- 1 - Nguyễn Ai Quốc - Hồ Chí Minh
Mục đích:
Nắm đợc những kiến thức cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp, quan điểm nghệ thuật và phong cách sáng tác của Bác.
Kiến thức cơ bản
1. Bài Nguyễn i Quốc - Hồ Chí Minh đợc đặt vào phần ba trong bộ sách giáo khoa Văn cấp PTTH: Văn học
từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhng đây là bài học về một tác gia mà sự nghiệp
văn chơng còn kéo dài tới một phần t thế kỉ sau Cách mạng. Vì thế, trong bài này, bên cạnh việc nói về
những sáng tác của Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh trớc 1945, ngời học vẫn cần phải học tập cả về thơ văn
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong thời gian sau đó. (Cũng nh bài về các tác gia Tố Hữu và Nguyễn Tuân
tuy đợc đặt vào phần bốn: Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975, nhng vẫn nói về những
thành tựu văn chơng của hai ngời trong thời gian trớc đó).
2. Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh là hai tên khác nhau của một con ngời duy nhất. Đó là Bác Hồ, nhà cách
mạng lớn nhất, nhà ái quốc vĩ đại nhất, danh nhân văn hóa tiêu biểu nhất và tác gia văn học quan trọng bậc
nhất trong lịch sử nớc nhà.
3. Tuy nhiên, hai tên gọi Nguyễn ái Quốc và Hồ Chí Minh lại gắn liền với hai thời kỳ khác nhau trong cuộc
đời hoạt động cực kì phong phú của Bác.
a) Nguyễn ái Quốc là tên gọi đợc biết đến và nhớ đến nhiều nhất trong số nhiều tên mà Bác đã dùng
trong những năm bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đờng giải phóng cho Tổ quốc và các dân tộc
bị áp bức trên thế giới. Trong khi đó, tên Hồ Chí Minh chỉ đợc Bác dùng từ sau khi trở về đất nớc để
trực tiếp lãnh đạo cách mạng, kháng chiến, và sau đó là công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu
tranh thống nhất nớc nhà.
b) Riêng trong lĩnh vực sáng tác văn chơng, nói đến tác giả Nguyễn ái Quốc là nói đến ngời đại biểu
duy nhất cho văn học cách mạng vô sản Việt Nam trong những năm 20 của thế kỉ này, ngời đã viết
hàng loạt những truyện ngắn và phóng sự - chính luận đặc sắc, mà tất cả đều có thể coi là những bản án
chế độ thực dân.
Còn tên tuổi của nhà thơ Hồ Chí Minh, nhà chính luận Hồ Chí Minh sẽ gợi nhớ đến:
Rất nhiều áng thơ đặc sắc, có giá trị t tởng và giá trị nghệ thuật cao, nhất là mảng thơ trữ tình mà tập thơ
thơ Đờng, tuyên truyền cổ động nhân dân thì có thể nói nh ca dao tục
ngữ, mà nghị luận trớc công luận trong nớc và quốc tế thì chặt chẽ, tế nhị, đanh thép, hùng hồn. Viết đợc nh
thế chỉ có thể là một nhà văn hội tụ đợc tinh hoa của nhiều nền văn hóa, làm chủ đợc nhiều thủ pháp, thể tài,
nhiều phong cách ngôn ngữ và loại thể văn chơng.
b)Tuy nhiên
,
phong cách Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đa dạng mà vẫn thống nhất. Đó là phong cách của một
ngời hiểu rất rõ mục đích và đối tợng, một ngời mà văn phong luôn luôn cô đúc, trong sáng và linh hoạt, một
ngời luôn hớng về mặt tích cực, về sự vận động tới ánh sáng, tới tơng lai, một ngời dù viết gì thì sự cao khiết
và nhân hậu vẫn có thể cảm nhận thấy bên dới từng hàng chữ.
Hoàn cảnh sáng tác của Vi hành
1. Giữa năm 1922, thực dân pháp đa Vua bù nhìn Khải Định sang Pháp dự cuộc triển lãm thuộc địa Vecxây.
Đây là một âm mu của chúng nhằm lừa gạt nhân dân Pháp: Vị quốc vơng An Nam này đại diện cho 1 dân tộc
lớn nhất ở Đông Dơng, sang Pháp để tỏ thái độ hoàn toàn quy phục mẫu quốc và để cảm tạ công ơn khai hóa
của mẫu quốc. Nh vậy tình hình Đông Dơng là ổn định và tốt đẹp, nhân dân Pháp nên nhiệt tình ủng hộ cuộc
đầu t lớn vào Đông Dơng để khai thác tài nguyên giàu có ở xứ này và tiếp tục đem văn minh tiến bộ đến cho
những ngời dân đợc nớc Pháp bảo hộ.
2. Nguyễn ái Quốc viết Vi hành vào đầu năm 1923 để cùng với vở kịch Con rồng tre truyện ngắn
Lời than vãn của bà trng trắc bài báo Sở thích đặc biệt (Viết năm 1922) lật tẩy âm mu nói trên của
thực dân Pháp. Đồng thời vạch trần tính chất bù nhìn tay sai dơ dáy của Khải Định và tố cáo tính chất điêu
trá của những danh từ Văn minh, khai hóa của chủ nghĩa thực dân.
Kiến thức cơ bản
I. Giới thiệu chung
1. Vi hành là một truyện ngắn bằng tiếng Pháp, đợc Nguyễn Ai Quốc viết và đăng ở Pháp, trên báo
Nhân đạo ngày 19 tháng 2 năm 1923. Đây là một tác phẩm đợc viết ra vì mục đích cách mạng. Nó
nằm trong cả một hệ thống những bài văn, bài báo, vở kịch mà Nguyễn á i Quốc đã viết để tập trung đả
kích tên vua bù nhìn Khải Định khi y sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Macxây năm 1922. Qua
Vi hành, tác giả muốn cho công luận trong và ngoài nớc Pháp thấy rõ rằng cái kẻ đang đợc đón tiếp
rùm beng nh là thợng khách kia, thực chất chỉ là một tên hề lố lăng, hành vi lén lút và mờ ám mà giá
cũng không còn nhận ra vị thợng khách của mình:
Ngời biết tiếng Pháp thì bị coi là chẳng hiểu gì. Ngời chẳng phải vua thì lại cho là Hoàng thợng.
