Quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của Công ty kiểm toán ở
Nhật.
2.3.1. Kansayaku – Người chịu trách nhiệm trước cổ đông:
2.3.1.1. Khái quát về Kansayaku :
Kansayaku hay tiếng Anh là Statutory (Corporate Auditor), chúng tôi tạm dịch
là kiểm toán viên tập đoàn.
Theo Luật Doanh Nghiệp năm 2005 của Nhật Bản, kansayku là thành viên bắt
buộc của một công ty cổ phần, trừ hai trường hợp sau:
Thứ nhất, một công ty nhỏ, tổ chức chặt chẽ không bắt buộc phải có
kansayku.
Thứ hai, công ty “ủy ban” (committee company), yêu cầu có ba ban: Ban
kiểm toán, Ban đề cử (nominating committee), ban đền bù (compensation
committee) thì không cần có kansayku.
Còn lại, tất cả các công ty cổ phần bắt buộc phaira có Kansayku, thậm chí
các công ty cỡ lớn, Doanh nghiệp Nhà nước (publicly held company) phải thiết
lập Ban Kiểm toán viên tập đoàn (Kansayku-kai), theo Luật Doanh nghiệp.
Hệ thống Kansayku ra đời từ trước chiến tranh thế giới hai, nhưng những sửa
đổi của Bộ luật Thương mại năm 1950 đã giảm đi sức mạnh và trách nhiệm của nó.
Hệ thống này được phát triển tới như ngày nay thông qua các sửa đổi, bổ sung của
bộ luật thương mại vào các năm 1974, 1981, 1993 và 2001, tất cả đều mở rộng sức
mạnh và tính độc lập của kansayku. Các điều khoản phức tạp trong Bộ luật Thương
Mại cuối cùng được thống nhất trong luật Doanh nghiệp năm 2005.
Kansayku được bầu ra tại Đại hội cổ đông và vai trò của họ là “kiểm toán”
các hoạt động của ban giám đốc. Bao gồm cả kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tài
chính.
Một cuộc kiểm toán tài chính được tiến hành trước khi các báo cáo tài chính
được đưa ra xem xét tại Đại hội cổ đông thường niên. Báo cáo kiểm toán chứa
đựng kết quả của cả kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ, nó phải đi kèm với
thông cáo của cuộc họp đại hội cổ đông. Báo cáo tài chính cuối niên độ cũng là đối
tượng kiểm toán của kansayku, và kết quả của cuộc kiểm toán phải được báo cáo
tại Đại hội cổ đông thường niên.
Như đã đề cập ở trên, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công (doanh
nghiệp nhà nước) phải có tối thiểu ba thành viên kansayaku. Cũng theo đó, có ít
nhất một nửa số thành viên phải là kansayaku bên ngoài, nghĩa là họ không được là
giám đốc, nhân viên của công ty hoặc chi nhánh của công ty. Một ban kiểm toán
tập đoàn (kansayku-kai) phải được thiết lập và trong ban phải cử ra ít nhạt một
kansayku làm việc cả ngày (full-time).
* Bổn phận của Kansayaku:
Mối quan hệ về luật pháp giữa kansayaku và công ty là quan hệ giao phó
(inin). Do đó, kansayku có bổn phận theo dõi, giám sát hoạt động của công ty.
Theo luật Doanh nghiệp, nghĩa vụ pháp lý của kansayaku là kiểm toán các hoạt
động của ban giám đốc, kể cả kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tài chính.
Kiểm toán tài chính là việc kiểm toán các báo cáo tài chính, nhưng không
giống như một cuộc kiểm toán yêu cầu bởi Luật Chứng khoán, nó phải được tiến
hành trước Đại hội cổ đông thường niên. Báo cáo kiểm toán bao gồm kết quả của
cả các cuộc kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ, nó phải đi kèm với thông
cáo Đại hội cổ đông thường niên và được gửi cho các cổ đông hai tuần trước khi
Đại hội diễn ra. Về việc báo cáo của công ty theo Luật Chứng khoán, phải chuẩn bị
các báo cáo tài chính cuối niên độ theo cả Luật chứng khoán và Luật Doanh
nghiệp, chúng cũng là đối tượng được kiểm toán bởi kansayku, kết quả kiểm toán
được báo cáo vào Đại hội thường niên.
