So sánh biện pháp tu từ trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa - Pdf 22

LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được hoàn thành với sự chỉ đạo, giúp đỡ tận tình,
xát xao của Thạc sĩ Bùi Kim Tuyến – giảng viên chính, trưởng bộ môn
Tiếng Việt khoa Ngữ Văn, người hướng dẫn nhiệt tình, trực tiếp và tạo
mọi điều kiện thuận lợi để em sớm hoàn thành khóa luận một cách tốt
đẹp, cùng với sự động viên, cổ vũ nhiệt tình của giáo viên chủ nhiệm cùng
các thầy cô trong khoa Tiểu học – Mầm non, trường Đại học Tây Bắc.
Nhân dịp khóa luận hoàn thành, em xin được bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc nhất tới sự giúp đỡ của các thầy cô, đặc biệt là Thạc sĩ Bùi Kim
Tuyến đã hướng dẫn em tận tình.
Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận không tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy em kính mong các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn sinh viên
góp ý kiến để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn Hội đồng bảo vệ và chấm
khóa luận.
Sơn La, tháng 05 năm 2011
Người viết
Hoàng Thị Hậu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………
2. Lịch sử vấn đề…………………………………………………
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu………………………………
3.1. Mục tiêu nghiên cứu……………………………………
3.2. Phạm vi nghiên cứu ……………………………………
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………
4.1. Phương pháp thống kê phân loại……………………….
4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu…………………………
4.3. Phương pháp phân tích tu từ học………………………
5. Những đóng góp của khóa luận……………………………….
6. Cấu trúc của khóa luận……………………………………….

1. Lý do chọn đề tài
Nền văn học dân tộc từ khi ra đời cho đến nay, từ văn học truyền
miệng cho đến văn học viết, từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đã trải
qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc. Và nền văn học không thể tránh khỏi
những ảnh hưởng, biến động của thời đại.Qua bao lớp bụi thời gian phủ đầy
của bốn ngàn năm, cho đến ngày hôm nay những tác phẩm để đời của các
nhà thơ, nhà văn chân chính vằn còn được hậu thế công nhận và ghi tạc.Mỗi
tác giả lại có một phong cách sáng tác riêng để lại dấu ấn sâu đậm trong long
độc giả. Họ tìm ra và lựa chọn cho mình một phương thức biểu đạt riêng. So
sánh tu từ là một biện pháp nghệ thuật được kha nhiều tác giả lựa chọn. Và
trong số ấy không phải ai cũng đạt được những thành công mĩ mãn. Chỉ có
những người mang trong mình bầu nhiệt huyết và tình yêu của người nghệ sĩ
mới có thể có những tác phẩm tồn tại với hậu thế. Trần Đăng Khoa tiêu biểu
trong những tác giả gặt hái được nhiều thành công về sử dụng biện pháp
nghệ thuật so sánh tu từ đó.
Trần Đăng khoa sinh ngày 26/04/1958 là một tài năng văn học lớn.
Ông sinh ra trong một nhà nông dân, bố mẹ thuộc khá nhiều truyện và thơ ca
cổ. Trong gia đình luôn ngập tràn không khí văn chương, chính quê hương
và gia đình là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng tâm hồn thơ Trần Đăng Khoa. Với
tất cả những gì đã làm được trong 2 tập thơ trẻ con Góc sân và khoảng trời,
Từ góc sân nhà em, ông được coi là thần đồng thi ca và là Nhà thơ mục
đồng. Để trở thành một Thần đồng thơ, ngoài tài năng thiên bẩm, ông đã
phải bền bỉ phấn đấu, tích lũy ngay từ nhỏ. Trần Đăng Khoa làm thơ từ hồi
đi học lớp vỡ lòng (lớp 1 bây giờ) theo lối bắt chước những gì ông đã đọc
được và viết theo thể nhật kí, ghi chép các việc xảy ra hằng ngày.
Trong sự nghiệp văn chương đồ sộ của mình, Trần Đăng Khoa đã sử
dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật như: điệp ngữ, ẩn dụ, hoán dụ, từ láy,
cách gieo vần… và không thể không nhắc đến biện pháp so sánh tu từ. So
sánh tu từ là một trong những biện pháp nghệ thuật tạo nên sự thành công
trong thơ Trần Đăng Khoa. Vì vậy, đề tài này tìm hiểu về So sánh tu từ