Không có Khải Định thật, mà Khải Định thật vẫn cứ hiện ra, trong một bức biếm hoạ có một không hai
về một anh vua đến thật đúng lúc, để làm một thứ trò tiêu khiển không mất tiền, quá rẻ so với đám
vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên hay s thánh xứ Công gô , vào lúc cái kho giải trí đang cạn ráo. Đến
giữa truyện, tác giả để đôi trai gái xuống tàu. Tởng chừng với chi tiết đó, truyện không còn khả năng
diến tiến. Vậy mà hoàn toàn không phải. Hoá ra nhân vật bớt đi, đối thoại không còn, nhng tình
huống nhầm lẫn vẫn đợc giữ nguyên, và bây giờ tác giả tiếp tục khai thác nó theo cách khác. Trớc
đó, Tôi bị lầm là Hoàng đế. Bây giờ thì Hoàng đế có thể là tôi và cũng có thể là bất cứ ngời Việt
nào trên đất Pháp. Sự phê phán Khải Định cha dừng lại. Nhng một nội dung tố cáo khác đã mở ra: sự
rình mò từng bớc chân của ngời dân thuộc địa; và từ đó, cái muôn ngàn lần cay đắng vì bị mất tự do
của kiếp ngời vong quốc. Có thể thấy, việc khéo bố trí một tình huống nhầm lẫn đã cung cấp cho cốt
truyện một khả năng biến ảo khôn lờng. Tạo ra tình huống nhầm lẫn là biện pháp nghệ thuật cơ bản
nhất. Tình huống ấy làm cho câu chuyện trở lên trớ trêu hài hớc kịch tính hơn. Bằng tình huống nhầm
lẫn Vi hành đã góp thêm vào cho kho tàng trào phúng - vốn đã khá phong phú của dân tộc Việt Nam
một tiếng cời mới mẻ. Đó là một tiếng cời trí tuệ. Nó không giòn giã trên bề mặt mà thâm trầm ở bề
sâu. Nó chỉ hiện ra, thật chua chát, mỉa mai, sau một quá trình suy nghĩ để nhận ra cái trái tự nhiên
nằm trong bản thân sự vật.
2. Hình thức viết th: Bên dới nhan đề Vi hành, tác giả đặt một dòng phụ đề: Trích những bức th gửi
cô em họ do tác giả dịch từ tiếng An Nam. Đây là một hình thức nghệ thuật nhằm hớng tới đối tợng
độc giả. Công chúng văn học Pháp vốn quen thuộc và yêu thích hình thức kể chuyện dới dạng bức th
(th Ba t của Mông tex kiơ, Những bức th gửi từ cối xay gió của Aphôngxơ Đô đê). Mặt khác, sự
hớng tới phơng Đông huyền bí xứ sở của bí mật bị đánh cắp, khát khao đợc hởng thứ cảm giác lạ
ở chốn xa xăm ấy cũng là xu thế trong văn học phơng Tây không chỉ một thời. Vì thế dòng phụ đề
trong truyện sẽ đem lại ấn tợng thích hợp với khẩu vị văn chơng của công chúng Pháp. Điều đó
chứng tỏ Nguyễn á i Quốc rất trung thành với phơng châm sáng tác của mình. Phải nhận thức rõ: viết
cho ai để xác định đúng: viết cái gì và viết nh thế nào? Bởi vậy, viết truyện dới hình thức th từ không
phải là một biện pháp sáng tạo mới mẻ. Nhng trong trờng hợp Vi hành đã đạt hiệu quả thẩm mỹ
độc đáo.
a) Dùng lối viết th Nguyễn á i Quốc có thể đổi giọng và chuyển cảnh linh hoạt. Th từ cho một ngời
bâng quơ của một cặp tình nhân lại nhằm thể hiện mục đích chính trị nghiêm trang. Đó là một cách
thú vị để hạ bệ tên vua Khải Định. Trở thành đối tợng cợt nhạo chế giễu rẻ tiền nhất trong một câu
chuyện tầm phào. - Tài năng nghệ thuật trần thuật của tác giả Vi hành đã đóng góp thêm cho kho
tàng trào phúng vốn khá phong phú của dân tộc Việt Nam một tiếng cời mới mẻ.
III. Kết luận Vi hành là một kết tinh xuất sắc thể hiện sự kết hợp giữa chính trị và văn chơng trong sự
nghiệp sáng tác của Bác. - Vi hành không phải là trờng hợp duy nhất đã thể hiện sự kết hợp chặt chẽ
giữa chính trị và văn chơng. Sự kết hợp đó đã trở thành một quan điểm sáng tác, một phơng châm cầm
bút mà Bác đã theo đuổi suốt cuộc đời. - Nhng về sự kết hợp đó Vi hành thực sự là một kết tinh nghệ
thuật xuất sắc: - ở đây Bác không làm văn chơng vì văn chơng. Mọi sự lựa chọn nghệ thuật (ngôn ngữ,
bút pháp, cách xây dựng tình huống, nhân vật) đều xuất phát từ nhu cầu mục tiêu cách mạng, đều
nhằm đạt tới mục tiêu đó một cách hiệu quả nhất. Nhng chính nhờ có những lựa chọn sáng tạo nghệ
thuật đó mà nội dung chính trị của tác phẩm trở nên có sức mạnh, có sự sắc bén không gì thay thế nổi.
+ Song không phải vì phục vụ chính trị mà Vi hành bị mất hoặc bị giảm chất văn chơng chính trị
không hạn chế sáng tạo
văn chơng mà ngợc lại đã là nguồn nhiệt tình, nguồn cảm hứng giúp Nguyễn á i Quốc phát huy kiến thức,
tài năng làm nên những sáng tạo đột xuất độc đáo ghi dấu ấn mới mẻ đẹp đẽ trong lịch sử văn học dân tộc.
Hoàn cảnh sáng tác của Nhật ký trong tù
1. Nhật ký trong tù là một tập nhật ký bằng thơ viết trong nhà tù. Sau một thời gian về nớc và công tác
tại Cao Bằng, tháng 8 năm 1942, Nguyễn ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh lên đờng trở lại Trung
Quốc với danh nghĩa đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân ban quốc tế phản xâm lợc
của Việt Nam để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế. Sau nửa tháng trời đi bộ, đến Túc Vinh, Quảng
Tây (29-8), Ngời bị chính quyền Tởng Giới Thạch bắt giam. 14 tháng ở tù (từ mùa thu 1942 đến
mùa thu 1943), tuy bị đày ải vô cùng cực khổ (Sống khác loài ngời vừa bốn tháng, Tiều tụy còn
hơn mời năm trời), lại bị giải đi quanh quẩn qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc Quảng Tây,
Ngời vẫn làm thơ. Ngời đã sáng tác 133 bài thơ bằng chữ Hán ghi trong một cuốn sổ tay mà Ngời
đặt tên là Ngục trung nhật ký (tức Nhật ký trong tù).
2. Tập Nhật ký trong tù, vì thế, vừa ghi lại đợc một cách chân thực - chân thực nhiều khi đến chi tiết -
bộ mặt đen tối và nhem nhuốc của chế độ nhà tù cũng nh của xã hội Trung Quốc thời Tởng Giới
Thạch, vừa thể hiện đợc tâm hồn phong phú, cao đẹp của ngời tù vĩ đại. Về phơng diện này, có thể
xem Nhật ký trong tù nh một bức chân dung tự họa con ngời tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Cần lu ý rằng: cánh chim ở đây là cánh chim mỏi, chòm mây ở đây là chòm mây cô đơn vô định. Hoá ra
cảnh thiên nhiên cũng hoàn toàn phù hợp với cảnh và tâm trạng thực của ngời tù Hồ Chí Minh: một mình
nơi đất khách quê ngời, lại trải qua một ngày bị áp giải cực nhọc trên đờng đi. Ngoại cảnh cũng là tâm
cảnh.
