Nghĩa vụ trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và công ty kiểm toán.
1.3.1. Nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên.
* Nghĩa vụ:
Nhu cầu kiểm toán xuất phát từ việc các chủ sở hữu doanh nghiệp (cổ đông)
bởi họ không thể và cũng không cần thiết tự kiểm tra mọi thông tin tài chính của
doanh nghiệp do giám đốc doanh nghiệp chịu trách nhiệm lập và báo cáo cho họ,
do vậy họ đã bổ nhiệm các kiểm toán viên – những người có đủ năng lực chuyên
môn nghiệp vụ, độc lập, khách quan - thay thế họ kiểm tra một cách độc lập và báo
cáo lại theo ý kiến của mình về tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính.
Cùng với sự phát triển và đa dạng của nền kinh tế, các thông tin tài chính được sử
dụng với nhiều mục đích khác nhau cho các đối tượng khác nhau. Tuy nhiên tất cả
những người sử dụng kết quả kiểm toán đều cần sự đảm bảo rằng những thông tin
tài chính mà họ được cung cấp có trung thực và hợp lý hay không.
Như vậy nghĩa vụ trước hết của kiểm toán viên là báo cáo một cách độc lập
theo ý kiến của mình dựa trên kết quả kiểm toán về mức độ trung thực và hợp lý
của các thông tin tài chính.
Đồng thời trong một số trường hợp, kết quả kiểm toán cho thấy doanh nghiệp
có hành vi không tuân thủ pháp luật ở mức độ nào đó mà theo qui định của pháp
luật cần báo cáo cho các cơ quan chức năng, khi đó kiểm toán viên còn có nghĩa vụ
báo cáo lại cho các cơ quan chức năng về hành vi vi phạm đó của doanh nghiệp.
Tóm lại, nghĩa vụ của kiểm toán viên là dựa trên kết quả kiểm toán và báo cáo cho:
- Những người sử dụng kết quả kiểm toán theo yêu cầu, mục đích của kiểm
toán.
- Các cơ quan chức năng nếu thấy có những hành vi vi phạm pháp luật ở mức
độ nhất định mà pháp luật yêu cầu phải báo cáo.
Việc xác định nghĩa vụ báo cáo của kiểm toán viên có ý nghĩa quan trọng bởi
cuộc kiểm toán được tiến hành dựa trên hợp đồng kiểm toán ký kết giữa đơn vị
được kiểm toán và tổ chức kiểm toán, do vậy về hình thức các kiểm toán viên phải
báo cáo cho đơn vị được kiểm toán. Tuy nhiên những người sử dụng kết qủa kiểm
toán mới là đối tượng chính mà kiểm toán viên có nghĩa vụ phải báo cáo đó là các
chủ sở hữu, các cổ đông, những người cho vay,..., hay những đối tượng khác theo
kết quả khảo sát đối với những người sử dụng kết quả kiểm toán thì các yêu cầu,
mong đợi của các đối tượng này đối với các kiểm toán viên xoay quanh các vần đề:
- 93% những người được hỏi cho rằng kiểm toán viên cung cấp sự đảm bảo rằng
không có bất cứ gian lận nào gây ra bởi các người lãnh đạo của công ty,
- 92% cho rằng kiểm toán viên đảm bảo chắc chắn rằng Ban giám đốc công ty
đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm của họ,
- 71% Kiểm toán viên phải cảnh báo về bất cứ sự kém hiệu quả nào của Ban
giám đốc công ty,
- 81% cho rằng kiểm toán viên mang lại sự đảm bảo rằng Công ty có tình hình
tài chính tốt và
- 71% cho rằng kiểm toán viên đảm bảo rằng mọi hành vi của Ban giám đốc
là phù hợp với lợi ích của các cổ đông.
Kiểm toán viên rất khó và không thể đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu trên.
Khoảng cách này tồn tại một phần do sự thiếu hiểu biết đầy đủ về bản chất, mục
tiêu của kiểm toán của khách hàng và những người sử dụng kết quả kiểm toán. Về
mặt pháp lý, trong chuẩn mực kiểm toán cũng đã nêu, kiểm toán viên không thể có
và không phải chịu trách nhiệm ngăn ngừa những gian lận, tuy nhiên công tác kiểm
toán chỉ có thể được coi là một biện pháp răn đe hữu hiệu.
* Trách nhiệm pháp lý.
Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên được luật pháp qui định: “Nếu kiểm
toán viên vị phạm pháp luật (như cố ý làm sai qui định, thông đồng bao che cho
người phạm lỗi, dùng thủ thuật nghiệp vụ để che dấu sai sót, nhận hối lộ, báo cáo
kiểm toán thiếu khách quan trung thực…) thì tuỳ theo mức độ nặng nhẹ có thể bị
thu hồi chứng chỉ kiểm toán viên và bị xử lý theo pháp luật hiện hành; nếu vì
những vi phạm và thiếu sót mà gây thiệt hại vật chất cho khách hàng thì kiểm toán
viên phải bồi thường thiệt hại”. ( Theo Các điều luật và quy chế cần quan tâm khi
thực hiện Kiểm toán các báo cáo tài chính. 1998. Quyển Sổ tay IFAC 1998).
Ở các nước có hoạt động kiểm toán phát triển thì qui định này chỉ cụ thể rằng,
các kiểm toán viên chịu trách nhiệm về những thiệt hại do sự thiếu trách nhiệm
hoặc đã không đủ năng lực khi thực hiện dịch vụ kiểm toán dẫn đến các thiệt hại
của Nhà nước được qui định trong các Luật, hoặc văn bản pháp quy (Nghị định,
Thông tư, …). Những qui định mang tính pháp lý đảm bảo sự thống nhất trong
việc thực hiện công tác kế toán ở các đơn vị, mặt khác tạo ra một khuôn khổ pháp
lý để Nhà nước quản lý thống nhất việc thực hiện công tác kiểm toán trong toàn bộ
quốc gia. Tính độc lập, nguyên tắc cơ bản nhất của kiểm toán chỉ được đảm bảo
khi cơ chế luật pháp được đảm bảo.
* Những qui định mang tính mực thước: hay còn gọi là chuẩn mực. Đó là
các nguyên tắc căn bản của kiểm toán, qui trình nghiệp vụ của các cuộc kiểm toán,
hệ thống phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán. Theo tài liệu thuật ngữ kế
toán – kiểm toán của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (IFAC) thì: “Chuẩn mực
kiểm toán là những văn kiện mô tả các nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và xử lý