đó khẳng định một cách nhìn, một cách tìm hiểu mới để việc dạy học các tác
phẩm của Trần Đăng Khoa một cách dể dàng hơn, có căn cứ hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Từ nhỏ Trần Đăng Khoa đã được nhiều người cho là thần đồng thơ
văn. Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo. Năm 1968, khi mới 10 tuổi,
tập thơ đầu tiên của ông Từ góc sân nhà em tập thơ tiếp theo là Góc sân và
khoảng trời được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản. Có lẽ tác phẩm được
nhiều người biết đến nhất là bài thơ “Hại gạo làng ta”, sáng tác năm 1968,
được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc
năm 1971.
Tuổi ấu thơ Trần Đăng Khoa có thơ hồn nhiên, nhí nhảnh về thiên
nhiên thể hiện những cung bậc cảm xúc đáng yêu của tuổi thơ. Từ 1972, đặc
biệt từ sau khi đi bộ đội thơ của ông lắng sâu suy nghĩ và thành tựu lớn nhất
là thơ về biển và những hòn đảo về Tổ quốc.
Thơ ông được dịch in ở nhiều nước trên thế giới như: Pháp, Đức,
Bun-ga-ri, Hung-ga-ri, Na Uy, Bồ Đào Nha, Ca-na-đa, Tiệp Khắc, Thụy
Điển, Mĩ, Liên Xô (cũ)….Trong công việc làm thơ, ông may mắn được gặp
gỡ với nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như: Xuân Diệu, Tố Hữu, Huy Cận,
Chế Lan Viên….Những nhà thơ, nhà văn này đã tận tình dìu dắt để anh sớm
vượt qua sự ấu trĩ, phát triển tư duy nghệ thuật và nhanh chóng trưởng thành
trong công việc làm thơ. Vì vậy, ông luôn khiến nai tiếp chuyện cũng phải
ngạc nhiên vì những hiểu biết rất tường tận về văn chương nghệ thuật mà
ông bộc lộ.
Là một trong các tác giả của trào lưu thơ thiếu nhi thời chống Mĩ,
Trần Đăng Khoa cùng các bạn đã viết về nhiều đề tài khác nhau. Đó là
những đề tài mang âm hưởng hiện đại như: lòng kính yêu Bác Hồ; lòng căm
thù giặc Mĩ, chán ghét chiến tranh; tình cảm đặc biệt với chú bộ đội; niềm tự
hào về sức mạnh Việt Nam trong chiến tranh…Nhưng khác với các bạn,
Trần Đăng Khoa còn dành sự quan tâm đặc biệt cho cảnh sắc quê nhà với
các bài thơ về góc sân, khoảng trời, cánh đồng, dòng sông…nơi ông sinh ra