3. Hai câu thơ sau:
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
Lại là bức tranh sinh hoạt sống động, ấm nóng tình ngời. Hình ảnh ngời thiếu nữ và không khí lao động
làm cho buổi chiều tối trở nên náo nhiệt, có sức sống.
Từ một bức tranh chiều tối đợc phác hoạ bằng những nét vẽ cổ điển ở hai câu thơ đầu, đến đây (hai câu
thơ sau) đã mang sắc thái hiện đại, đời thờng nhờ hình ảnh ngời phụ nữ lao động đợc miêu tả chân thực.
4. Đặc sắc của bài thơ này còn ở bút pháp gợi tả: Hồ Chí Minh đã dùng hình ảnh chim về tổ để nói
cảnh chiều tà, dùng hình ảnh lô dĩ hồng (lò than rực hồng) để diễn tả trời tối. Trong bài thơ
- 6 - không có từ tối, bản dịch thêm chữ tối vào làm mất cái tinh vi trong nghệ thuật biểu hiện của
tác giả.
5. Phải đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác của nó mới thấy hết tình yêu thiên nhiên, tấm lòng nhân ái
và nghị lực Hồ Chí Minh. Cũng phải thấy đây là bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ
Hồ Chí Minh: vừa cổ điển vừa hiện đại. Luôn nhìn sự vật trong sự vận động theo chiều hớng tích
cực.
Đề 1: Một nhà nghiên cứu nớc ngoài, từ khi tập Nhật kí trong tù mới xuất bản, đã nhận thấy rằng tập thơ
này là sự kết hợp hài hòa giữa một cốt cách cổ điện với những sáng tạo hiện đại.
Anh (chị) thấy sự kết hợp ấy có đợc biểu hiện qua bài thơ Chiều tối hay không ?
Có thể dựa theo nội dung và lời lẽ của tác giả ý kiến đợc dẫn trong câu hỏi để nêu các ý sau:
Hai câu đầu của Chiều tối giống nh một bức tranh tuyệt tác theo lối cổ điển, đợc vẽ trên tấm lụa
bằng ngôn từ, với lời thơ uyên bác, gợi ra cả một thế giới thơ của những cô vân và quyện điểu, cái
thế giới thơ mà hình ảnh những cánh chim bay trở lại rừng vẫn quen đợc dùng để diễn tả lúc chiều
Vậy mà không. Điều đó không hề xảy đến. Ta chỉ gặp trong bài thơ hình ảnh của một con ngời quên đi
nỗi đau khổ tột độ của riêng mình, để trìu mến từng cánh chim trời, từng dáng mây trôi, để nặng tình th-
ơng cho một kiếp sống cần lao hay chia sẻ với những niềm vui rất đỗi bình dị của những ngời dân mà Bác
không hề quen biết.
Đó quả là Những vần thơ quên mình của một bậc đại nhân, một con ngời sống nh trời đất.
Đề 3: Chữ hồng ở cuối bài vẫn đợc coi nh là nhãn tự, là con mắt thơ của cả bài thơ. Hãy viết một
đoạn văn để bình về cái hay của chữ đó.
Có thể tham khảo sự phân tích của nhà thơ Hoàng Trung Thông trong đoạn viết dới đây:
Đó là một bài thơ tứ tuyệt, một thể thơ khó làm, nhất là khó làm cho ra Đờng. Câu đầu nói về con
chim đi xa mỏi mệt về chiều đang tìm chốn ngủ (tác giả cũng thế thôi, bị giải đi, chiều đến rồi cũng mong
có chỗ nghỉ). Chòm mây giữa từng không, chòm mây che mặt trời cũng uể oải mệt mỏi nh thế, cũng muốn
tìm chỗ trú chân (ở chân trời ?!). Còn cô em trong xóm núi (có biết xóm núi thì mới hay cánh chim mỏi và
mây trôi) thì đang xay ngô, một công việc thủ công cũng rất là nặng nhọc, và cô em cứ xay hoài cho đến
khi hết, cũng vừa lúc đó, lò than đã đỏ (báo hiệu bữa cơm chiều). Tất cả ba câu thơ trên đều miêu tả sự
mệt mỏi, vội vã, nặng nề. Giá nh chỉ dừng lại ở đó thì nhà thơ Hồ Chí Minh của chúng ta không khác gì
nhà thơ Liễu Tông Nguyên đời Đờng với bài thơ Giang tuyết hết sức tĩnh, mở đầu bằng câu Thiên sơn
điếu phi tuyệt và kết thúc bằng câu Độc điếu hàn giang tuyết, nghĩa là một bài thơ lẻ loi quá chừng,
lạnh lẽo quá chừng ! Nhng Hồ Chí Minh rất Đờng mà lại không Đờng một tí nào ! Với một chữ hồng, Bác
đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mỏi mệt, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn tả
trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối. Chữ hồng trong
nghệ thuật thơ Đờng ngời ta gọi là con mắt thơ (thi nhãn), hoặc là nhãn tự (chữ mắt), nó sáng bừng
lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai mơi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa.
Đề 4: Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại qua bài Chiều tối của Hồ Chí Minh. (Xem đề số 18 câu 3 trong phần
đề thi và đáp án.)
Tảo giải
Yêu cầu
1. Phải thấy đợc Tảo giải là mẫu mực của sự kết hợp hài hoà giữa thép và tình, phẩm chất chiến sĩ và
cốt cách thi sĩ trong thơ Hồ Chí Minh.
2. Thấy đợc sự tinh tế, vẻ đẹp tâm hồn cũng nh tinh thần lạc quan, tin tởng vào tơng lai tơi sáng của
Bác.
thanh thản, chủ động vợt lên hoàn cảnh, làm chủ hoàn cảnh.
3. Bài 2. Tâm hồn lãng mạn - thi sĩ.
a) Hai câu đầu:
Đông phơng bạch sắc dĩ thành hồng
U ám tàn d tảo nhất không
Là một bức tranh thiên nhiên đẹp với màu sắc tơi tắn, rực rỡ, ấm áp của chân trời lúc rạng đông. Đến
đây thiên nhiên đã có sự chuyển biến rất mau lẹ nhờ cụm từ dĩ thành hồng và tảo nhất không nhng
bản dịch đã không thể hiện đợc hết.
b) Hai câu sau:
Noãn khí bao la toàn vũ trụ
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng
Vẻ đẹp ấm áp của thiên nhiên đất trời lúc rạng đông đã làm cho hồn thơ của Hồ Chí Minh bỗng thêm
nồng nàn. Bác đã quên đi cảnh ngộ của mình để thởng ngoạn vẻ đẹp tinh khôi của đất trời lúc rạng đông.
c) Bốn dòng thơ là bức tranh thiên nhiên tơi sáng, ấm áp, rực rỡ. Nó cho thấy tâm hồn dạt dào thi
hứng, tràn đầy tinh thần lạc quan, tin tởng vào tơng lai tơi sáng.
4. Tảo giải là mẫu mực của sự kết hợp hài hoà giữa thép và tình, phẩm chất chiến sĩ và cốt cách thi
sĩ trong con ngời Hồ Chí Minh. Mang nhan đề Tảo giải mà bài thơ có âm hởng của một khúc
hát lên đờng.