Tóm lại, Kansayku được giao cho các quyền hạn khác nhau và quyền hợp
pháp để thực hiện bổn phận của họ.
* Thẩm quyền điều tra của Kansayaku:
Kansayaku có quyền yêu cầu giám đốc hoặc nhân viên cung cấp báo cáo về
các hoạt động của công ty cũng như quyền giám sát hoạt động và tài sản của đơn vị
bất cứ khi nào.
Nếu giám đốc nhận thấy khả năng công ty có tổn thất đáng kể họ phải báo cáo
cho Kansayaku-kai biết, ngay cả khi không được Kansayaku yêu cầu.
Kansayaku cũng có quyền hợp pháp yêu cầu báo cáo hoặc giám sát hoạt động,
tài sản tại bất cứ công ty con, chi nhánh nào của đơn vị. Và đơn vị chịu các chi phí
kiểm toán với tư cách là kiểm toán viên độc lập. Các kiểm toán viên độc lập được
bầu chọn tài cuộc họp Đại hội cổ đông, và các đề cử phải được sự chấp thuận của
kansayaku-kai từ trước đó. Theo đó, một cuộc kiểm toán tài chính trong các công
ty lớn được thực hiện chủ yếu bởi kiểm toán viên độc lập, và báo cáo kiểm toán
này phải được đệ trình lên cả Kansayaku-kai và ban giám đốc. Kansayku kiểm tra
sự hợp lý của tóm tắt quá trình và kết quả của cuộc kiểm toán tài chính. Nếu
kansayaku tin rằng có sự bất hợp lý, họ phải tuyên bố cùng với lý do trong báo cáo
kiểm toán. Kansayaku sẽ tự tiến hành kiểm toán và tóm lược quá trình và kết quả
kiểm toán trong báo cáo kiểm toán. Nếu kiểm toán viên độc lập phát hiện hành vi
bất hợp lý hoặc vi phạm pháp luật hay điều lệ công ty có liên quan tới các hoạt
động của thành viên ban giám đốc, họ phải báo cáo cho kansayaku-kai. Kansayaku
cũng có quyền yêu cầu các báo cáo của kiểm toán viên độc lập nếu cần thiết. Cùng
với các điều trên, trong các công ty lớn, kansayku chịu trách nhiệm giám sát, quản
lý cuộc kiểm toán do các kiểm toán viên bên ngoài thực hiện, đây là một diểm
giống với chức năng của ủy ban kiểm toán ở Mỹ. Báo cáo kiểm toán đi kèm với
thông cáo của Đại hội cổ đông và bao gồm kết quả của cả các cuộc kiểm toán tài
chính và kiểm toán tuân thủ. Báo cáo kiểm toán này được chuẩn bị bởi kansayaku-
kai, nhưng mỗi kansayku có quyền viết ý kiến của họ vào đó. Như đã nói ở trên,
các báo cáo tài chính cuối niên độ cũng là đối tượng kiểm toán của kansayaku.
* Trách nhiệm pháp lý của Kansayaku
Theo Luật Doanh nghiệp, nếu kansayaku vi phạm nghĩa vụ của mình đối với
công ty, kansayaku phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với những tổn thất gây ra.
Ngoài ra, nếu có sự vi phạm cam kết hay sự cẩu thả trong hoạt động kiểm toán,
hoặc nếu báo cáo kiểm toán chứa đựng sai phạm, kansayaku có thể là người chịu
trách nhiệm pháp lý trực tiếp cho thiệt hại gây ra cho các bên thứ ba.
