Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ LOAN NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC
Mã số: 60.31.95 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ NHƢ VÂN
động viên để tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Để thực hiện luận văn, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ của các cơ
quan: Cục thống kê tỉnh Bắc Giang, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
tỉnh Bắc Giang, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Giang, Sở Tài nguyên và Môi
trường UBND tỉnh Bắc Giang, Ban quản lí các KCN tỉnh Bắc Giang Tác
giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè và những người
thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả Nguyễn Thị Loan
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 1
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 3
3.1. Mục tiêu 3
1.2.1.3. Vùng kinh tế trọng điểm 20
1.2.2. Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 20
1.2.3. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 22
1.2.4. Tổ chức lãnh thổ dịch vụ 23
1.2.5. Tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh/thành phố 23
Tiểu kết chương 1 26
Chƣơng 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG VÀ HIỆN TRẠNG TỔ
CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ BẮC GIANG 27
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang 27
2.1.1. Vị trí địa lí 27
2.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 29
2.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội 34
2.1.4. Đánh giá chung 41
2.2. Hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang 43
2.2.1. Khái quát chung sự phát triển kinh tế Bắc Giang 43
2.2.2. Tổ chức lãnh thổ kinh tế Bắc Giang 45
Tiểu kết chương 2 79
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
Chƣơng 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH
THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2020 80
3.1. Quan điểm và mục tiêu định hướng phát triển 80
3.1.1. Quan điểm phát triển kinh tế 80
3.1.2. Mục tiêu phát triển kinh tế 80
3.2. Một số giải pháp chủ yếu 89
3.2.1. Thu hút vốn đầu tư và huy động vốn 89
3.2.2. Nâng cao trình độ người lao động và nguồn nhân lực 90
3.2.3. Thực hiện đổi mới cơ chế chính sách 91
DA : Dự án
QL : Quốc lộ
UBND : Ủy ban nhân dân
KH&ĐT : Kế hoạch và đầu tư
NXB : Nhà xuất bản
EU : Liên minh Châu Âu
PCI : Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Các hành lang kinh tế quan trọng của Việt Nam 17
Bảng 1.2. Các Khu kinh tế của Việt Nam 19
Bảng 1.3. Các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, năm 2007 22
Bảng 2.1. Dự kiến khai thác khoáng sản 33
Bảng 2.2. Gia tăng dân số và tỷ lệ gia tăng tự nhiên 2005 - 2010 34
Bảng 2. 3. Vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế 40
Bảng 2.4. Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt theo giá thực tế phân
theo nhóm cây trồng giai đoạn 2000 - 2010 47
Bảng 2.5. Đàn gia súc, gia cầm phân theo thành phố và các huyện năm 2010 48
Bảng 2.6. Tình hình hoạt động kinh tế hộ gia đình Bắc Giang 2003 - 2009 50
Bảng 2.7. Một số chỉ tiêu so sánh giữa hai tiểu vùng năm 2010 56
Bảng 2.8. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất các ngành công
nghiệp phân theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 58
Bảng 2.9. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành công
nghiệp chính của Bắc Giang theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 60
Bảng 2.10. Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố
định 1994 phân theo huyện giai đoạn 2000 - 2010 61
Bảng 2.11. Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ theo
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những khái niệm cơ bản của Địa
lí học, là gạch nối giữa nhận thức lý luận và hành động thực tiễn của khoa học
này. Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những kế hoạch và hành động
nhằm phát huy tốt nhất các nguồn lực để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
hay mỗi vùng lãnh thổ. Đây là vấn đề không mới đối với thế giới, nhưng đối
với Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề từ lí luận đến thực tiễn chưa được làm rõ
và còn phải tiếp tục nghiên cứu. Trong những năm gần đây, tổ chức lãnh thổ
kinh tế đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt và được coi như một trong
những công cụ quan trọng để phát triển vùng. Hay nói cách khác, muốn phát