Định hớng đề, gợi ý giải
Đề 1: Phân tích bài thơ Tảo giải (Giải đi sớm) của Hồ Chí Minh (Nh hớng dẫn phân tích)
Đề 2: Vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh qua bài thơ Tảo giải (Giải đi sớm).
Cần nêu đợc các ý cơ bản sau đây:
a) Giới thiệu khái quát về:
Tác giả
Vị trí của bài thơ trong tập Nhật kí trong tù
- 9 - Nội dung cần phân tích
b) Vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh qua bài thơ:
thái độ hoàn toàn chủ động, ung dung mà ta đã thấy trong câu trớc (dĩ nhiên là thấy qua nguyên tác
và lời dịch nghĩa rõ hơn nhiều so với qua bản dịch thơ).
Ngợc lại, nếu khuyếch đại t thế kiêu hãnh ngẩng mặt lên đón gió e không hợp với phong cách của
Bác Hồ vốn là ngời không thích khoa trơng. Vả chăng, cách hiểu này cũng không đúng với kết cấu
ngữ pháp của dòng thơ (theo đó, phải hiểu là gió thu đón lấy mặt chứ không phải là mặt đón lấy gió
thu).
Vì thế, nên chỉ cảm nhận ở đây những gì mà lời chữ và tinh thần của câu thơ cho phép. Dòng thơ ấy nói
lên nỗi khổ ải mà chinh nhân đã phải chịu đựng trên những dặm chinh đồ: Gió thu, hết trận này đến trận
khác, quất ngợc sự giá buốt vào mặt ngời đi. Thiên nhiên đem đến những thử thách gian nan, nhng không
làm nản chí sờn lòng con ngời đang vững bớc.
- 10 - Đề 5. Phân tích chữ nồng đợc dùng để kết thúc chùm thơ. Tại sao tác giả không nói cảm hứng tràn trề,
lai láng mà lại nói: - thi hứng bỗng thêm nồng ?
Đúng là ngời ta thờng hay nói cảm hứng thơ tràn trề, lai láng. Nhng trong trờng hợp này, những chữ tràn
trề, lai láng không thể thay thế nổi và cũng không thể so sánh nổi với chữ nồng. Là bởi ở trên, tác giả
đang nói đến một vũ trụ hân hoan dới làn hơi ấm. Mà chữ nồng cũng gợi ra sự ấm áp. Nh vậy, cái đang
bao trùm lên thiên nhiên thì đồng thời cũng dâng đầy ở lòng ngời. Phải là chữ nồng ấy thì mới có thể đem
đến cho ta cảm giác về sự hài hòa, giao cảm giữa tiểu vũ trụ - tự nhiên. Và thi hứng trong lòng ngời. Do
đó, cũng tơng ứng, cộng hởng, hòa đồng với thi hứng trong lòng trời đất.
Đề 6. Tìm một vài câu văn, câu thơ nói đến tơng lai trong văn học từ đầu những năm 30 đến cách mạng
tháng Tám 1945. Từ đó, anh (chị) thấy dự cảm tơng lai của Bác Hồ trong chùm thơ Giải đi sớm có gì độc
đáo ?
Có thể nghĩ đến câu quen thuộc nhất, ví nh:
Trời tối đen nh mực và nh cái tiền đồ của chị
(Ngô Tất Tố - Tắt đèn)
Dễ thấy cảm hứng của Bác Hồ gần gũi với cảm hứng của nhà thơ cách mạng Tố Hữu và đối lập với ý t-
ởng bi quan của Ngô Tất Tố, vào lúc bấy giờ còn cha phải là nhà văn cách mạng. Sự khác nhau ở đây là sự
khác nhau giữa hai ý thức hệ, hai quan niệm về xã hội - nhân sinh, giữa cách mạng và không cách mạng.
sút, Bác tập đi, tập leo núi rèn luyện sức khoẻ để tiếp tục hoạt động cách mạng. Một lần leo núi,
lên đến đỉnh Tây Phong Lĩnh, bác sung sớng bồi hồi viết bài thơ này.
Cần lu ý rằng: Nếu tất cả bài thơ khác trong Nhật kí trong tù đều đợc dịch và công bố vào năm
1960 thì Tân xuất ngục-học đăng sơn đã đến với các đồng chí Trung ơng ngay lúc đó. Nó đợc
gửi về cùng một tờ báo tiếng Trung Quốc có ghi mấy dòng ngụ ý nhắn tin của Bác Chúc ch
huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác, ở bên này vẫn bình yên.
2. Hai câu thơ đầu:
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
Giang tâm nh kính tịnh vô trần
Tả cảnh thiên nhiên: Bức tranh sơn thuỷ hữu tình, hài hoà, cân xứng, màu sắc tơi sáng, đẹp vẻ đẹp cổ
kính. Nó gợi nhớ cảnh thiên nhiên trong các bài thơ Đăng sơn, Cảnh khuya, Đi thuyền trên sông Đáy
Hai câu thơ nói lên tâm hồn khoẻ khoắn, trong sáng, đôn hậu của nhà thơ khi nhìn cảnh vật.
Giang tâm nh kính tịnh vô trần tả cảnh đẹp của lòng sông trong sáng, thanh khiết nhng cũng còn có ý
nghĩa ngụ tình. Đó chính là tấm lòng trong sáng, thanh bạch, không vơng bụi của Hồ Chí Minh suốt mời
ba tháng trong tù.
3. Hai câu thơ sau:
Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân
Trực tiếp nói về tâm trạng nhà thơ: nỗi lòng với đất nớc quê hơng, tình bạn bè đồng chí cảm động, cao
đẹp.
Lên núi nhớ bạn là một đề tài quen thuộc của thơ ca cổ điển. Ngời ta lên núi nh một thi sĩ, có ngời lên
núi nh một ẩn sĩ. Hồ Chí Minh không rơi vào những trờng hợp này. Bác lên núi là để hoạt động rèn luyện
thân thể. Độc bộ là từ hay diễn tả đợc công việc nặng nhọc âm thầm, kiên nhẫn của Bác cũng nh bồi hồi
diễn tả đợc nhiều tâm trạng.
4. Bản dịch của Nam Trân hay, khá sát nghĩa. Tuy nhiên, dòng đầu dịch là Núi ấp ôm mây đã làm
sai lệch chỗ đứng, điểm nhìn của nhà thơ. Bụi không mờ không đúng tinh thần của nguyên tác
tịnh vô trần.
5. Mới ra tù tập leo núi là một bài thơ đặc sắc cho thấy t thế cao cả, ung dung của một thi sĩ trớc thiên
nhiên bao la, vẻ đẹp của một chiến sĩ giàu nghị lực và lòng yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
Định hớng đề, gợi ý giải
a) Bác không viết dòng sông mà viết lòng sông, có thể bởi:
Một cách viết nh thế biểu hiện rõ hơn cảm giác thẳm sâu của sông, trong một cái nhìn từ trên cao
xuống.
Mặt khác cũng phải viết nh thế thì sông mới có thể là hình ảnh của một tấm lòng. Một nhà thơ Đ-
ờng từng ví mình nh một mảnh lòng băng trong bình ngọc. Lòng Bác Hồ cũng trong trắng thế.