2.3.2. Kiểm toán viên độc lập và các chế tài xử phạt
2.3.2.1. Kiểm toán viên độc lập và Ủy ban kiểm toán và giám sát hoạt
động kiểm toán:
Cũng giống như Ủy ban chứng khoán, Ủy ban kiểm toán và giám sát hoạt
động kiểm toán (Certified Public Accountants and Auditing Oversight Board) được
báo cáo tài chính sai, nếu là do hành vi chỉ đạo có chủ ý hoặc sự bất cẩn trọng của
kiểm toán viên cấp cao, chủ nhiệm kiểm toán, thì tùy vào chi tiết mức độ sai
phạm để áp dụng một trong ba hình thức trên.
2.3.2.3.Yêu cầu bồi đền bù đối với vi phạm của kiểm toán viên:
Trong trường hợp kiểm toán viên độc lập cố ý sai phạm, họ phải trả số tiền
gấp 1.5 lần phí kiểm toán hoặc con số khác được chỉ ra bởi cơ quan trật tự nội các
( Cabinet Order) như là một khoản bồi thường tương ứng với phí kiểm toán phát
sinh. Nếu kế toán viên công chứng không cố ý đưa ra ý kiến sai, họ phải bồi
thường một khoản tiền tương ứng với phí kiểm toán.
Nếu khoản bồi thường được tính toán dưới mười ngàn yên ( khoảng
1.820.000 VND), kiểm toán viên sẽ không phải trả.
Nếu khoản tiền bồi thường được tính toán bao gồm một khoản lạ dưới mười
ngàn yên, khoản này sẽ được bỏ qua.
2.3.2.4. Các thủ tục thực hiện kỷ luật đối với kiểm toán viên:
Thủ tục áp dụng các hình thức kỷ luật đối với kiểm toán viên bao gồm các
bước sau :
Thứ nhất, bất kỳ ai, nếu nghi ngờ có vi phạm (như đã nói ở trên ) của kiểm
toán viên, đều có thể báo cáo cho Thủ tướng Chính phủ và yêu cầu một sự đánh
giá, một thước đo đúng mực được tiến hành.
Thứ hai, khi có báo cáo nói trên, Thủ tướng Chính phủ sẽ tiến hành các điều
tra cần thiết liên quan đến trường hợp được báo cáo.
Thứ ba, Thủ tướng Chính phủ, nếu cân nhắc khả năng có sai phạm thực sự
của kiểm toán viên độc lập, có thể tiến hành các cuộc điều tra chính thức.
Thứ tư, Thủ tướng Chính phủ, nếu dự định tiến hành đưa ra một trong các
hình thức kỷ luật nêu trên sẽ triệu tập một buổi giải trình để lấy ý kiến của các bên
liên quan.
Thứ năm, một hình thức kỷ luật sẽ được thực thi khi có đủ các chứng cứ hợp
lý về việc vi phạm của kiểm toán viên, sau khi có buổi giải trình và nhận được ý
kiến, quan điểm của Ủy ban kiểm toán và giám sát hoạt động kiểm toán.
2.3.2.5. Thẩm quyền điều tra :
thảo và ban hành các chuẩn mực kiểm toán và đến nay đã ban hành được 37 chuẩn
mực kiểm toán và Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán. Các chuẩn
mực kiểm toán được ban hành đã thể hiện một bước phát triển mạnh trong hoạt
động kiểm toán, đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho hoạt động kiểm toán
độc lập, là cơ sở cho kiểm toán viên chuyên nghiệp và công ty kiểm toán kiểm tra,
đánh giá các thông tin tài chính một cách trung thực, khoa học, khách quan. Chuẩn
mực kiểm toán còn là cơ sở cho việc chỉ đạo giám sát, kiểm tra và đánh giá chất
lượng dịch vụ kiểm toán, là cơ sở cho việc đào tạo, huấn luyện và thi tuyển kiểm
toán viên.
Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam có qui định các nguyên tắc cơ
bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính gồm:
(a) Tuân thủ pháp luật nhà nước: Kiểm toán viên phải luôn coi trọng và chấp
hành đúng pháp luật của nhà nước trong quá trình hành nghề kiểm toán.
