tín ngưỡng
của người Tày bắt nguồn từ thuyết vạn vật hữu linh, chủ nghĩa đa thần trong
nguyên thủy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 21
Lễ hội trong năm cũng là một nét khá độc đáo trong văn hóa của nhân
dân Thạch An. Hằng năm, đồng bào các dân tộc Tày ở nơi đây tổ chức những
ngày hội lớn như lễ hội Tháng hai vào ngày 2/2 âm lịch, lễ hội Nàng Hai vào
khoảng trung tuần tháng 3 âm lịch. Những ngày hội là dịp để trai gái vui chơi,
ca hát cùng nhau; để bạn bè, bà con gặp gỡ, thăm hỏi nhau; để nhân dân lao
động nói lên những ước vọng của mình về lao động sản xuất và trong cuộc
sống. Chính vì vậy mà ngày hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống
tháng 7, tháng 8 và tháng 9 âm lịch. Theo quan niệm dân gian thì đây là
những ngày đẹp nhất, trăng tròn nhất, sáng nhất và viên mãn nhất trong năm.
Hội tổ chức vào những ngày này thì việc trồng trọt, chăn nuôi, nhân duyên thế
sự của bà con sẽ luôn thuận lợi, trọn vẹn, đong đầy. Lễ hội này với phần lễ
diễn ra khá trang nghiêm nhưng không cầu kỳ song nó mang nhiều yếu tố
huyền bí, chủ yếu thiên về bói toán. Hình thức tổ chức lễ hội này xuất hiện ở
một số huyện miền Tây của tỉnh như: Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình.
Lễ hội Nàng Hai hình thức 2: Thời gian tổ chức lễ hội thường vào tháng 2
âm lịch, gắn liền với hội xuống đồng và các nghi lễ tế thần nông. Sau lễ hội này,
bà con bắt tay vào vụ mùa mới. Hình thức này thấy xuất hiện ở các huyện Hạ
Lang và một số xã của huyện Thạch An như: Vân Trình, Trọng Con. Tuy vẫn
mang mục đích là cầu mùa nhưng hình thức lễ hội này mang nhiều yếu tố thuộc
về trình diễn, sân khấu hơn so với lễ hội Nàng Hai hình thức 1.
Lễ hội Nàng Hai hình thức 3: Thời gian tổ chức lễ hội này kéo dài từ tết
30 tháng giêng (tết Đắp nọi của người Tày ở Cao Bằng) đến trung tuần tháng
3 âm lịch. Trong khoảng thời gian này, nhiều nơi như Phục Hòa, Quảng
Uyên, và một số xã của huyện Thạch An (Kim Đồng, Đức Xuân, Lê Lai) tổ
chức hội Nàng Hai. So với hai hình thức trên, hình thức này phức tạp hơn, với
nhiều nghi thức trang nghiêm hơn, qui mô lớn hơn. Điều đáng chú ý hơn nữa
là lễ hội Nàng Hai hình thức này kết hợp hài hòa giữa phần lễ, phần hội với
nhiều trò diễn dân gian độc đáo. Có thể coi hình thức lễ hội này là sự tổng hòa
của hai hình thức lễ hội trên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 23
Trước năm 1975, lễ hội Nàng Hai được tổ chức ở nhiều địa phương
trên địa bàn tỉnh Cao Bằng nhưng hiện nay chỉ có hai xã Tiên Thành và Kim
Đồng của hai huyện Phục Hòa và Thạch An là còn duy trì được việc tổ chức
hội theo hình thức này.
thắm, để lao động hăng say hơn còn thanh niên nam nữ hát đối đáp giao
duyên, tìm người tri kỷ.
* Chuẩn bị lễ hội
Lễ hội Nàng Hai ở huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng không phải năm
nào cũng được tổ chức. Thường thường, cứ ba năm dân làng lại tổ chức hội
Hai một lần. Việc mở hội phải phụ thuộc vào tình hình sản xuất của năm
trước có được mùa hay không. Do vậy mà làng mở hội năm nào như một điều
lành, như một dịp mừng năm qua có nhiều điều thuận lợi, cuộc sống của bà
con sung túc, no đủ.
Vì lễ hội này có ý nghĩa rất lớn đối với nhân dân nên việc tổ chức lễ hội
được chuẩn bị rất chu đáo và công phu từ hai, ba năm trước.
Thường thường, buổi sáng mùng một Tết, trong lễ cúng Thổ công, một
thiếu nữ thanh tân trong bản được cử ra xin phép thần linh cho mở hội Nàng
Hai. Sau đó, một người già trong bản có kinh nghiệm sẽ chọn ngày tốt nhất để
mở hội và kết thúc lễ hội. Sau đó mọi người bắt đầu công việc chọn người
tham gia lễ hội.
Nơi nào đăng cai mở hội phải chọn một người có uy tín, có kinh
nghiệm tổ chức lễ hội. Tuỳ từng địa phương mà người ta chọn thầy Pửt (còn
được gọi là Bụt, Then - những người làm nghề cúng bái) hay Mẻ Cốc (còn gọi
là Mẹ Gốc, Mẹ Cả) để tiến hành nghi lễ trong những ngày hội chính.
Nhân vật chính của sân khấu trong ngày hội là hai Nàng Trăng do hai
cô gái trong trắng, xinh đẹp, có giọng hát hay, có tài ứng đối thông minh linh
hoạt đóng vai. Mẻ Cốc sẽ là người truyền dạy cho hai cô những bài Lượn gốc
- những bài Lượn chính, cơ bản để dựa vào đó mà có thể ứng tác. Không phải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 25
ai cũng có thể đảm nhiệm được vai trò Mẻ Cốc bởi công việc này phải đòi hỏi
ở một người không chỉ có tài năng, tâm huyết với việc hát Lượn mà còn phải