Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
DANH SÁCH NHÓM
STT Họ và tên MSSV Ghi chú
1 LÊ THỊ MAI 10021833
2 LÊ THỊ YẾN 10021363
3 LÊ THỊ LÝ 10007603
4 LÊ THỊ QUẾ 10011643
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
MỤC LỤC
DANH SÁCH NHÓM 1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN 1
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP 2
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP CỦA KIỂM TOÁN VIÊN 3
2.1: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
toán ngày càng tăng đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân thủ chuẩn mực về đạo
đức nghề nghiệp khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính. Việc kiểm toán viên
tuân thủ đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp bảo vệ và nâng cao uy tín của nghề kiểm
toán trong xã hội, bảo đảm về chất lượng cao của các dịch vụ cung ứng cho
khách hàng và cho xã hội. Nếu kiểm toán viên không tuân thủ các chuẩn mực về
đạo đức nghề nghiệp thì lòng tin của công chúng vào dịch vụ kiểm toán sẽ giảm
xuống.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm pháp
lý đối với kiểm toán viên nhóm em đã quyết định chọn đề tài : “Đạo đức nghề
nghiệp và trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên” . Do thời gian ngắn , khả
năng tìm hiểu đề tài còn hạn chế , những vấn đề nhóm em tìm hiểu đã được và
trình bày trong bài tiểu luận môn học này có thể còn nhiều thiếu sót . Chúng em
rất mong nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn và góp ý của cô để bài viết của
chúng em được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 1
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
Là những quy tắc hướng dẫn cho các thành viên ứng xử vào hoạt động môt
cách trung thực phục vụ cho lợi ích nghề nghiệp và xã hội
Đạo đức nghề nghiệp yêu cầu những kiểm toán viên phải có đạo đức và mỗi
tổ chức kiểm toán phải là một cộng đồng của những người có đạo đức
Đạo đức nghề nghiệp kiểm toán là yêu cầu bắt buộc với kiểm toán viên
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 2
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP CỦA KIỂM TOÁN VIÊN.
2.1: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP ĐỐI VỚI KIỂM TOÁN VIÊN.
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp là những quy tắc để hướng dẫn cho kiểm
cho kiểm toán viên áp dụng một cách thuận lợi mà không phạm sai lầm hay bị
chồng chéo bởi các điều lệ khác.
2.2: CÁC NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
Yêu cầu về nhân cách đạo đức của bất cứ tổ chức kiểm toán nào cũng phải
dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau. Các nguyên tắc này chỉ đạo kiểm toán viên
trong quá trình hành nghề và quan hệ với người khác.
2.2.1: Tính độc lập
Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên. Không có tính
độc lập thì chức năng kiểm toán không có giá trị trong xã hội.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam quy định rằng trong quá trình kiểm toán,
kiểm toán viên phải thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích
vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc
lập nghề nghiệp của mình.
Tính độc lập trong kiểm toán có nghĩa là việc có một quan điểm vô tư khi
thực hiện các cuộc kiểm toán, đánh giá các kết quả và công bố báo cáo kiểm
toán. Nếu kiểm toán viên là một luật sư của khách hàng, một chủ ngân hàng cá
biệt hoặc bất kỳ ai khác có lợi ích trực tiếp hay gián tiếp về mặt tài chính, có
quan hệ họ hàng thân thuộc với những người trong bộ máy quản lý của đơn vị
được kiểm toán thì anh ta sẽ không thể được xem là độc lập. Ví dụ trước đây đã
có lần chấp nhận cho kiểm toán viên sở hữu một số lượng cổ phần giới hạn
trong công ty khách hàng.
Nhưng ngày nay điều đó được xem như khả năng tiềm ẩn tác động xấu đến
tích độc lập của công ty kiểm toán và chắc chắn có khả năng ảnh hưởng đến
nhận thức của người sử dụng về tính độc lập của kiểm toán viên. Việc trực tiếp
hay gián tiếp sở hữu cổ phần của một công ty thì theo nguyên tắc 101 công ty
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 4
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
kiểm toán đó sẽ bị cấm trình bày quan điểm về các báo cáo tài chính của công ty
này. Hoặc nếu kiểm toán viên là một thành viên của hội đồng quản trị hay một
viên chức của công ty khách hàng, khả năng để thực hiện những đánh giá độc
Kiểm toán viên có nghĩa vụ phải đạt đến một chuẩn mực cao về hành vi như:
phải trung thực và thẳng thắn trong quá trình làm việc và trong quan hệ của họ
với các nhân viên của đơn vị được kiểm toán. Để có sự tin cậy từ phía công
chúng, các kiểm toán viên không được để bị nghi ngờ và không được để bị chỉ
trích, phẩm chất liêm chính được đánh giá theo nghĩa đúng đắn và công bằng.
