Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––
LÊ VĂN MIỀU
TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: ĐỊA LÍ HỌC
Mã số: 60. 31.95
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
1.2.2. Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber 14
1.2.3. Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh
hưởng của thành phố 15
1.2.4. Lí thuyết các “điểm trung tâm” của W.Christaller 15
1.2.5. Lí thuyết cực phát triển 16
1.3. Các hình thức chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế và việc vận dụng
vào thực tiễn ở Việt Nam 17
1.3.1. Hành lang kinh tế 17
1.3.2. Khu kinh tế 18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
1.3.3. Vùng kinh tế trọng điểm 20
1.3.4. Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 21
1.3.5. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 24
1.3.6. Tổ chức lãnh thổ dịch vụ 25
Chương 2. HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH
CAO BẰNG 26
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng 26
2.1.1. Vị trí địa lí 26
2.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 28
2.1.2.1. Địa chất và khoáng sản 28
2.1.2.2. Đặc điểm địa hình 29
2.1.2.3. Đất đai và thổ nhưỡng 35
2.1.2.4. Khí hậu 36
2.1.2.5. Tài nguyên nước và chế độ thủy văn 38
2.1.2.5. Tài nguyên sinh vật 39
2.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội 42
2.1.3.1. Dân cư và nguồn lao động 42
2.1.3.2. Cơ sở vật chất, kĩ thuật hạ tầng 43
2.1.3.3. Vốn đầu tư và thị trường 46
3.2.3.1. Định hướng chung 102
3.2.3.2. Tổ chức lãnh thổ dịch vụ 103
3.2.4. Định hướng xây dựng và phát triển hành lang kinh tế 104
3.2.4.1. Hành lang kinh tế quốc lộ 3 104
3.2.4.2. Hành lang kinh tế quốc lộ 34 105
3.2.5. Định hướng tổ chức không gian đô thị 106
3.3. Các giải pháp chủ yếu đảm bảo tổ chức lãnh thổ kinh tế đạt hiệu quả 106
3.3.1. Giải pháp về quy hoạch 106
3.3.2. Giải pháp về đầu tư 107
3.3.3. Giải pháp về cơ chế, chính sách 108
3.3.5. Giải pháp về khoa học công nghệ 109
3.3.6. Giải pháp về hợp tác đối ngoại 110
Phần III: KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các hành lang kinh tế quan trọng của Việt Nam 18
Bảng 1.2: Các Khu kinh tế của Việt Nam (tính đến năm 2008) 20
Bảng 1.3: Các khu công nghiệp ở Việt Nam (tính đến tháng 12/2007) 22
Bảng 1.4: Các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, năm 2007 24
Bảng 2.5: Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Cao Bằng, năm 2008 36
Bảng 2.6: Cơ cấu lao động phân theo trình độ chuyên môn kĩ thuật,
năm 2009 43
Bảng 2.9: Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế, 54
Bảng 2.10: Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành 57
Bảng 2.11: Số lượng trang trại tỉnh Cao Bằng, năm 2008 60
Hình 2.4: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Cao Bằng, giai đoạn
2000 – 2008 50
Hình 2.5: Bản đồ phân hóa lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng, năm 2005 53
Hình 2.6: Bản đồ nông nghiệp tỉnh Cao Bằng, năm 2008 68
Hình 2.7: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp trong GDP tỉnh Cao Bằng 70
Hình 2.8: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo khu vực,
năm 2008 75
Hình 2.9: Bản đồ công nghiệp tỉnh Cao Bằng, năm 2008 76
Hình 2.10: Bản đồ du lịch tỉnh Cao Bằng, năm 2008 80
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
1
Phần I: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những kế hoạch và hành động
nhằm phát huy tốt nhất các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia hay mỗi vùng lãnh thổ. Đây là vấn đề không mới đối với thế giới,
nhưng đối với Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề từ lí luận đến thực tiễn chưa
được làm rõ và còn phải tiếp tục nghiên cứu. Trong những năm gần đây, tổ
chức lãnh thổ kinh tế - xã hội đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt và được
coi như một trong những công cụ quan trọng để phát triển vùng. Hay nói cách
khác, muốn phát triển một cách có hiệu quả thì không thể không tiến hành tổ
chức lãnh thổ kinh tế một cách hợp lí. Cao Bằng là một trong những tỉnh
nghèo nhất cả nước, việc “thiết kế”, tổ chức lãnh thổ kinh tế nhằm sử dụng
một cách hợp lí các tiềm năng về tự nhiên và kinh tế, xã hội để đem lại hiệu
quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự phát triển
bền vững là vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết. Với những lí do đó, chúng
tôi lựa chọn hướng nghiên cứu “Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng”.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế là vấn đề không mới trên thế giới, nhiều nhà
- Đánh giá thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng.