Nhng lòng Bác Hồ lớn lao hơn nhiều nh thế. Vì đó là cả một lòng sông gơng sáng đang tự giãi
bày dới trời mây.
b) Bụi không mờ là còn có bụi. Nó trái với tịch vô trần là tuyệt nhiên không chút bụi mờ. Lời dịch ấy
có phần ngợc với tinh thần văn bản. Câu này, T.Lan dịch đúng hơn nhiều:
Lòng sông sạch chẳng mảy may bụi hồng
Hiểu câu thơ đúng với tinh thần nguyên tác, ta sẽ thấy:
Hình ảnh một thiên nhiên trong sáng tuyệt vời
Hình ảnh một cõi thanh tao, cao khiết nơi con ngời, nh một bậc tiên khách, cảm thấy mình đã lâng
lâng rũ sạch bụi trần, vợt cao hơn hẳn chốn tầm thờng, ô trọc.
- 13 - Hình ảnh một tấm lòng tuyệt đối sạch trong.
Đề 4. Chứng minh rằng Bác Hồ, ngay trong tập Nhật kí trong tù, vẫn coi mình là khách tự do, khách
tiên, sánh ngang với tiên khách trên trời rộng.
Còn ở bài Mới ra tù tập leo núi này, Bác không hề dùng chữ tiên khách hay tự do nhân (ngời tự do), vậy
mà vẫn thấy - nhất là câu thứ ba - tràn đầy khí vị tiên phong đạo cốt. Vì sao vậy ?
Gợi ý:
a) Có thể lấy dẫn chứng từ các câu nh:
Mây ma mây tạnh, bay đi hết, Còn lại trong tù khách tự do (Vào nhà lao huyện Tĩnh Tây)
Tự do tiên khách trên trời, Biết chăng trong ngục có ngời khách tiên. (Quá tra)
b) Mới ra tù tập leo núi không có những chữ nh tiên khách, nh khách tự do nh trong hai bài thơ vừa
dẫn. Nhng nó đã vẽ ra một thế giới lâng lâng, cao khiết, nh chỉ dành cho các bậc khách tiên, và con
ngời dạo bớc ung dung trong thế giới ấy còn có thể là ai, nếu không phải là tiên khách, là bậc đạo
thép.
Tâm t trong tù
Mục đích yêu cầu:
Qua Tâm t trong tù của Tố Hữu, cảm nhận đợc một phơng diện rất đẹp của tâm hồn ngời cách
mạng trẻ tuổi: gắn bó với cuộc đời bằng những tình cảm thiết tha trong sáng. Đồng thời hiểu đợc,
từ những lời thơ chân thật của Tố Hữu cuộc sống quanh thật vô cùng giản dị và quen thuộc, nhng
khi thiếu vắng và xa cách nó mới thấy đẹp biết bao, quý biết bao.
Cảm nhận đợc tâm hồn tinh tế của nhà thơ khi lắng nghe những âm thanh của cuộc sống hàng
ngày; thấy đợc khả năng của thơ ca, từ những chi tiết rất khó cũng đã tạo ra đợc những hình ảnh,
những vần điệu có sức lay động lòng ngời.
Bài thơ gồm 3 phần: Phần thứ nhất (từ câu 1 đến câu 24); cuộc sống bên ngoài nhà tù đợc gợi lên từ
những âm thanh và tài tởng tợng của nhà thơ. Phần thứ hai (từ câu tiếp theo đến câu 36): cuộc biện
luận bên trong của nhà thơ về mối quan hệ thống nhất giữa hoàn cảnh và số phận nhân dân trong xã
hội. Phần ba (đoạn còn lại) là lời hứa quyết tâm giữ gìn sự trong sáng của lơng tâm cách mạng và
tinh thần chiến đấu đến cùng cho lý tởng.
Trong quá trình ôn tập bài này, học sinh cần nắm vững phần thứ nhất (từ đầu đến câu: Hớng tự do thơm
ngát cả ngàn ngày) đây là phần kết tinh nghệ thuật đặc sắc nhất của bài thơ, phần còn lại chỉ yêu cầu đọc
thêm.
Kiến thức cơ bản
I. Về tác giả Tố Hữu, tập thơ Từ ấy và hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tâm t trong tù.
Tác giả Tố Hữu: (chỉ nắm nhận xét chính liên quan đến tác phẩm) ông sinh năm 1920 tại Thừa
Thiên Huế, thuở nhỏ học trờng Quốc học Huế. Bớc vào tuổi thanh niên Tố Hữu đã có sự gặp gỡ
may mắn và đẹp đẽ với lí tởng cách mạng. Đợc lôi cuốn vào phong trào đấu tranh, trở thành ng-
ời lãnh đạo chủ chốt của Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế. Cũng thời kỳ này ông bắt đầu làm
thơ. Con đờng thơ ca của Tố Hữu gần nh đồng thời với con đờng hoạt động cách mạng.
Tập thơ Từ ấy bao gồm các sáng tác trong khoảng 10 năm (từ 1937- 1946) của Tố Hữu. Từ
ấy ghi lại khoảnh khắc đẹp đẽ nhất, ấn tợng sâu đậm nhất của một tâm hồn trẻ khao khát lẽ
sống đã gặp ánh sáng của lý tởng và quyết tâm dâng hiến cuộc đời mình cho lý tởng ấy.
Từ ấy đã đa đến cho cuộc đời một kiểu ngời, một mẫu ngời mới: Mẫu ngời đợc chân lý soi sáng, sống
nay, trái tim trẻ trung đó bị giam vào bốn bức tờng, tách biệt, cách ly hẳn với đời sống. Vì vậy mà
nó cảm thấy cô đơn, cái cô đơn của một con ngời bị tách khỏi cuộc sống sôi nổi, chứ không phải
cái cô đơn của con ngời bế tắc, không tìm thấy sự xẻ chia trong đồng loại. Chính vì vậy, cảm giác
cô đơn ở đây cũng phần nào thể hiện sự gắn bó tha thiết với cuộc sống, với cuộc đời và với phong
trào cách mạng.
Nỗi cô đơn trong cảm xúc lại đợc không gian nhà tù ảm đạm, với lạnh lẽo của tờng vôi khắc
khổ và sàn lim manh ván ghép sầm u làm tăng thêm.
Hoàn cảnh này dễ dẫn lòng ngời đến chỗ chán nản, chìm đắm trong nỗi cô đơn của mình. Nhng
không phải, lòng chàng thi sĩ trẻ vừa bị tách ra khỏi cuộc đấu tranh, dẫu có cô đơn nhng vẫn ngập
tràn niềm hớng vọng về cuộc đời, yêu cuộc đời bằng một tình yêu mãnh liệt. Đọc kỹ cả mấy đoạn
thơ ta thấy có cảm giác cô đơn nhng hình tợng vững chắc nhất, nổi bật nhất trong hai khổ thơ lại là
hình tợng ngời trai trẻ.
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Mở rộng và lắng nghe - hai hành động đi cùng với nhau, nó thể hiện tình yêu mãnh liệt của ngời tù
với cuộc sống bên ngoài.