Phẩm chất này đòi hỏi kiểm toán viên phải tuân thủ cả về hình thức và tinh thần
các chuẩn mực về đạo đức và các chuẩn mực về kiểm toán. Phẩm chất trung
thực cũng đòi hỏi kiểm toán viên tuân thủ các nguyên tắc khách quan và độc lập,
duy trì các chuẩn mực cao nhất về nhân cách và các hành vi nghề nghiệp, đưa ra
các quyết định vì lợi ích của công chúng và áp dụng các tiêu chuẩn cao về phẩm
chất trung thực trong khi xử lý công việc và các nguồn lực của cơ quan kiểm
toán.
Kiểm toán viên phải là người có tính khách quan và công bằng trong tất cả
các công việc bao gồm việc lập các báo cáo trung thực và chính xác. Do đó các
kết luận trong báo cáo và ý kiến chỉ nên bị ảnh hưởng bởi các bằng chứng được
thu thập theo các chuẩn mực kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao. Các kiểm
toán viên nên sử dụng các thông tin cũng như các ý kiến do đối tượng kiểm toán
hoặc các đơn vị khác cung cấp. Tuy vậy các kết luận của kiểm toán không nên
bị tác động bởi các ý kiến đó, còn theo nguyên tắc 102 về tính khách quan thì
một hội viên không được chủ tâm phản ánh sai sự việc và khi hợp đồng thực
hiện kiểm toán độc lập anh ta không được để sự phán xét của mình bị lệ thuộc
vào người khác.
2.2.3: Các chuẩn mực về nghiệp vụ và năng lực
Kiểm toán viên phải thực hiện công việc kiểm toán theo những kỹ thuật và
những chuẩn mực chuyên môn đã quy định trong chuẩn mực kiểm toán Việt
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 6
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
Nam hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt Nam chấp nhận và các quy
định pháp luật hiện hành. Các chuẩn mực kiểm toán này quy định các nguyên
tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ
được tiếp cận với các bản tư liệu sẽ cho các nhân viên của công ty khách hàng
một cơ hội để làm thay đổi thông tin trên các tư liệu đó. Vì thế, luôn luôn phải
cẩn trọng để bảo vệ các tư liệu.
Kiểm toán viên chỉ có thể cung cấp tư liệu cho người khác khi được phép
của công ty khách hàng. Tuy nhiên, trong trường hợp các tư liệu đó được toà án
triệu đòi hoặc được sử dụng như một bộ phận của chương trình xem xét chất
lượng tự nguyện với các công ty kiểm toán khác thì sẽ không cần có sự cho
phép. Nếu tư liệu bị triệu đòi, công ty khách hàng phải được thông báo ngay.
Công ty khách hàng và luật sư hợp pháp của công ty có thể phản đối trát đòi
này.
2.2.5: Trách nhiệm đối với khách hàng – Thù lao phụ thuộc
Theo nguyên tắc 302- thù lao phụ thuộc, các dịch vụ về nghiệp vụ không
được bán hoặc cung cấp theo một sự thu xếp mà theo đó không có khoản thù lao
nào được tính trừ phi đạt được một phát hiện cụ thể, hoặc ở đó thù lao phụ thuộc
vào những phát hiện hoặc kết quả của những dịch vụ đó.Thí dụ, giả sử có một
công ty kiểm toán hợp đồng với khách hàng là thù lao được tính là 4000 USD,
nếu là một báo cáo chấp nhận hoàn toàn, nhưng chỉ là 2000 USD, nếu là một
báo cáo chấp nhận có loại trừ.
Tuy vậy, thù lao của một hội viên có thể thay đổi.Và thường thì công ty
kiểm toán tính thù lao căn cứ trên số giờ làm việc. Các mức giá theo thời gian
khác nhau được tính cho các trình độ khác nhau của nhân viên. Song trong
những năm gần đây, các công ty kiểm toán đã tăng dần các cuộc đấu thầu hợp
đồng dựa trên một căn cứ tính thù lao cố định mà không cần xem xét đến nhu
cầu về thời gian phải bỏ ra.
Các khoản thù lao không được xem là phụ thuộc nếu chúng được quy định
bởi toà án hay các tổ chức quyền lực khác hoặc, trong các vấn đề về thuế, nếu
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 8
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
được xác định dựa trên các kết quả của các vụ kiện theo luật hoặc những phát
hiện của các cơ quan nhà nước.
một hành vi làm mất tín nhiệm. Thí dụ, giả sử Ban quản trị không trả thù lao cho
công ty kiểm toán và các chủ chung vốn của công ty kiểm toán do đó từ chối trả
lại sổ sách của khách hàng. Chủ chung vốn của công ty kiểm toán đã vi phạm
nguyên tắc 501.