triển một cách có hiệu quả thì không thể không tiến hành tổ chức lãnh thổ
kinh tế một cách hợp lí. Bắc Giang là một trong những tỉnh có nhiều tiềm
năng để phát triển kinh tế, tuy nhiên hiện nay kinh tế phát triển chậm chưa
tương xứng với tiềm năng, còn nghèo so với cả nước. Do vậy, việc tổ chức
lãnh thổ kinh tế nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng về tự nhiên,
kinh tế và xã hội để đem lại hiệu quả kinh tế cao và nâng cao đời sống nhân
dân, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững là vấn đề hết sức quan trọng và
cấp thiết. Với những lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tổ chức
lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang”.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội (KT-XH) là vấn đề không mới trên thế
giới, nhiều nhà khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau đã dành nhiều
công sức nghiên cứu vấn đề này, trong đó tiên phong là các nhà khoa học Địa
lí. Từ việc nghiên cứu thực tiễn đã hình thành những lí thuyết khái quát có thể
được coi là những lí luận cổ điển về tổ chức lãnh thổ kinh tế quý báu để học
tỉnh Bắc Giang thời kì 2006-2020„của UBND tỉnh Bắc Giang hay các báo
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
cáo, thống kê khác của Tỉnh úy, UBND Bắc Giang, Sở NN&PTNT, Sở
KH&ĐT Bắc Giang cũng nêu các vấn đề phát triển KT-XH của Bắc Giang,
và các vấn đề liên quan tổ chức lãnh thổ của các ngành kinh tế của tỉnh. [1/2/
5/8/9 /23/25]
Luận văn thạc sĩ: “Địa lí nông nghiệp tỉnh Bắc Giang„ của Lê Thị Thu
Thủy cũng đã đề cập đến vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp của Bắc Giang.
Luận văn thạc sĩ “kinh tế Bắc Giang thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa„
của Phan Đức Tráng đã giới thiệu về sự tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc
Giang với 2 vùng riêng biệt
Tuy nhiên đối với Bắc Giang, từ trước đến nay chưa có tài liệu, báo cáo,
công trình nào viết riêng, nghiên cứu sâu về cả vấn đề tổ chức lãnh thổ kinh tể
của tỉnh. Vì thế đề tài “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang”
của tác giả đã kế thừa một phần từ các công trình nghiên cứu trên, đồng thời
bổ xung, tổng hợp nhiều số liệu, chiến lược, báo cáo, mục tiêu, để có một
cái nhìn tổng quát nhất về tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu tổng hợp những vấn đề cơ bản về lí luận
và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng chúng vào việc nghiên
cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang. Đề xuất các giải pháp nhằm khai
thác và phát huy hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế tỉnh Bắc Giang để
phát triển nhanh và bền vững thời kì 2010 - 2020.
3.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức
lãnh thổ kinh tế và vận dụng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh
giữa các hệ thống với nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
- Quan điểm lịch sử, viễn cảnh: Sự phát triển của một lãnh thổ kinh tế
là một quá trình xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Qua đó có
thể thấy được sự biến đổi, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến biến đổi đó và
xu hướng phát triển trong tương lai.
- Quan điểm phát triển bền vững: Quán triệt quan điểm bền vững đòi
hỏi phải đảm bảo cả về ba mặt: kinh tế (KT); xã hội và môi trường. Về mặt
KT, đó là tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sự ổn định của nền KT. Dưới góc
độ xã hội, phải chú trọng đến việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng thể chế và
bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: Việc thu thập tài liệu phải từ
nhiều nguồn để có thể chọn lọc những tài liệu cần thiết đáp ứng được yêu cầu
của công tác nghiên cứu. Việc thu thập tài liệu chủ yếu từ các Ban, Ngành, cơ
quan chức năng trên địa bàn Bắc Giang và các nguồn tài liệu khác trên báo
chí, giáo trình…
- Phương pháp phân tích hệ thống: Thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế
tỉnh Bắc Giang có thể thấy được qua phân tích các mối quan hệ không gian,
thời gian của các ngành cũng như các lĩnh vực KT, các mối quan hệ giữa tự
nhiên và KT-XH.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Đây là những phương pháp đặc trưng của
Địa lí, được sử dụng để làm rõ hiện trạng KT, sự phân bố, các mối liên hệ lãnh
thổ trong không gian, những mối liên hệ KT và những dự kiến phát triển KT.