được nghiên cứu một cách thấu đáo.
Khóa luận góp phần vào cái nhìn đầy đủ hơn về hệ thống nghệ thuật –
chỉnh thể mang tính nội dung trong thơ Trần Đăng Khoa để khẳng định giá
trị bền vững của thơ ông trong lòng độc giả. Chúng tôi sẽ nỗ lực tìm hiểu,
phân tích, nghiên cứu về biện pháp nghệ thuật so sánh tu từ trong tập Góc
sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa với mong muốn kế thừa và phát huy
những thành tựu đã nghiên cứu về thơ Trần Đăng Khoa.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật trong văn
chương Trần Đăng Khoa. Và để góp thêm và hệ thống nghiên cứu nghệ
thuật ấy, khóa luận này tiến hành tìm hiểu giá trị của biện pháp so sánh tu từ
trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của ông. Điều này khẳng định một lần
nữa vẻ đẹp ngôn ngữ, thấy được vai trò, tác dụng và giá trị của so sánh tu từ
- một yếu tố quan trọng làm cho thơ Trần Đăng Khoa sống mãi cùng thời đại
cũng như khả năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi sáng tác. Khóa
luận này được chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo các bước như sau:
- Tìm hiểu chung về phương tiện tu từ và biện pháp tu từ ngữ
nghĩa trong sáng tác của nhà thơ.
- Tiến hành khảo sát tập thơ Góc sân và khoảng trời sáng tác năm
1973 của Trần Đăng Khoa tìm ra những thi phẩm, những câu thơ có sử dụng
so sánh tu từ.
- Phân tích giá trị nghệ thuật của so sánh tu từ trong tập thơ Góc
sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu tập thơ Góc sân và khoảng trời thực chất là tìm thơ tuổi
thơ Trần Đăng Khoa các bài thơ ông sáng tác thời thơ ấu đã được in thành
nhiều tập (chưa kể các tập in chung): Từ góc sân nhà em (1968), Thơ Trần
Đăng Khoa, tập một (tuyển 1966 – 1969, in năm 1970), Góc sân và khoảng
trời (1973), Khúc hát người anh hùng (trường ca 1975), Kể cho bé nghe

4.2. Phương pháp đối chiếu so sánh
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận, chúng tôi cố gắng so sánh, đối
chiếu với các công trình nghiên cứu của các tác giả khác về văn chương và
về việc sử dụng so sánh tu từ trong thơ ông với mục đích là đưa ra sự giống
và khác nhau, vấn đề nào các tác giả đã đề cập tới, vấn đề nào họ chưa đề
cập tới. Hay đề cập tới họ chỉ đi sơ qua phần nào chưa đào sâu tìm hiểu ở
một số bài nghiên cứu. Từ đây là cơ sở, nền tảng có hiệu quả cho việc tiến
hành nghiên cứu ở khóa luận này.
4.3. Phương pháp phân tích tu từ học
Phương phấp phân tích tu từ học chính là bước đầu tiên trong quá
trình giải mã nghệ thuật( Đỗ Việt Hùng). Van học là nghệ thuật của ngôn từ.
Vì vậy, phương pháp này giúp ta giải mã một cách đầy đủ hơn về những
hiện tượng cách tân trong sử dụng ngôn ngữ, lựa chọn những hình ảnh,
những tín hiệu nghệ thuật.
Việc sử dụng phương pháp này vào phân tích biện pháp so sánh tu từ
trong thơ Trần Đăng Khoa, ta cần chú ý tới các phương pháp phân tích
sau đây:
- Xác định thành phần thông tin cơ bản của ngôn từ.
- Tìm ra những hình thức biểu đạt gần nghĩa hoặc hình thức đồng
nghĩa của biểu đạt được lựa chọn.
- Tiến hành so sánh đối chiếu dựa trên những quan hệ của ngữ
cảnh tu từ ở đây thấy được điểm đồng nhất và đối lập của từng yếu tố. Từ đó
đưa ra những phán đoán về giá trị, hiệu quả của hình thức nghệ thuật được
lựa chọn trong việc phục vụ nội dung biểu đạt.
Tuy nhiên ta cũng thấy rằng: Sự phân tích tu từ học chỉ là chất xúc tác
cho tác dộng của nghệ thuật, cho tư tưởng và cảm xúc thẩm mĩ. Sự phân tích
này luôn luôn phải gắn liền với quá trình khái quát và tổng hợp để khôi phục
tính chỉnh thể của tác phẩm văn học, nhằm xác định rõ giá trị của mỗi yếu
tố, mỗi chi tiết, mỗi phương tiện, biện pháp tu từ trong cái toàn thể đó là
tác phẩm.