(b) Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp: Kiểm toán viên phải tuân thủ
các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp: Độc lập, Chính trực; khách quan, năng lực
chuyên môn và tính thận trọng; tính bí mật; tư cách nghề nghiệp; và tuân thủ chuẩn
mực chuyên môn.
(c) Tuân thủ chuẩn mực kiểm toán: Kiểm toán viên phải tuân thủ chuẩn mực
kiểm toán Việt nam hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt nam chấp nhận.
Các chuẩn mực này qui định các nguyên tắc và thủ tục cơ bản hướng dẫn thể thức
áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đến kiểm toán.
(d) Kiểm toán viên phải có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong quá
trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán và phải luôn ý thức rằng có thể tồn tại
những tình huống dẫn đến những sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải tuyệt đối tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản trên, mọi hành vi không phù hợp với các nguyên tắc này đều
có thể dẫn đến rủi ro kiểm toán. Trong điều kiện các chuẩn mực kiểm toán Việt
nam chưa đầy đủ, thì một trong các nguyên tắc cơ bản còn qui định kiểm toán viên
phải tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt nam chấp nhận. Tuy
nhiên thực tế sự hiểu biết về các chuẩn mực kiểm toán quốc tế còn hạn chế và việc
hành nghề kiểm toán hoặc phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
5. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ có một số Nghị định, thông tư có
liên quan đến trách nhiệm pháp lý của công ty kiểm toán và luật chứng khoán liên
quan đến hoạt động của kiểm toán độc lập. Trong đó đáng chú ý nhất là nghị định
105/2004/NĐ- CP, nghi định 133/2005/ NĐ- CP, quyết định số 89/2007/QĐ-BTC
và thông tư 64/2004/TT-TC ngày 29/6/2004. Tuy nhiên những quy định trên đang
còn khá chung chung, chưa mang tính áp dụng.
Ta phân tích Điều B.6 của thông tư 64/2004/TT- TC nói về trách nhiệm của
DN kiểm toán làm ví dụ, theo điều B.6 trên thì công ty kiểm toán chịu trách nhiệm
trước pháp luật, trước khách hàng, theo hợp đồng đã ký kết và chịu trách nhiệm
một phần với người sử dụng kết quả kiểm toán và các dịch vụ đã cung cấp.
Các điều kiện đối với người sử dụng kết quả kiểm toán:
1. Có lợi ích liên quan trực tiếp tới kết quả dịch vụ kiểm toán của đơn vị được
kiểm toán tại ngày ký báo cáo kiểm toán
2. Có hiểu biết một cách hợp lý về báo cáo tài chính, cở sỏ lập báo cáo tài
chính, v.v.
3. Đã sử dụng thận trọng thông tin trên các báo cáo tài chính.
Mức bồi thường: là tối đa 10 lần mức phí kiểm toán của năm bị phạt.
Một số phân tích:
- Kiểm toán có phải chịu trách nhiệm một phần với người sủ dụng kết quả
kiểm toán
- Với các điều kiện nêu trên, thì (a) một cổ đông tương lai chắc chắn không
được bồi thường (b) một ngân hàng sẽ cho DN vay chắc chắn không được bồi
thường, (c) tóm lại các bên mà tại thời điểm ký báo cáo kiểm toán không có quan
hệ trực tiếp với DN sẽ không được bồi thường, nếu các bên ấy cứ dựa vào báo cáo
kiểm toán. Hơn nữa, cho dù các bên ấy có quan hệ trực tiếp hơn nữa thì các bên
liên quan ấy cũng khó chứng minh được rằng (i) các bên liên quan có hiểu biết một
cách hợp lý về tài chính kế toán, kiểm toán, (ii) các bên liên quan đã thận trọng
- Hơn nữa, mức bồi thường cũng chỉ giới hạn ở mức 10 lần phí kiểm toán-