- Phương pháp thực địa: Tiến hành khảo sát thực tế ở một số huyện,
một số cơ sở sản xuất. Tham khảo những ý kiến của các nhà khoa học, các
nhà quản lí có am hiểu về lĩnh vực tổ chức lãnh thổ kinh tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Thuật ngữ tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian bắt nguồn từ cơ sở
lí thuyết kinh tế của Adam Smith và Ricardo, từ các công trình nghiên cứu
của G.Thunen, A.Weber, W.Christaller… sau đó được phát triển về lí luận và
được ứng dụng vào thực tiễn từ giữa thế kỉ XIX. Thực tế cho thấy, trong lĩnh
vực này, các nước trên thế giới sử dụng những thuật ngữ không giống nhau.
Ở phương Tây, các nhà khoa học của các quốc gia phát triển lại tiếp
cận vấn đề này với một cách gọi khác: “Tổ chức không gian kinh tế - xã hội”.
Khái niệm này ra đời từ cuối thế kỉ XIX, nó được xem như nghệ thuật kiến
thiết và sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả. Nhiệm vụ chủ
yếu của tổ chức không gian là xác định được sức chứa của lãnh thổ; tìm kiếm
mối quan hệ tỉ lệ hợp lí và liên hệ chặt chẽ trong phát triển KT-XH giữa các
ngành và giữa các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng, cũng như đảm
bảo mối quan hệ giữa các vùng trong một quốc gia có tính tới mối quan hệ
giữa các quốc gia với nhau. Nhờ có sự sắp xếp có trật tự giữa các đối tượng
trong lãnh thổ mà tạo ra một giá trị lớn hơn, làm cho sự phát triển hài hòa và
bền vững hơn.
Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng tổ chức lãnh thổ và tổ chức không
gian KT-XH được xem là như nhau và thuật ngữ tổ chức lãnh thổ được sử
dụng nhiều hơn cả.
trong một lãnh thổ, làm cho nơi thừa không lãng phí, nơi thiếu thì có điều
kiện để bù đắp cái mình thiếu. Đảm bảo được sự tương tác chính là điều kiện
cần thiết để có được sự phát triển nhịp nhàng.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế đảm bảo sự phù hợp với trình độ nguồn nhân
lực và trình độ khoa học công nghệ. Trình độ của những người hoạch định
chính sách, của những người quản lí lãnh thổ cũng như trình độ mọi mặt của
địa phương phải được tính đến trong tổ chức lãnh thổ kinh tế.
1.1.2.2. Nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Ở nước ta, tiếp cận nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế theo các bước
và với những nội dung chủ yếu sau đây:
Bước 1: Kiểm kê và đánh giá các yếu tố, điều kiện của lãnh thổ và các
đối tượng phải tổ chức trong phạm vi lãnh thổ được nghiên cứu.
Bước 2: Đánh giá hiện trạng lãnh thổ có so sánh với những lãnh thổ
tương tự, phát hiện những bất hợp lí, những xu thế có tính quy luật đối với tổ
chức lãnh thổ được nghiên cứu.
Bước 3: Giả định các phương án tổ chức không gian và lựa chọn
phương án hiệu quả nhất.