1.1. Màu sắc tu từ
Màu sắc tu từ là một khái niệm trong phong cách học, chỉ phần thông
tin có tính bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản của một thông báo.
Hay nói cách khác, nó chính là khía cạnh biểu cảm – cảm xúc ý nghĩa
của từ (diển đạt, thể hiện những tình cảm, những sự đánh giá, thái độ…) bên
cạnh khía cạnh sự vật - logic của ý nghĩa.
Ví dụ:
Các từ như: chết, hi sinh, toi, ngỏm, qua đời, từ trần, tạ thế, bỏ mạng,
mất xác, thiệt mạng… là các từ đồng nghĩa để nói về sự chết của con người
tức tắt thở, tim ngừng đập, con người rơi vào trạng thái bất tỉnh nhưng nó
hoàn toàn khác nhau về mặt sắc thái biểu cảm.
Chết là “hết sống” nói chung, không kể người, động vật, thực vật,
mang màu sắc trung hòa.
Từ trần, tạ thế dùng cho người có địa vị xã hội cao nhất định, mang
màu sắc tôn kính.
Các từ bỏ mạng, mất xác nói đến những cái chết “bất đắc kì tử” do
đau ốm, tai nạn ở những nơi không đáng đến hay do những việc làm không
đáng làm, mang màu sắc khinh thường hay coi nhẹ.
Hi sinh mang màu sắc cao quý, sang trọng.
Ví dụ:
Bác ấy đã từ trần vào tối qua.
Cô ấy đã mất vì tai nạn giao thông.
Như vậy hai từ “qua đời, mất” biểu hiện sắc thái trang trọng, nhã nhặn, lịch
sự, tôn kính. Nó thể hiện thái độ kính trọng của người nói với người đã mất,
thể hiện sự nối tiếc, thương xót.
Ví dụ:
Nó vừa toi hôm qua xong.
Từ “toi” trong câu trên thể hiện thái độ suồng sã, coi thường của người nói
đối với người đã mất, xem nhẹ cái chết của người đó.
Ví dụ:

- Phương tiện tu từ cú pháp
- Phương tiện tu từ văn bản
Phương tiện tu từ tiếng Việt rất đa dạng và phong phú, ở mỗi cấp độ
phương tiện tu từ có những đặc điểm, đặc trưng và nét khu biệt chung.
1.3. Biện pháp tu từ
Biện pháp tu từ là những cách thức phối hợp sử dụng trong hoạt
động lời nói các phương tiện ngôn ngữ ( không kể trung hòa hay diễn cảm)
để tạo ra hiệu quả tu từ( tức là gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh làm nổi bật…)
do sự tác động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng.(Giáo sư
Đinh Trọng Lạc).
Còn là cách thức diễn đạt mới mẻ trong một ngữ cảnh cụ thể bên cạnh
những cách diễn đạt bình thường, quen thuộc trong mọi ngữ cảnh.
Ví dụ:
Câu thơ “Trẻ em như búp trên cành” của Hồ Chí Minh, sự so sánh “trẻ
em” như “ búp trên cành” trở thành một biện pháp tu từ, nhờ việc so sánh đó
mà đã diễn đạt được cái sức sống vươn lên, sự non tơ, tương lai ngời sáng
của thế hệ trẻ…
Thật vậy, cái hay của tác phẩm không thuần túy nằm ở mặt nội dung.
Mà thêm vào đó, một yếu tố quan trọng là nghệ thuật, là lớp ngôn từ được
diễn đạt một cách mới mẻ và đặc sắc.
Một khi ta đã hiểu thấu đáo về biện pháp tu từ thì ta xẽ thấy hết cái
hay của tác phẩm, thấy cái tài của người nghệ sĩ văn chương.
Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ, các phương tiện ngôn ngữ được phối
hợp sử dụng các biện pháp tu từ được chia làm các cấp độ như sau:
- Biện pháp tu từ từ vựng
- Biện pháp tu từ ngữ nghĩa
- Biện pháp tu từ cú pháp
- Biện pháp tu từ văn bản
- Biện pháp tu từ ngư âm – văn tự
Tiếng việt của ta sử dụng rất nhiều phương tiện và biện pháp tu từ ngữ