- Đề xuất định hướng và kiến nghị những giải pháp chủ yếu tổ chức lãnh thổ
kinh tế tỉnh Cao Bằng.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Về lãnh thổ: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Cao Bằng, gồm 12 huyện
và 01 thị xã.
* Về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu có trong Niên giám thống kê của Cục
thống kê tỉnh Cao Bằng và các số liệu thu thập khác từ các cơ quan quản lí
nhà nước trong thời gian từ năm 2000 đến 2010, kế hoạch đến năm 2015 và
tầm nhìn đến năm 2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm lãnh thổ: Các sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát
triển trên một không gian lãnh thổ nhất định. Vấn đề là phải tìm ra sự phân
hoá của các sự vật, hiện tượng và quy luật phân bố của chúng trong không
gian. Nghiên cứu đề tài cần dựa trên quan điểm này để phân tích sự khác biệt
của các sự vật, hiện tượng và quá trình địa lí, đồng thời vạch ra những mục
tiêu, phương hướng sử dụng phù hợp với điều kiện của lãnh thổ.
- Quan điểm hệ thống: Quán triệt quan điểm này làm cho việc phân
tích, đánh giá một lãnh thổ được khách quan, khoa học và qua đó hiểu được
các mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống và
giữa các hệ thống với nhau.
- Quan điểm lịch sử, viễn cảnh: Sự phát triển của một lãnh thổ kinh tế
là một quá trình xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Qua đó có
thể thấy được sự biến đổi, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến biến đổi đó và
xu hướng phát triển trong tương lai.
- Phương pháp thực địa: Tiến hành khảo sát thực tế ở một số huyện,
một số cơ sở sản xuất. Tham khảo những ý kiến của các nhà khoa học, các
nhà quản lí có am hiểu về lĩnh vực tổ chức lãnh thổ kinh tế.
6. Những đóng góp chính của đề tài
- Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc những vấn đề liên quan đến hướng
nghiên cứu, luận văn làm sáng tỏ thêm về cơ sở lí luận và thực tiễn của tổ
chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ
kinh tế tỉnh Cao Bằng - một tỉnh đặc trưng cho vùng núi biên giới.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao
Bằng. Xác định rõ các thế mạnh và những hạn chế hay những lợi thế so sánh
giữa tỉnh Cao Bằng với các địa phương khác.
- Phân tích hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng, từ đó
đánh giá những thế mạnh và những hạn chế cần khắc phục.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
5
- Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm phát huy những thế
mạnh, đem lại hiệu quả cao trong tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được
trình bày trong ba chương:
Chương 1- Những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế.
Chương 2- Hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng.
Chương 3- Định hướng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Cao Bằng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
6
Phần II: NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
phát triển hài hòa và bền vững hơn. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội là nội
dung cụ thể của một chính sách kinh tế phát triển theo lãnh thổ dài hạn nhằm
cải thiện môi trường, trong đó diễn ra cuộc sống và các hoạt động của con
người. Xét ở góc độ chính sách, tổ chức không gian kinh tế - xã hội xem như
là một trong những hành động hướng tới sự công bằng về mặt không gian, tối
ưu hóa các mối quan hệ hữu cơ giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực với
nhau và giữa các cực với các không gian còn lại nhằm làm cho toàn bộ lãnh
thổ phát triển bền vững; tạo ra được sự ổn định cần thiết để thiết lập tiền đề
cho tăng trưởng, phát triển; trong đó tạo công ăn việc làm, cân đối lao động,
điều chỉnh cung – cầu hàng hóa và dịch vụ giữa nông thôn và thành thị.
Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng tổ chức lãnh thổ và tổ chức không
gian kinh tế - xã hội được xem là như nhau và thuật ngữ tổ chức lãnh thổ
được sử dụng nhiều hơn cả.
Từ những quan điểm nêu trên, có thể hiểu tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự
sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng
nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí
kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại
hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát
triển bền vững của một lãnh thổ.