Bước 4: Tìm khả năng đáp ứng tài chính, xác định các giai đoạn phát
triển lãnh thổ và kiến nghị phương án quản lí lãnh thổ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, tổ chức lãnh thổ kinh tế có
hai nội dung cơ bản (theo Viện Chiến lược phát triển - Bộ KH&ĐT): (1) Dự báo
về mặt phát triển (dự báo phát triển đối với các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh
thổ nghiên cứu); (2) Luận chứng các phương án tổ chức KT-XH theo lãnh thổ
cấp tỉnh/thành phố [28/29].
1.1.3. Các yếu tố chủ yếu ảnh hƣởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế
Tổ chức lãnh thổ kinh tế chịu sự tác động đồng thời và tổng hợp các
dân cư sẽ là điều kiện thôi thúc sự hình thành và phát triển nền sản xuất quy
mô lớn và hiện đại.
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực quyết định phương hướng phát
triển cơ cấu KT nói chung và cơ cấu ngành nghề nói riêng, cũng như quyết
định đến hình thức và nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
- Khoa học - công nghệ
Tiến bộ khoa học - công nghệ có vai trò quan trọng giảm thiểu mức độ
phụ thuộc của phát triển lãnh thổ đối với tài nguyên không phải của lãnh thổ.
Do tiến bộ khoa học - công nghệ có thể tiết kiệm được các yếu tố đầu vào
nâng cao giá trị của các sản phẩm đầu ra. Tiến bộ khoa học - công nghệ không
chỉ làm tăng tổng sản lượng kinh tế, làm sâu sắc thêm phân công lao động xã
hội, đa dạng ngành nghề và nâng cao năng suất lao động, mà còn tạo ra những
tiền đề cho thay đổi cơ cấu KT.
- Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Mạng lưới đường giao thông, hệ thống thông tin, mạng lưới cung cấp
điện, nước; các trung tâm KT, các vùng sản xuất; các cơ sở thương mại, ngân
hàng…ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành cơ cấu KT lãnh thổ. Do vậy,
muốn chuyển đổi cơ cấu KT lãnh thổ hiệu quả và bền vững thì phải tạo ra
những tiến bộ về chất đối với cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật.
- Trình độ phát triển của nền kinh tế
Trình độ phát triển KT thể hiện qua nhiều yếu tố, như: quy mô nền KT;
cơ cấu KT; trình độ của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất; khả năng áp
dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất, trong quản lí và trong kinh
doanh…Đây là những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của một
lãnh thổ, bởi vì trình độ phát triển của nền KT là nhân tố chứng tỏ khả năng
về phương tiện vật chất cho tổ chức lãnh thổ và cũng có điều kiện tạo ra nhu
càng rõ rệt, đặc biệt đối với các quốc gia, các vùng lãnh thổ kém phát triển, nó
đã góp phần làm thay đổi hình thức, nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế. Sự
thu hút nguồn vốn và công nghệ phụ thuốc rất nhiều vào cơ chế chính sách
của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế.
1.1.4. Khái quát về các lí thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.4.1. Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh
- Lí thuyết tăng trưởng nội sinh: Trên cơ sở các kết quả quan sát thực
nghiệm, G.B.Fisher (1939) và C.Clark (1940) đưa ra thuyết tăng trưởng nội
sinh. Thuyết này nhấn mạnh đến năng lực sản xuất bên trong của vùng, khả
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
năng “cung” của các yếu tố đầu vào, như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao
động và công nghệ để xác định năng lực sản xuất của lãnh thổ. Bên cạnh đó,
thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư là cấu phần cơ bản trong tổng
“cầu” và là động lực cơ bản của tăng trưởng vùng, vì đầu tư sẽ làm phát sinh
lợi nhuận mới, tăng năng lực sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng vùng.
- Lí thuyết tăng trưởng ngoại sinh hay lí thuyết dựa vào xuất khẩu để
phát triển vùng. Theo thuyết này, tăng trưởng vùng chịu ảnh hưởng rất lớn
của mức cầu bên ngoài, muốn nâng cao tiềm lực kinh tế của vùng thì cần phải
thu hút được các luồng tiền từ bên ngoài vào. Để làm được điều đó thì hiệu
quả nhất là gia tăng xuất khẩu.