thường “tưởng” và “nhớ” cùng chỉ trạng thái hướng về quá khứ nhưng
“tưởng” còn nói lên sự hiện diện của quá khứ trong hiện tại. Thậm chí tác
giả có sự liên thông giữa quá khứ - hiện tại - tương lai (tưởng nhớ, mơ
tưởng, hồi tưởng, tưởng tượng) chứ không chỉ là một lát cắt, một phân đoạn
thời gian như của từ “nhớ”.
Phân tích tu từ học vô cùng quan trọng vì nó giúp cho người phân tích
tìm được giá trị đích thực, tìm ra đặc điểm phong cách riêng biệt của một tác
phẩm với mỗi nhà văn, nhà thơ. Phương pháp phân tích như một thứ vũ khí
kì diệu của con người, giúp cho con người khám phá thế giới bên ngoài và
phát hiện cả thế giới bên trong của mình nữa.
2. So sánh tu từ
2.1. Khái niệm
So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu
với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để
gợi ra hình ảnh cụ thể những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người
đọc người nghe [21 Tr 189] (Theo Đinh Trọng Lạc trong “Phong cách học
Tiếng Việt”).
Ví dụ:
Thiếp như hoa đã lìa cành
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi
(Ca dao)
Em yêu nhà em
Hàng xoan trước ngõ
Hoa xao xuyến nở
Như mây từng chùm
(Tô Hà)
Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải luạ đào tẩm hương
(Ca dao)
Mắt hiền sáng tựa vì sao

cũng hay như thơ Xuân Quỳnh”. Vì vậy vế được so sánh trong ngôn ngữ có
một tiền giả định làm chuẩn mực đã được khẳng định, không hoàn toàn đồng
nhất với cái được so sánh. Mọi so sánh trong ngôn ngữ đều khập khễnh.
+ Mô hình khái quát của phép so sánh được cụ thể hóa như sau:
A……………….X………………B
Trong đó:
A: Cái được so sánh (CĐSS)
B: Cái đem ra làm chuẩn để so sánh (CĐRĐSS)
X: Phương tiện so sánh (PTSS)
Các tù dung làm phương tiện so sánh như các từ: như, giống, giống
như, là, tựa hồ, như là, tựa như, hệt như, bằng, hơn, kém…
Ví dụ:
Thiếp như con én lạc đàn
A X B
(Nguyễn Du)
Tâm hồn Loan nảy nở đón tình yêu như cây non đón nước mưa
A X B
(Thạch
Lam)
Quê hương là chùm khế ngọt
A X B
Cho con trèo hái mỗi ngày
(Đỗ Trung Quân)
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
A X B
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
(Hồ Chí Minh)
Mùa đông
Trời là cái tủ lạnh
A X B

khoan
mau sầm sập
như
như
gió thoảng ngoài
trời đổ mưa
(Nguyễn Du)
Tùy từng trường hợp có thể đảo trật tự so sánh hoặc bớt một số yếu
trong mô hình trên. Chẳng hạn:
2.2.1. Đảo ngược trật tự so sánh
Chòng chành như nón không quai
Như thuyền không lái như ai không chồng
(Ca dao)
2.2.2. Bớt cơ sở (thuộc tính) so sánh
Đây là loại so sánh vắng yếu tố thứ 2 được gọi là so sánh “chìm”.
Ví dụ:
(1) Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần
(Xuân Diệu)
(2) Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới xa nửa vời
(Nguyễn Du)
(3) Không gian như có dây tơ
Bước ra sẽ đứt động hờ sẽ tiêu
(Xuân Diệu)
(4) Bốn dây như khóc như than
Khiến người trong cuộc cũng tan nát lòng
(Nguyễn Du)
Giáo sư Đinh Trọng Lạc gọi đây là so sánh “chìm”. Nó tạo điều kiện
cho sự liên tưởng rộng rãi hơn là so sánh “nổi” – có yếu tố thứ 2. Nó kích