1.1.2. Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.2.1. Những nguyên tắc chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tạo ra một trật tự hợp lí có tính tới khả
năng của tài nguyên và yêu cầu của thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng
và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Khi tổ chức lãnh thổ kinh tế phải xem xét tới các nguyên tắc phân bố
sức sản xuất tạo ra một trật tự cho một hệ thống, đảm bảo phát huy tốt nhất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
8
các điều kiện của lãnh thổ để lựa chọn phương án phân bố từng ngành và lĩnh
người quản lí lãnh thổ cũng như trình độ mọi mặt của địa phương phải được
tính đến khi tiến hành tổ chức lãnh thổ kinh tế.
1.1.2.2. Nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Ở nước ta, tiếp cận nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế theo các bước
và với những nội dung chủ yếu sau đây:
Bước 1: Kiểm kê và đánh giá các yếu tố, điều kiện của lãnh thổ và các
đối tượng phải tổ chức trong phạm vi lãnh thổ được nghiên cứu.
Bước 2: Đánh giá hiện trạng lãnh thổ có so sánh với những lãnh thổ
tương tự, phát hiện những bất hợp lí, những xu thế có tính quy luật đối với tổ
chức lãnh thổ được nghiên cứu.
Bước 3: Giả định các phương án tổ chức không gian và lựa chọn
phương án hiệu quả nhất.
Bước 4: Tìm khả năng đáp ứng tài chính, xác định các giai đoạn phát
triển lãnh thổ và kiến nghị phương án quản lí lãnh thổ.
Quá trình nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế đòi hỏi phải có sự phân
tích các mặt, các khía cạnh một các kĩ lưỡng, khoa học. Việc phân tích phải
tuân thủ yêu cầu của tính khẳng định, tính giả định, tính liên ngành, tính liên
vùng, tính đa phương án và tính thỏa thuận.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, tổ chức lãnh thổ kinh tế có
hai nội dung cơ bản (theo Viện Chiến lược phát triển – Bộ kế hoạch và Đầu tư):
Một là: Dự báo về mặt phát triển (dự báo phát triển đối với các ngành, lĩnh vực
trên phạm vi lãnh thổ nghiên cứu); Hai là: Luận chứng các phương án tổ chức
kinh tế - xã hội theo lãnh thổ.
1.1.3. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế
Tổ chức lãnh thổ kinh tế chịu sự tác động đồng thời và tổng hợp các
nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài lãnh thổ dự kiến được tổ chức hay tổ
chức lại. Sự tác động của các yếu tố đến tổ chức lãnh thổ kinh tế không giống
nhau về không gian và thời gian. Có những yếu tố tác động mạnh đối với tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
dân cư sẽ là điều kiện thôi thúc sự hình thành và phát triển nền sản xuất quy
mô lớn và hiện đại.
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực quyết định phương hướng phát
triển cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nghề nói riêng, cũng như
quyết định đến hình thức và nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế.
- Khoa học – công nghệ:
Ảnh hưởng của khoa học và công nghệ có tính chất quyết định đến tổ
chức lãnh thổ kinh tế. Đối với những quốc gia phát triển, công nghệ chiếm vị
trí hàng đầu trong việc gia tăng GDP, công nghệ giữ vai trò chủ đạo đối với
phát triển. Tiềm lực khoa học – công nghệ là yếu tố quan trọng để thực thi các
phương án tổ chức lãnh thổ. Tiến bộ công nghệ đã tạo khả năng sử dụng các
nguồn tài nguyên theo cả chiều rộng và chiều sâu; sự phát triển công nghệ
khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên có thể nâng cao tỉ lệ hữu ích của tài
nguyên, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Tiến bộ công nghệ có lợi cho việc giảm thiểu mức độ phụ thuộc của
phát triển lãnh thổ đối với tài nguyên không phải của lãnh thổ. Do tiến bộ
khoa học – công nghệ có thể tiết kiệm được các yếu tố đầu vào nâng cao giá
trị của các sản phẩm đầu ra. Tiến bộ khoa học – công nghệ không chỉ làm
tăng tổng sản lượng kinh tế, làm sâu sắc thêm phân công lao động xã hội, đa
dạng ngành nghề và nâng cao năng suất lao động, mà còn tạo ra những tiền đề
cho thay đổi cơ cấu kinh tế. Một mặt, sản phẩm mới xuất hiện không ngừng,
kích thích nhu cầu mới, dẫn đến cơ cấu nhu cầu và cơ cấu tiêu dùng ngày
càng đa dạng; mặt khác, chính bản thân sự xuất hiện và lưu thông của công
nghệ mới làm xuất hiện dịch vụ khoa học – công nghệ, đồng nghĩa với ngành
nghề mới xuất hiện.
- Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật:
Mạng lưới đường giao thông, hệ thống thông tin, mạng lưới cung cấp
điện, nước; các trung tâm kinh tế, các vùng sản xuất; các cơ sở thương mại,
- Nhóm các yếu tố về thị trường và các mối liên hệ kinh tế liên vùng:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
Bất kì một lãnh thổ cụ thể nào không thể tách khỏi mối quan hệ với các
lãnh thổ khác, nhất là đối với các lãnh thổ lân cận trên nhiều phương diện.
Thông qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các vùng khác, những
quan hệ về dùng chung mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc,
những quan hệ nguyên liêu – sản phẩm giữa các vùng lãnh thổ…mà tác động
đến tổ chức lãnh thổ kinh tế.
- Nhóm yếu tố về nguồn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài:
Các dòng vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài cũng ảnh hưởng ngày
càng rõ rệt, đặc biệt đối với các quốc gia, các vùng lãnh thổ kém phát triển, nó
đã góp phần làm thay đổi hình thức, nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế. Sự
thu hút nguồn vốn và công nghệ phụ thuốc rất nhiều vào cơ chế chính sách
của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế.
1.2. Khái quát một số lí thuyết về tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.2.1. Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh
- Lí thuyết tăng trưởng nội sinh: Trên cơ sở các kết quả quan sát thực
nghiệm, G.B.Fisher (1939) và C.Clark (1940) đưa ra thuyết tăng trưởng nội
sinh. Thuyết này nhấn mạnh đến năng lực sản xuất bên trong của vùng, khả
năng cung của các yếu tố đầu vào, như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động
và công nghệ để xác định năng lực sản xuất của lãnh thổ. Bên cạnh đó, thuyết
tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư là cấu phần cơ bản trong tổng cầu và là
động lực cơ bản của tăng trưởng vùng, vì đầu tư sẽ làm phát sinh lợi nhuận
mới, tăng năng lực sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng vùng. Do vậy, để đạt
được tăng trưởng kinh tế vùng thì ngoài việc sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu
vào như đã kể trên, còn cần phải tiết kiệm tiêu dùng để có vốn đầu tư, tức là
hạn chế tiêu dùng ở hiện tại để tạo ra mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai.
- Lí thuyết tăng trưởng ngoại sinh hay lí thuyết dựa vào xuất khẩu để
tiễn cao và có thể vận dụng vào việc phân bố và phát triển công nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
15
1.2.3. Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh
hưởng của thành phố
V.Thunen cho rằng, thành phố trung tâm có sức hấp dẫn đối với
hoạt động nông nghiệp ở xung quanh và địa tô chênh lệch là một nhân tố
then chốt dẫn đến sự phân chia lãnh thổ của quốc gia thành các vùng sử
dụng đất nông nghiệp khác nhau xung quanh thành phố hạt nhân. Ông đã
phân tích sự khác nhau về chi phí vận tải, tầm quan trọng của khoảng
cách không gian và trọng lượng sản phẩm của các hoạt động nông
nghiệp trong việc phân bố thành các vành đai nông nghiệp xung quanh
thành phố.
1.2.4. Lí thuyết các “điểm trung tâm” của W.Christaller
Lí thuyết này được hai nhà bác học là W.Christaller và A.Losch đưa ra
năm 1933 dựa trên những ý tưởng và mô hình của V.Thunen và A.Weber
cũng như những luận điểm cơ bản của Niutơn về lực hấp dẫn.
Theo quan điểm của W.Christaller, thành phố là một trung tâm cho tất
cả các điểm dân cư khác của vùng, bảo đảm cho chúng về các hàng hóa của
trung tâm; thành phố là cực hút, là hạt nhân của sự phát triển, là đối tượng để
đầu tư có trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh
hưởng của vị trí trung tâm. A.Losch đưa thêm vào nội dung lí thuyết của
W.Christaller, ông cho rằng có một vị trí trung tâm chung, đó là thành phố
quan trọng nhất, là đầu mối của toàn hệ thống các điểm dân cư.