- Một công ty kiểm toán không được phân biệt đối xử giữa các chủng tộc,
màu da, tôn giáo, giới tính, tuổi tác hoặc quốc tịch.
- Nếu một người hành sự đồng ý thực hiện kiểm toán ở một cơ quan nhà
nước, mà cơ quan này quy định các thể thức kiểm toán khác với GAAS , thì cả
các thể thức của cơ quan nhà nước đó và GAAS đều phải được tuân thủ trừ phi
báo cáo kiểm toán được diễn đạt bằng một cách khác.
2.3: CÁC NGUY CƠ DẪN ĐẾN VI PHẠM ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
CỦA KIỂM TOÁN VIÊN
Bao gồm 5 nguy cơ:
2.3.1: Nguy cơ do tư lợi
Nguy cơ này xảy do việc người làm kiểm toán hoặc thành viên trong quan
hệ gia đình ruột thịt hay quan hệ gia đình trực tiếp của người làm kiểm toán có
các lợi ích tài chính hay lợi ích khác.
Ví dụ như: một khoản nợ, khoản bảo lãnh, hoặc quà tặng nhận khách hàng
sử dụng dịch vụ đảm bảo hoặc từ giám đốc hay nhân viên của họ
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 10
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
2.3.2: Nguy cơ tự kiểm tra
Nguy cơ này có thể xảy ra khi người làm kiểm toán phải xem xét là các đánh
giá trước đây do mình chịu trách nhiệm
Ví dụ như: một thành viên của nhóm kiểm toán gần đây đã hoặc đang làm
giám đốc hoặc nhân viên có ảnh hưởng đáng kể của khách hàng sử dụng dịch vụ
đảm bảo.
2.3.3: Nguy cơ về sự bảo chữa
Nguy cơ này có thể xảy ra khi người làm kiểm toán ủng hộ một quan điểm
hay ý kiến tới mức độ mà tính khách quan có thể bị ảnh hưởng
một hành động nào. Nên vi phạm ngtắc độc lập về mặt kinh tế.
KTV Điệp có mối quan hệ ruột thịt nhưng Điệp là người yêu của Hiền con
gái của giám đốc đơn vị được KT Nên ảnh hưởng đến tình độc lập về mặt tình
cảm của cuôc KT đối với công ty thăng long.
Ví dụ 2: Enron-Arthu Andersen môt công ty có bề dày lịch sử 89 năm,
85.000 chuyên gia, là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Big 4 ngày nay lại sụp đổ?
Nguyên nhân chủ yếu là vì Andersen đã vi phạm trầm trong các nguyên tắc
đạo đức nghề nghiệp:
Enron là một Cty năng lượng lớn của Mỹ- khách hàng của Andersen 25 tr
USD phí KT và 27 tr USD phí dịch vụ khác- 1 mức phí quá lớn. Bù lại Enron
được Andersen bảo kê về tín nhiệm với các nhà đầu tư khi báo cáo tình hình
kinh doanh có lãi của mình nhưng thực chất là lỗ 500 tr USD từ năm 1997 nên
Andersten đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc độc lập về mặt kinh tế, chạy theo
lợi nhuận kếch xù thu được từ phí kiểm toán để công bố một báo cáo kiểm toán
sai lệch về Enron. Vì thế nên Andersen thường để các KTV có kinh nghiệm và
năng lực làm dịch vụ tư vấn còn các KTV trẻ ít kinh nghiệm và năng lực thường
được Andersen giao nhiệm vụ kiểm toán các BCTC của Enron nên chất lượng
của các cuọc kiểm toán Enron bị ảnh hưởng lớn bởi năng lực của kiểm toán
viên. Các sai xót gian lận của Enron hoặc là không thể phát hiện hoặc là bị che
đậy một cách tinh vi các nhà đầu tư, cổ đông của Enron tin vào thương hiệu
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 12
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
Arthu Andersen nên ồ ạt mua cổ phiếu của Enron để Enron lãi giả lỗ thật kéo
theo sự sụp đổ của Enron rồi đến Andersen
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 13
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
CHƯƠNG 3: TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN
VIÊN
3.1: Trách nhiệm dân sự
Nguyên nhân : chủ yếu là do kiểm toán viên thiếu thận trọng đúng mực hoặc
dựa trên kết quả kiểm toán và báo cáo cho:
Những người sử dụng kết quả kiểm toán theo yêu cầu, mục đích của kiểm
toán.
Các cơ quan chức năng nếu thấy có những hành vi vi phạm pháp luật ở mức
độ nhất định mà pháp luật yêu cầu phải báo cáo.