Ví dụ:
Càng trông mặt càng ngẩn ngơ
Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời
(Nguyễn Du)
Ngôi nhà như trẻ nhỏ
Lớn lên với trời xanh
(Đồng Xuân Lan)
Mặt hiền sáng tựa vì sao
Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời
(Thanh Hải)
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
(Ca dao)
Anh em như nước một dòng
Như cây một cội như sông một nguồn
(Ca dao)
Con mẹ đẹp sao
Những hòn tơ nhỏ
Chạy như lăn tròn
Trên sân, trên cỏ.
(Phạm Hổ)
Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan
(Hồ Chí Minh)
Đàn ghê như nước lạnh trời ơi
(Xuân Diệu)

Tác giả dùng từ so sánh “như” làm phương tiện so sánh. Xuân Diệu so sánh
tiếng đàn ghê như nước lạnh. Tiếng đàn ấy làm cho con người ghê rợn, lạnh
lẽo.

(Tố Hữu)
Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh
Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình
(Tản Đà)
2.3.3. Yếu tố thứ 3 là từ: “là”
Ví dụ:
Một trai con thứ rốt lòng
Vương quan là chữ nối dòng nho gia
(Nguyễn Du)
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước bên sông
(Đỗ Trung Quân)
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
(Trần Quốc Minh)
Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.
(Đất nước ngàn năm)
Tình tôi là giọt thủy ngân
Dù nghiền chẳng nát dù lăn chẳng tròn
Tình cô là đóa hoa đơn
Bình minh để nở hoàng hôn để tàn
(Ca dao)
Nếu ta thay thế từ “là” bằng từ “như” thì nội dung cơ bản không hề thay đổi.
Nó chỉ thay đổi về sắc thái ý nghĩa: từ sắc thái khẳng định sang sắc thái
giả định.
2.4. Ý nghĩa sử dụng
So sánh tu từ có chức năng nhận thức, biểu cảm. Nó có cấu tạo đơn
giản nên nó được sử dụng phổ biến trong phong cách tiếng Việt (phong cách

phải thấy những cây ấy vươn lên bởi vì nó có rừng che chở và tất cả những
cây cộng lại thành rừng.
(Phạm Văn Đồng)
Sự nghiệp cách mạng của nước Việt Nam được Thủ tướng Phạm Văn
Đồng so sánh như rừng đang lên. Rừng có rất nhiều cây và mầm non, có sức
sống và điều kiện để phát triển thì rừng đó càng thêm sức mạnh vươn lên,
mọc nhanh phủ khắp. Cái được so sánh là “rừng” còn được tác giả lý giải
them với trạng thái tràn trề nhựa sống, nhanh chóng lớn
(3) Trong lời nói nghệ thuật (trong văn chương)
Giáo sư Đinh Trọng Lạc và Giáo sư Nguyễn Thái Hòa cho rằng:
“ Trong văn chương, so sánh là phương thức tạo hình, phương thức gợi
cảm cao” [9 tr 192].
Các nhà thơ, nhà văn luôn cố gắng phát hiện ra những nét giống nhau,
chính xác, bất ngờ - điều mà ta không để ý đến hoặc không nhận thấy.
A.Phơrăngxơ đã khẳng định như sau: “Hình tượng là gì? Chính là sự
so sánh…”. Goolup cũng nói: “ Hầu như bất cứ sự biểu đạt hình ảnh nào
cũng có thể chuyển thành hình thức so sánh”. Một so sánh đẹp là so sánh
phát hiện.
Phải có một thính giác nhạy bén, một tâm hồn nhạy cảm và sự thẩm
âm như thế nào thì ta mới nghe thấy cái trong trẻo của tiếng hát xa và chỉ có
âm thanh trong trẻo mới vang xa không bị những âm thanh hỗn loạn nhấn
chìm. Tiếng suối của đêm tĩnh mịch dưới vầng trăng cũng có lúc vang xa
như thế:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
(Hồ Chí Minh)
“Tiếng suối” được so sánh với “tiếng hát xa” tức là tiếng suối ấy phải
làm lòng người say đắm đến mức nào. Nó phải gần gũi với tác giả ra sao thì
Người mới ra được lối so sánh độc đáo như thế.
Hay ta còn bắt gặp sự so sánh hết sức tài tình, tinh tế trong thơ Trần