1.1.4.2. Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber
Lí thuyết này đưa ra mô hình không gian phân bố công nghiệp (CN)
trên cơ sở nguyên tắc cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận. Lí thuyết
này ra đời đã giải thích CN tập trung vào một địa điểm nhất định là do ba lí
do, đó là: hướng theo vận tải (nghĩa là các xí nghiệp CN phân bố hướng đến
các khu vực với chi phí vận tải thấp nhất); hướng theo lao động (nghĩa là các
xí nghiệp CN phân bố hướng đến các khu vực có giá nhân công rẻ) và tích tụ
Lí thuyết này được hai nhà bác học là W.Christaller và A.Losch đưa ra
năm 1933 dựa trên những ý tưởng và mô hình của V.Thunen và A.Weber
cũng như những luận điểm cơ bản của Niutơn về lực hấp dẫn.
Theo quan điểm của W.Christaller, TP là một trung tâm cho tất cả các
điểm dân cư khác của vùng, bảo đảm cho chúng về các hàng hóa của trung
tâm; thành phố là cực hút, là hạt nhân của sự phát triển, là đối tượng để đầu tư
có trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng
của vị trí trung tâm. A.Losch đưa thêm vào nội dung lí thuyết của
W.Christaller, ông cho rằng có một vị trí trung tâm chung, đó là TP quan
trọng nhất, là đầu mối của toàn hệ thống các điểm dân cư.
Lí thuyết các “điểm trung tâm” là cơ sở cho việc bố trí các điểm đô thị
mới tại các vùng lãnh thổ còn trống vắng đô thị. Theo nghiên cứu của các nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
kinh tế thì càng xa vị trí trung tâm ảnh hưởng càng giảm dần và sẽ chấm dứt tại
điểm mà sự ảnh hưởng bắt đầu mạnh hơn của một trung tâm gần nhất khác.
1.1.4.5. Lí thuyết cực phát triển
Lý thuyết chú trọng vào những điểm làm phát sinh sự tăng trưởng KT
của lãnh thổ. Quan điểm này do Francoi Perroux - nhà kinh tế học người Pháp
đề xướng vào đầu những năm 50 thế kỉ XX. Theo ông, trong một vùng không
thể phát triển KT đồng đều ở tất cả các điểm trên lãnh thổ của nó theo cùng
một thời gian mà luôn có xu hướng phát triển mạnh nhất ở một hoặc vài điểm,
trong khi các điểm khác lại phát triển chậm chạp hoặc trì trệ, kém phát triển.
Các điểm phát triển nhanh này, tất nhiên nó là những trung tâm có lợi thế so
với toàn vùng.
Những năm sau đó, lý thuyết này được Albert Hirshman, Myrdal,
Friedman và Harry Richarson tiếp tục nghiên cứu và phát triển, trên cơ sở
nhấn mạnh vai trò to lớn của CN và dịch vụ (DV) đối với sự tăng trưởng và
bởi những yếu tố như tài nguyên và khí hậu (như trong thuyết thương mại
“cũ”), nhưng thêm vào đó là rất nhiều những chuyên biệt hóa căn cứ trên tính
tiết kiệm do quy mô.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.2.1. Các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế chủ yếu vận dụng vào thực tiễn ở
Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế
cũng như thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua, có thể thấy các hình
thức tổ chức lãnh thổ kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay là:
1.2.1.1 Hành lang kinh tế
Hành lang kinh tế được hình thành dựa trên một tuyến trục giao thông
huyết mạch và sự tập trung các cơ sở CN và DV dọc hai bên tuyến trục đó.
Do có sự phát triển tập trung các cơ sở KT, lợi dụng triệt để việc vận chuyển