Việc xác định nghĩa vụ báo cáo của kiểm toán viên có ý nghĩa quan trọng
bởi cuộc kiểm toán được tiến hành dựa trên hợp đồng kiểm toán ký kết giữa đơn
vị được kiểm toán và tổ chức kiểm toán, do vậy về hình thức các kiểm toán viên
phải báo cáo cho đơn vị được kiểm toán. Tuy nhiên những người sử dụng kết
qủa kiểm toán mới là đối tượng chính mà kiểm toán viên có nghĩa vụ phải báo
cáo đó là các chủ sở hữu, các cổ đông, những người cho vay, , hay những đối
tượng khác theo qui định của pháp luật (gọi chung là bên thứ 3). Để thực hiện
trách nhiệm của mình trước những đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán, kiểm
toán viên phải tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực kiểm toán, mà trong đó
phải luôn luôn giữ được tính độc lập, chính trực và khách quan trong quá trình
kiểm toán. Các kiểm toán viên phải có nghĩa vụ phát hiện các sai sót trọng yếu
và thậm chí là các hành vi phạm pháp (nếu có) của các nhà lãnh đạo doanh
nghiệp. Về nghĩa vụ phải thông báo cho các cơ quan chức năng về những hành
vi phạm pháp của doanh nghiệp. Không phải mọi phát hiện của kiểm toán viên
về hành vi không tuân thủ pháp luật đều phải thông báo cho các cơ quan chức
năng mà chỉ những trường hợp cụ thể theo qui định của pháp luật.
Mặc dù qui định như vậy trong chuẩn mực kiểm toán nhưng trong thực tế ở
việt nam cũng như các nước khác trên thế giới cũng chưa có qui định nào chỉ rõ
rằng những tình huống nào kiểm toán viên cần phải thông báo.
Tuy nhiên trong các chuẩn mực kiểm toán hướng dẫn, khi phát hiện các
hành vi không tuân thủ pháp luật hay gian lận của doanh nghiệp thì tuỳ từng tình
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 15
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
huống mà kiểm toán viên có ứng sử thích hợp, từ việc đánh giá mức độ ảnh
hưởng đến báo cáo tài chính, thông báo cho Ban giám đốc doanh nghiệp, thông
tiêu của kiểm toán của khách hàng và những người sử dụng kết quả kiểm toán.
Về mặt pháp lý, trong chuẩn mực kiểm toán cũng đã nêu, kiểm toán viên không
thể có và không phải chịu trách nhiệm ngăn ngừa những gian lận, tuy nhiên
công tác kiểm toán chỉ có thể được coi là một biện pháp răn đe hữu hiệu.
Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên được luật pháp qui định: “Nếu kiểm
toán viên vị phạm pháp luật (như cố ý làm sai qui định, thông đồng bao che cho
người phạm lỗi, dùng thủ thuật nghiệp vụ để che dấu sai sót, nhận hối lộ, báo
cáo kiểm toán thiếu khách quan trung thực…) thì tuỳ theo mức độ nặng nhẹ có
thể bị thu hồi chứng chỉ kiểm toán viên và bị xử lý theo pháp luật hiện hành; nếu
vì những vi phạm và thiếu sót mà gây thiệt hại vật chất cho khách hàng thì kiểm
toán viên phải bồi thường thiệt hại”. Ở các nước có hoạt động kiểm toán phát
triển thì qui định này chỉ cụ thể rằng, các kiểm toán viên chịu trách nhiệm về
những thiệt hại do sự thiếu trách nhiệm hoặc đã không đủ năng lực khi thực hiện
dịch vụ kiểm toán dẫn đến các thiệt hại cho những đối tượng sử dụng báo cáo
kiểm toán. Trách nhiệm này chỉ có thể xẩy ra khi:
Có thiệt hại xẩy ra trực tiếp đến đối tượng cụ thể sử dụng báo cáo kiểm
toán đó và đối tượng này yêu cầu kiểm toán viên thực hiện trách nhiệm bồi
thường
Thiệt hại xẩy ra là hậu quả trực tiếp của việc sử dụng báo cáo kiểm toán
có sai sót trọng yếu.
Kiểm toán viên chỉ chịu trách nhiệm trực tiếp với đối tượng bị thiệt hại.
Khi xẩy ra các thiệt hại cần phải xác định rõ nguyên nhân gây ra. Các
kiểm toán viên không thể bảo đảm cho các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán
khỏi các rủi ro tiềm tàng trong kinh doanh, đầu tư, cho vay Lý do của vấn đề
này do sự khác biệt giữa rủi ro thông tin và rủi ro kinh doanh.
Mặc dù kiểm toán viên không có trách nhiệm ngăn ngừa các sai sót cố ý hay
gian lận hoặc các hành vi không tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, đồng thời
SV thực hiện: nhóm 02 Lớp CDKT12CTH Trang: 17
Bài tiểu luận kiểm toán GVHD: Lê Thị Hồng Hà
kiểm toán viên cũng không thể đảm bảo rằng ban giám đốc doanh nghiệp thực