trong bài “Tiếng hát con tàu” như sau:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Nỗi nhớ ấy giống như mùa đông luôn gắn liền với cái giá lạnh, với
những cơn gió mùa làm cho con người cảm thấy một góc tâm hồn minh lạnh
lẽo, cô đơn. Vì thế nhà thơ đã cụ thể hóa nỗi nhớ của “anh” với “em” như
mùa đông nhớ “rét”. Như vậy tình yêu là sự gắn bó mật thiết.
Thứ hai: So sánh phải gần gũi
Yêu cầu này cũng do yếu tố dùng làm chuẩn để so sánh (yếu tố so
sánh) thực hiện. Tức là giữa cái so sánh có mối lien hệ liên tưởng gần gũi
với nhau mà người đọc cũng dễ nhận biết, dễ hình dung.
Vui vẻ, hớn hở trước cảnh buổi chiều Xuân Tâm đã so sánh:
Thấy chiều, hớn hở tôi ra đón
Như đứa trẻ con đón mẹ về
Sự gắn bó chia ngọt, sẻ bùi của Đảng với nhân dân được thi sĩ Xuân
Diệu so sánh:
Chia nhân dân cay đắng ngọt bùi
Như gỗ thuyền còn chịu cùng muối biển
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
(Đỗ Trung Quân)
Quê hương là nơi ta sinh ra lớn lên và trưởng thành. Nhà thơ so sánh
nó với “mẹ”. Mẹ là người gần gũi với ta nhất, luôn luôn bên ta trong mọi
chặng đường đời. Mẹ luôn lắng nghe và thấu hiểu nỗi lòng ta. Vì vậy mà
người đọc có thể dễ nhận biết, hình dung quê hương của mình là gì và có
tầm quan trọng như thế nào với mỗi chặng đường đời ta sẽ đi qua.
Thứ 3: So sánh phải hợp lý
Có người cho rằng: Mọi sự so sánh đều khập khiễng, so sánh 2 sự vật
cùng loại chẳng có ý nghĩa gì, còn so sánh 2 sự vật khác loại lại không tránh
được sự khập khiễng. Nhưng điều kì diệu đã xảy ra khi ta vẫn phát hiện mối

khá lớn.
Thứ tư: So sánh phải tiêu biểu
Sự tiêu biểu trong so sánh sẽ làm cho nó có tính bền vững, bền lâu và
dễ được chấp nhạn trong giới độc giả.
Ví dụ:
Thơm như hương nhụy hoa lài
Sạch như nước muối ban mai giữa rừng
(Tiếng hát Sông Hương)
Tố Hữu đã đưa thêm các định ngữ cho từ “hương”, từ “nước” để diễn
tả cái “thơm”, cái “sạch”. Chính vì thế so sánh trở nên điển hình. Cuộc đời
của các cô gái làng chơi trên Sông Hương nay đã đổi khác.
Thứ năm: So sánh phải điển hình
Nếu như sự so sánh đến với người đọc như một điều bình thường, một
chân lý hiển nhiên vẫn xảy ra trong cuộc sống thường nhật, một cảm giác về
sự có lý thì sự bất ngờ của so sánh lại đem đến hứng thú đặc biệt cho
độc giả.
Ví dụ:
Đã bao người từng ngắm nhìn lá liễu rủ dài đầy quyến rũ nhưng chỉ có
Xuân Diệu thấy:
Lá liễu dài như một nét mi
Bất ngờ mà lại hợp lý càng “nhâm nhi” ta càng thấy được thú vị về sự
độc đáo đó.
Ví dụ:
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
(Tế Hanh)
Cánh buồm dường như là một biểu tượng của làng chài lưới, biểu tượng cho
sức mạnh, sự trù phú của quê hương. Sự bất ngờ, lý thú mà ông mang đến
cho độc giả là cái đem ra so sánh “cánh buồm” lại được so sánh như”mảnh
hồn làng”. Làng quê Việt hiện lên với sự cố kết, sự gắn bó cộng đồng. Mỗi
một làng đều có nét tinh túy riêng, nét hồn hậu, chân chất, mộc mạc riêng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status