Trong hoàn cảnh này, phơng diện duy nhất để tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài là thính giác, vì
cuộc sống bên ngoài dội vào bằng một lối duy nhất là những âm thanh vọng qua lỗ cửa nhỏ, của
gian xà lim: 9 động từ nghe lặp đi lặp lại trong 24 câu thơ động của đời. Trong bài thơ này, cảm
xúc thính giác đã đợc huy động một cách tối đa. Bằng sự lắng nghe hết mình, thi sĩ đã lắng nghe đ-
ợc những âm thanh rất giản dị của đời sống bên ngoài.
Khổ thơ thứ 2 và thứ 3 diễn tả cụ thể những gì anh đã nghe. ở khổ thơ thứ 2
Tiếng chim:
- 16 - Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều
Không phải một tiếng chim đơn lẻ mà là một tiếng chim reo trong gió mạnh lên triều, hình ảnh thơ thật
mạnh mẽ và dữ dội. Tiếng chim reo trong gió mạnh chính là biểu tợng niềm khát khao tự do một cách
mãnh liệt trong lòng tác giả.
Nghe mênh mang sức khỏe của trăm loài
Cảnh vật trở nên rực rỡ, dạt dào, bừng nở và tơi sáng, vạn vật chan hòa trong cuộc sống đầy mật ngọt:
Đang hút mật của đời cây hoa trái
Hơng tự do thơm ngát cả ngàn ngày
- 17 - Đợc tận hởng đời cây hoa trái và hơng tự do thơm ngát trong thoáng chốc thôi, ngời ta đã đủ hàm
ơn cuộc sống, nhng ở đây lại là cả ngàn ngày - con số tợng trng cho sự vô tận, vĩnh hằng. Hạnh phúc ấy
lớn lao biết bao nhiêu, lại diễn ra trong hiện tại: đang hút mật. Sự đối lập giữa cuộc đời và chốn lao tù
dâng lên cao độ thể hiện khát vọng hớng về cuộc đời, lớn lao đến khắc khoải của ngời chiến sĩ, thi sĩ trẻ
tuổi.
2. Phần hai và ba:
Diễn tả sự chuyển biến trong tâm hồn tác giả: đang phiêu diêu theo những ảo tởng của hồn ngây
tâm hồn ấy đã trở về với thực tại, ngời tù đã đi đến nhận thức sâu sắc về xã hội, về số phận cá
nhân trong số phận muôn ngời:
Tôi chỉ một con chim non bé nhỏ
Vứt trong lồng con giữa một lồng to
Lồng con: chỉ nhà tù thực dân; lồng to chỉ chế độ thực dân đang đè nén, đọa đày, giam hãm bao đồng
bào đồng chí ở bên ngoài song sắt. Trong chế độ thực dân khi đó, không ai đợc hởng tự do, thi sĩ chỉ là
một giữa muôn ngời đau khổ, thì nỗi cô đơn nào có nghĩa gì.
Nhận thức đợc số phận cá nhân trong số phận muôn ngời, nhà thơ đồng thời cũng nhận thức đợc vị
trí của mình trong cuộc chiến đấu chung:
Tôi chỉ một con trong muôn ngời chiến đấu.
Để đi tới một lời thề hành động quyết liệt nh dao chém đá, không gì lay chuyển nổi.
Tôi cha chết nghĩa là cha hết hận
Nghĩa là cha hết nhục của muôn đời
Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi
Còn trừ diệt cả một loài thú độc
Câu thơ cuối cùng: Có một tiếng còi xa trong gió rúc, nh một sự tập hợp, khái quát ở cấp độ cao
buồn cô đơn tập trung trí lực chăm chú lắng nghe, đón nhận tất cả những âm thanh của cuộc sống bên
ngoài có thể lọt vào trong tù. Tình cảm thiết tha chân thành cộng với sự tinh tế của tác giả khiến cho hai
câu thơ có sức lay động tâm hồn ngời đọc.
Tuyên ngôn độc lập.
Hoàn cảnh sáng tác của Tuyên ngôn độc lập
1. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân, Ngày 26 tháng 8 năm 1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48, phố
Hàng Ngang. Ngời biên soạn bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2.9.1945, tại quảng trờng Ba Đình,
Hà Nội, Ngời thay mặt Chính phủ lâm thời nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đọc bản Tuyên ngôn
Độc lập trớc hàng chục vạn đồng bào.
2. Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân,
phong kiến ở nớc ta và mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc. Tuyên ngôn Độc lập là một
bài văn chính luận ngắn gọn, lập luận chặt chẽ đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục.
Kiến thức cơ bản
I. Giới thiệu chung
1. Thể loại: Khác Vi hành, Nhật ký trong tù, Tuyên ngôn độc lập thuộc loại văn chính luận mẫu mực,
nó thuyết phục ngời đọc bằng những lí lẽ đanh thép, những chứng cớ không ai có thể chối cãi và hệ
thống lập luận chặt chẽ.
2. Hoàn cảnh sáng tác
Tuyên ngôn độc lập đợc viết trong một hoàn cảnh đặc biệt khác thờng: Đất nớc đã giành đợc độc lập nh-
ng bọn đế quốc thực dân - đặc biệt là thực dân Pháp đang lăm le quay trở lại.
ở miền Nam, thực dân Pháp đợc sự hà hơi tiếp sức của quân đội Anh tiến vào Đông Dơng với danh
nghĩa đại diện phe Đồng minh vào giải giáp vũ khí phát xít Nhật. ở miền Bắc 20 vạn quân Tàu Tởng mợn
oai của đế quốc Mỹ đang áp sát biên giới. Điều cực kỳ nguy hiểm là chúng âm mu cớp lại đất nớc của
chúng ta nhân danh phe Đồng minh chiến thắng với chiêu bài: lấy lại mảnh đất bảo hộ đã bị bọn Phát xít
nhật chiếm đóng trong chiến tranh.
Chúng ta nhất thiết phải chống Thực dân Pháp - một thành viên chủ chốt của phe Đồng minh nhng lại
nhất thiết không thể chống Đồng minh. Đây là một vấn đề cực trọng yếu và cũng cực kỳ tinh tế đòi hỏi sự
khôn khéo và sáng suốt và bản lĩnh của ngời lãnh đạo.
lợi . Hai bản tuyên ngôn này khẳng định những lẽ phải không thể chối cãi về nhân quyền.
Trí tuệ tầm vóc lớn lao của Hồ Chí Minh là ở chỗ. Từ những lẽ phải về nhân quyền ngời suy rộng ra lẽ
phải về quyền dân tộc. Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình
đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sung sớng và quyền tự do. Cống hiến lớn lao này của Bác đã đợc chính
một chính khách nớc ngoài khẳng định: Cống hiến nổi tiếng của Hồ Chí Minh là ngời đã phát triển quyền
của con ngời thành quyền của dân tộc. Nh vậy có nghĩa là: tất cả mọi dân tộc đều có quyền quyết định
lấy vận mệnh của mình. Bản tuyên ngôn của Bác khẳng định quyền dân tộc bởi lẽ. Vận mệnh dân tộc là
vấn đề then chốt, vấn đề cơ bản nhất đối với nhân dân ta. Lúc bấy giờ ở một nớc thuộc địa thì trớc khi nói
đến quyền con ngời, phải đòi lấy quyền dân tộc. Dân tộc có độc lập thì nhân dân mới tự do hạnh phúc.
Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhân quyền.
Cách lập luận của tác giả vừa khôn khéo vừa kiên quyết
Cách lập luận ấy khôn khéo bởi vì: Ngời vẫn tôn trọng những danh ngôn những chân lý dù đó là
của Mỹ hay của Pháp. ở đây không hề có sự lầm lẫn giữa nhân dân Mỹ, dân tộc Pháp với bọn
xâm lợc Mỹ, Pháp.
Tác giả đã sử dụng thủ phát nghệ thuật gậy ông đập lng ông. Trong tranh luận không gì thú vị
hơn, không gì thuyết phục là dùng chính lời lẽ của đối phơng để khoá miệng đối phơng. Bác đã
dùng lời lẽ bản tuyên ngôn của Mỹ, Pháp để phủ nhận chính âm mu xâm lợc của hai cờng quốc
- 20 - này. Ngời viết đã sử dụng cây gậy độc lập dân tộc để đập vào lng kẻ đi xâm lợc mà miệng vẫn
rêu rao tự do, bình đẳng, bác ái.
Khi dẫn lời hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ tác giả đã có ý đặt ngang hàng cuộc cách mạng
tháng Tám của ta với hai cuộc cách mạng của Pháp và Mỹ. Quả thật hai cuộc cách mạng nói
trên mở ra một giai đoạn mới trong sự phát triển của lịch sử xã hội loài ngời thì cuộc cách mạng
tháng Tám của ta cũng mở ra một kỷ nguyên mới. Đó là kỷ nguyên dành độc lập dân tộc ở các
nớc thuộc địa, là kỷ nguyên sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.
Cách lập luận của Bác khôn khéo nhng vẫn kiên quyết dờng nh tác giả đã ngầm cảnh cáo nếu
Pháp xâm lợc Việt Nam thì chính họ đã phản bội lại truyền thống tốt đẹp của dân tộc họ đã đúc
kết thành chân lý ghi trong bản tuyên ngôn. Họ sẽ vấy bẩn lên lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái mà
đợc thể hiện bằng một câu văn miêu tả tuyệt vời có sức lay động mạnh mẽ cả nhận thức và tình
cảm của ngời đọc.
Độc lập dân tộc còn đợc khẳng định trên cơ sở thực tiễn về phía Việt Nam. ở đây Tuyên ngôn đã
khẳng định Việt Nam có quyền và thực tế đã là một nớc giành đợc tự do độc lập.
Thực tế Việt Nam có quyền hởng tự do độc lập bởi vì chính nhân dân Việt Nam chứ không phải ai
đã đứng về phe đồng minh chống phát xít: Một dân tộc đã gan góc chống ách đô hộ của thực dân
- 21 - Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít Nhật suốt
mấy năm nay, dân tộc đó phải đợc tự do, dân tộc đó phải đợc độc lập. Trong một đoạn văn ngắn
hai lần xuất hiện từ gan góc, bốn lần dùng từ dân tộc. Hai đoạn văn của bản Tuyên ngôn lặp lại nh
hai nhát dao chém xuống mỗi lúc một mạnh hơn. Ngời đòi quyền cho dân tộc nên 20 lần nhắc tới
chủ quyền trong những câu văn hào hùng đanh thép.
Không những khẳng định quyền mà bản Tuyên ngôn còn khẳng định thực tế Việt Nam đã giành đ-
ợc độc lập. Cách lập luận của tác giả ở đây cũng thật chặt chẽ, sắc sảo Bác chỉ rõ Việt Nam không
còn là thuộc địa của Pháp vì Pháp đã bán rẻ Việt Nam cho Nhật. Nớc ta cũng không còn là thuộc
địa của Nhật vì sau khi Nhật đầu hàng đồng minh thì nhân dân ta đã giành lại nớc từ tay Nhật. Hơn
nữa Việt Nam đã có Chính phủ lâm thời đại diện chân chính cho nhân dân Việt Nam. Để khẳng
định sự thật này. Ngời viết Tuyên ngôn độc lập láy đi láy lại hai lần chữ sự thật. Sự thật là, sự
thật là và cuối cùng thì Nớc Việt Nam có quyền hởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một n-
ớc tự do độc lập. Đây là những điệp khúc tiếp nối nhau tăng thêm âm hởng hùng biện của bản
tuyên ngôn.
Phần kết thúc bản tuyên ngôn tác giả tiếp tục khẳng định lòng yêu nớc, nguyện vọng độc lập dân
tộc của nhân dân ta vừa trên cơ sở công lý vừa trên cơ sở thực tiễn. Về mặt công lý, nếu tác giả đã
công nhận quyền độc lập dân tộc tự quyết tại hai hội nghị: Tê hê răng (1943) và Cựu Kim Sơn
(1945) thì họ nhất định sẽ phải công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. Nếu không thì
nhân dân ta sẽ phát huy truyền thống yêu nớc bất khuất để giữ vững quyền tự do độc lập ấy: Toàn
thể dân tộc Việt Nam quyền tự do độc lập ấy.
Bản Tuyên ngôn đã kết thúc bằng câu văn khẳng định lòng yêu nớc bằng lời thề quyết tử cho tổ quốc
định hai phần trên là nguyên nhân còn phần cuối là kết quả.
Cách lập luận của tác giả là dùng lời lẽ của đối phơng để bác bỏ đối phơng và luôn có sự kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn.
b. Giọng văn thay đổi linh hoạt phù hợp với đối tợng và nội dung.
Nói với công luận quốc tế thì giọng văn uyên bác, thể hiện một trí tuệ sắc sảo dẫn những lời
tuyên ngôn nổi tiếng là cơ sở cho lập luận.Viết với đồng bào cả nớc thì lời văn tình cảm thiết
tha. Về điều này Chế Lan Viên đã nhận xét thật chính xác: Vì nói với đồng bào lời văn của
bản Tuyên ngôn xiết bao xúc độngsau 13 chữ quyền là 14 câu, câu nào cũng có chữ
chúng Mở đầu nặng nh búa tạ: Chúng tuyệt đối không cho, chúng thi hành những luật
pháp dã man, chúng cớp không ruộng đất và mỗi chữ chúng ấy nh xiết xuống chữ ta
làm xúc động lòng ngời: chúng cớp đất nớc ta, áp bức đồng bào ta, tuyệt đối không cho
nhân dân ta chút quyền tự do dân chủ nào cả. Khi khẳng định độc lập, tự do thì lời văn
trang trọng thiêng liêng. Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố khi tố cáo tội ác kẻ thù thì giọng
văn bi thiết. Khi nêu cao truyền thống yêu nớc thì giọng văn hào hùng sảng khoái.
c. Ngôn ngữ hình tợng nghệ thuật vừa chính xác vừa gợi cảm, truyền cảm. Vì là văn kiện chính trị nên mỗi
chữ mỗi lời cần phải chính xác tuyệt đối. Vì là tác phẩm văn học nên mỗi chữ mỗi lời lại có sức mạnh gợi cảm
truyền cảm lớn lao.