Lí thuyết các “điểm trung tâm” là cơ sở cho việc bố trí các điểm đô thị
mới tại các vùng lãnh thổ còn trống vắng đô thị. Tuy nhiên cần phải xác định
được phạm vi ảnh hưởng của các vị trí trung tâm, tức là khu vực lãnh thổ nằm
trong phạm vi khống chế, chi phối của trung tâm đó. Theo nghiên cứu của các
Xét về mặt lãnh thổ, sự phát triển và phát đạt của một ngành công
nghiệp mũi nhọn như vậy làm cho lãnh thổ nơi nó phân bố sẽ phát triển và
hưng thịnh. Nguyên nhân là do số lượng việc làm tăng lên, sức mua cũng tăng
lên, các ngành công nghiệp mới, các hoạt động dịch vụ kinh tế - xã hội và các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
17
hoạt động phát triển mới được thu hút vào lãnh thổ đó ngày một nhiều hơn.
Sự tập trung hóa về lãnh thổ đạt tới một mức nhất định và sau đó hiệu ứng lan
tỏa sẽ làm cho các cơ hội phát triển mới bắt đầu xuất hiện ở nhiều địa phương
khác. Kết quả là từ sự phát triển của một cực – một lãnh thổ trọng điểm sẽ kéo
theo sự phát triển của các vùng lãnh thổ khác, tạo điều kiện cho nền kinh tế
của cả vùng lãnh thổ lớn phát triển.
1.3. Các hình thức chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế và việc vận dụng vào
thực tiễn ở Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế
cũng như thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua, có thể thấy các hình
thức tổ chức lãnh thổ kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay là:
1.3.1. Hành lang kinh tế
Hành lang kinh tế được hình thành dựa trên một tuyến trục giao thông
huyết mạch và sự tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ dọc hai bên
tuyến trục đó. Do có sự phát triển tập trung các cơ sở kinh tế, lợi dụng triệt để
việc vận chuyển thuận lợi nên các hoạt động kinh tế đem lại hiệu quả cao hơn.
Hành lang kinh tế được coi là một hiện tượng kinh tế xã hội và đây là hình
thức tổ chức kinh tế theo lãnh thổ đầy triển vọng.
Ở nước ta, hành lang kinh tế đã được hình thành và ngày càng có ý
nghĩa trong phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ, tiêu biểu là 03 tuyến hành
lang kinh tế: Hà Nội – Hải Phòng; Huế - Đà Nẵng – Dung Quất và Thành phố
Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu. Gần đây Việt Nam và Trung quốc đã
thỏa thuận phát triển “hai hành lang, một vành đai” (Hai hành lang kinh tế:
3.770
109.500
6.670
1.500.000
2
Huế - Đà Nẵng –Dung Quất
1.562
23.400
2.400
95.000
3
Thành phố Hồ Chí Minh –
Biên Hòa – Vũng Tàu
6.100
215.000
9.500
3.400.000
Nguồn: Xử lí số liệu theo các dự án quy hoạch vùng của Viện Chiến lược và Phát triển
1.3.2. Khu kinh tế
Khu kinh tế là một lãnh thổ xác định, được hưởng ưu đãi đặc biệt để
phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Trong xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế và thực hiện các cam kết tự do thương mại trên phạm vi khu vực cũng
như trên quy mô toàn cầu, việc phát triển khu kinh tế cần phải được quan tâm
đúng mức.
Trên thế giới, các quốc gia xây dựng các khu kinh tế đều có chung mục
đích là tạo nên sự thông thoáng trong giao thương, tạo sức thu hút mạnh nguồn
đầu tư nước ngoài và thông qua đó phát triển nhanh nền kinh tế đất nước.
Ở Việt Nam, thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW 4 khóa VIII về việc
nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở
những địa bàn ven biển có đủ điều kiện, trên cơ sở tham khảo các mô hình
thương mại và không có nhà ở cũng như các công trình kết cấu hạ tầng phục
vụ đời sống dân sinh.
Ngoài các khu kinh tế ven biển đã nêu trên, ở nước ta còn tồn tại hai
loại khu kinh tế tổng hợp nhưng tính chất tổng hợp và mức độ phức tạp ít hơn
so với khu kinh tế ven biển. Đó là khu kinh tế cửa khẩu và khu kinh tế quốc