Khi tác giả viết: chúng tuyệt đối không cho dân ta chút quyền tự do dân chủ nào thì hai chữ tuyệt đối vừa nhấn
mạnh vừa làm chính xác thêm ý văn. Chỉ bằng chín chữ : Pháp chạy, Nhật hàng, Vua Bảo Đại thoái vị mà câu
văn đã khái quát đợc những sự kiên chính trị, những biến cố quan trọng nhất của lịch sử lúc bấy giờ. Những sự kiện
này đặt liên tiếp cạnh nhau trong câu văn ngắn gọn đem đến sự cảm nhận về sự thất bại thảm hại, nhanh chóng của
kẻ thù và khí thế thần tốc của cách mạng tháng Tám.
Những t tởng chính trị đợc diễn đạt bằng những hình tợng vừa gợi cảm vừa truyền cảm tác giả không viết. Pháp
đầu hàng Nhật một cách nhục nhã mà viết thực dân Pháp quỳ gối mở cửa nớc ta rớc Nhật. Câu văn
hình tợng đã
diễn tả đợc thái độ hèn nhát và tự ti nô lệ của Pháp trớc Nhật. Tuyên ngôn độc lập là đỉnh cao của văn học yêu nớc,
đỉnh cao của văn chính luận. Trong cả cuộc đời, làm văn viết văn của Bác thì hai lần ngời cảm thấy sung sớng và
sảng khoái nhất khi đặt bút viết đó là lần viết Bản án
chế độ thực dân Pháp để lại bản cáo trạng đanh thép
quyền của Pháp đều là những câu viết tuyệt hay. Nhng xem xét kĩ thì sẽ thấy: những câu viết ấy, dù hay
tuyệt, vẫn không chứa đựng cơ sở t tởng thực sự của bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam. Vì những câu
viết ấy chỉ dừng lại ở việc nêu lên quyền tự do, bình đẳng giữa những con ngời.
Cơ sở t tởng thực sự của bản Tuyên ngôn nằm trong câu văn Bác khiêm tốn gọi là suy rộng. Trong câu
suy rộng ấy, Bác Hồ đã giơng cao ngọn cờ bình đẳng, tự do giữa các dân tộc trên trái đất. Thế là Bác đã
chuyển từ phạm trù nhân quyền - nền móng t tởng của cách mạng t sản - sang phạm trù chống thực dân -
nền móng của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào rồi sẽ trở thành một trong ba dòng thác cách
mạng trên thế giới.
Quả là trong đoạn văn - đúng hơn chỉ trong một câu văn ngắn gọn, ta vẫn nhận ra một Hồ Chí Minh nh
ngời giơ cao bó đuốc sáng ngời của t tởng giải phóng dân tộc.
Đề 3. Có bạn không hiểu tại sao đoạn văn tố cáo tội ác của thực dân Pháp trong vòng 5 năm trớc Cách
mạng tháng Tám 1945 lại đợc Bác viết dài ngang với đoạn văn tố cáo tội ác của chúng suốt 80 năm. Anh
(chị) sẽ giải thích thế nào về điều đó.
Gợi ý:
Trong phần thứ hai của Tuyên ngôn độc lập, đoạn tố cáo tội ác về chính trị và về kinh tế của thực dân
Pháp trong hơn 80 năm đô hộ Việt Nam đợc viết ngắn gọn, cô đúc, trong khi đoạn văn nói về việc Pháp
bán nớc ta cho Nhật, về việc ta giành lại nớc từ tay Nhật lại đợc viết khá tỉ mỉ, kỹ càng. Vì sao vậy ?
Vì vào lúc ấy, trớc công luận trong nớc ta và trên thế giới, tội ác của bọn thực dân ở thuộc địa đã là một
thực tế quá hiển nhiên. Trong khuôn khổ một bản Tuyên ngôn - một loại hình văn bản rất cần sức mạnh
của sự nén dồn, cô đúc, những tội ác này hoàn toàn có thể nêu dới dạng những lời kết án gọn gàng, đanh
thép.
Nhng những điều Bác nói đến trong đoạn văn sau lại khác. Đó là sự thật, nhng là một sự thật tế nhị,
không tinh tờng thì rất dễ lầm lẫn. Bác Hồ đã sáng suốt lờng trớc đợc rằng sẽ không ít ngời vô tình hoặc
hữu ý cho rằng chúng ta giành độc lập từ tay thực dân và phát xít. Nhng đây là chuyện sai một li đi một
dặm. Cái điều thoạt nhìn dễ tởng là không quan trọng gì lắm về bản chất, lại có thể gây ra hậu quả không
sao lờng hết. Thiếu một chút sáng suốt, một chút khôn khéo ở đây, ta dễ có thể bị quy là chống lại một
thành viên chủ chốt của đồng minh, chống lại những điều ớc cho những nớc thắng trận có quyền thu lại
những mảnh đất cũ của mình.
Một điều có tầm quan trọng sống còn đối với nền độc lập của đất nớc nh thế, không thể nào coi nhẹ.
Nên dù là Tuyên ngôn, Bác Hồ vẫn phải dụng công phân giải, bằng hàng loạt câu văn chia thành các vế
Gợi ý:
Độc lập tự do đợc nói tới ở đây là của dân tộc, chứ không phải của cá nhân.
Quyền độc lập, tự do của dân tộc là một chân lí thiêng liêng, một lẽ phải không thể nào chối cãi.
Mất quyền độc lập, tự do ấy, dân tộc phải chịu muôn vàn cay đắng.
Sự quý giá của độc lập tự do xứng đáng để dân tộc gan góc chiến đấu trong nhiều năm trờng, bất
chấp mọi gian khổ hi sinh.
Và vì sự quí giá của độc lập tự do mà dân tộc Việt Nam sẵn sàng hi sinh tất cả để giữ vững nền độc
lập, tự do vừa giành đợc.
Đề 7: Tham khảo đề 21 câu 1 phần giới thiệu đề thi
TÂY TIÊN
Yêu cầu
Nắm đợc những đơn vị kiến thức cơ bản sau:
- 25 - 1. Phẩm chất anh hùng, tinh thần yêu nớc của các chiến sĩ Tây Tiến.
2. Vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Tiến
3. Đặc sắc nghệ thuật.
Hoàn cảnh sáng tác của Tây Tiến (Quang Dũng)
1. Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đây là một đơn vị
thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Lào - Việt, đồng thời
đánh tiêu hao địch và tuyên truyền đồng bào kháng chiến. Địa bàn hoạt động của đoàn khá rộng: từ
Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hóa. Lính Tây Tiến phần
đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có nhiều học sinh, trí thức (nh
Quang Dũng). Sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn, gian khổ: trèo đèo, luồn rừng, lội suối, ăn uống
kham khổ, ốm đau không có thuốc men (đánh trận tử vong ít, sốt rét tử vong nhiều). Tuy vậy, họ
sống rất vui và chiến đấu rất dũng cảm. Lòng yêu nớc khiến họ có thể hy sinh tất cả - Chiến trờng
đi chẳng tiếc đời xanh. Vì thế đoàn quân sốt rét vẫn khiến kẻ địch phải khiếp sợ Quân xanh màu
lá dữ oai hùm