LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hòa Bình trong thu
hút vốn đầu tư” được hoàn thành là kết quả và quá trình học tập 2 năm của cao học
viên và sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo tại trường Đại học Nông nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong và ngoài trường đã tạo
điều kiện giúp đỡ em đặc biệt là TS. Nguyễn Phúc Thọ, người đã trực tiếp hướng
dẫn, cung cấp tài liệu rất có giá trị, động viên tinh thần để em hoàn thành tốt luận
văn này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các bạn cao học viên lớp KTNN - K18B,
Các phòng ban của trường Đại học Nông nghiệp, Các cơ quan ban ngành của Tỉnh
Hòa Bình đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ về công sức cũng như tư liệu để em thu thập
làm cơ sở cho luận văn.
Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện cho em
về mọi mặt trong thời gian em học tập và hoàn thành luận văn này.
Hà nội, ngày 15 tháng 8 năm 2011
Tác giả
Bùi Thị Đức Anh
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Phần I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hòa Bình là tỉnh có tiềm năng để tạo nên sức hút đầu tư tự nhiên do có vị trí địa
lý liền kề với thủ đô Hà Nội, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hòa Bình có
nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú, đa dạng với trữ lượng và chất
lượng cao là điều kiện để phát triển các ngành công nghiệp khai thác, luyện kim.
Các khu công nghiệp của tỉnh được quy hoạch theo các trục Quốc lộ 6 và đường Hồ
Chí Minh sẽ tạo điều kiện để vận chuyển hành hóa và giao lưu kinh tế giữa Hòa
Bình và các tỉnh khác.
Trên địa bàn tỉnh có 8 khu công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ chấp
thuận bổ sung vào các Khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến
và những lý thuyết về năng lực cạnh tranh. Không có một định nghĩa nào có sức
bao quát được toàn cảnh cạnh tranh, mà thường chúng nhấn mạnh vào những yếu
tố khác nhau của cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Vì thế không tránh khỏi có
những mâu thuẫn trong những định nghĩa về cạnh tranh.
Hơn thế nữa, bản thân định nghĩa cạnh tranh và năng lực cạnh tranh có
những tiến triển, biến thái theo thời gian. Vì thế các lý thuyết dựa trên những định
nghĩa đó cũng không dễ gì bao quát những thực tiễn mới phát sinh, do đó chưa giải
quyết được những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, hay những vấn đề mang
bản sắc cục bộ, địa phương, hay những lĩnh vực cụ thể.
Vì thế có cái nhìn toàn cục và có hệ thống những lý thuyết về cạnh tranh và
năng lực cạnh tranh là điều cần thiết.
Năng lực cạnh tranh của một tỉnh là một khái niệm rất mới ở nước ta. Trong nền
kinh tế thị trường, yếu tố này cũng phải chịu tác động, ảnh hưởng và trở thành một
tác nhân để thu hút vốn đầu tư của một tỉnh. Vì thế, vấn đề nâng cao năng lực cạnh
tranh của một tỉnh trở nên cần thiết và ngày càng thu hút sự quan tâm của đất nước
ta. Việc làm rõ thiết chế này là cần thiết, trên cơ sở đó phát triển những quan niệm,
2
những định nghĩa về năng lực cạnh tranh của một tỉnh, và vạch ra những gì cần phải
làm của một tỉnh để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút vốn đầu tư
- Phân tích tính thực trạng về năng lực cạnh tranh và tình hình thu hút vốn
đầu tư của tỉnh Hòa Bình trong những năm gần đây
Trước tiên cần phải có được sự đánh giá thực trạng về năng lực cạnh tranh
của tỉnh Hòa Bình theo những tiêu chí nhất định, và tình hình thu hút vốn đầu tư của
tỉnh trong những năm qua, trong đó vạch ra những gì mang tính thực chất, những gì
chính phụ, những gì đã đạt được, những gì chưa đạt được và những gì sẽ đến trong
tương lai, đặc biệt là những thách thức, những cơ hội, và tiến trình hoạt động thực
tiễn cần phải có.
- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
để thu hút vốn đầu tư phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình
trong thời gian tới
- Về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng về những việc đã và đang làm
của tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua để nâng cao năng lực cạnh tranh thu hút vốn đầu
tư. Phát hiện những tồn tại và những khuyết thiếu trong quá trình thực hiện đó để đưa
ra một số đề xuất và kiến nghị giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của tỉnh
nhằm thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm:
Phần I. Phần Mở Đầu
Phần II. Cơ sở lý luận
Phần III. Phương pháp nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
Phần IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần V. Kết luận và kiến nghị
4
Phần II. Cơ sở lý luận
2.1 Khái quát chung năng lực cạnh tranh
2.1.1 Các khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
2.1.1.1 Các khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một thuật ngữ đã được sử dụng từ khá lâu song trong những
năm gần đây được nhắc đến nhiều hơn, nhất là ở Việt Nam. Bởi trong nền kinh tế
mở hiện nay, khi xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng phổ biến thì cạnh tranh
là phương thức để đứng vững và phát triển. Nhưng “cạnh tranh là gì” thì vẫn đang
là một khái niệm chưa thống nhất, các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm cạnh
tranh dưới nhiều góc độ khác nhau.
Theo diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế OECD: “Cạnh tranh là khả năng các doanh nghiệp, ngành, quốc
gia và vùng tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc
tế”. Định nghĩa trên đã cố gắng kết hợp cả hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp,
của ngành và quốc gia.
Như vậy, xét trên góc độ vĩ mô các khái niệm về cạnh tranh đều cho thấy
mục tiêu chung của hoạt động cạnh tranh là thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường
Xét trên phương diện một tỉnh hoặc thành phố thì khái niệm năng lực cạnh
tranh của tỉnh (thành phố) còn gắn liền với khái niệm môi trường đầu tư, bởi như
chúng ta đã đề cập ở trên, khi xem một tỉnh (thành phố) là một nhà cung cấp hàng
hoá thì môi trường đầu tư chính là sản phẩm hàng hoá mà một nhà cung cấp cung
cấp cho khách hàng của mình là các nhà đầu tư hay các doanh nghiệp. Như vậy
nâng cao năng lực cạnh tranh của các tỉnh (thành phố) chính là cải thiện nâng cao
môi trường kinh doanh của tỉnh (thành phố) mình, điều này tương đương với việc
nâng cao chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp, làm cho sản phẩm của mình trở
nên khác biệt hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh, tức môi trường đầu tư ở tỉnh đó
phái thông thoáng; các quy định về đầu tư, ưu đãi đầu tư phải rõ ràng, cụ thể, đơn
giản, dể hiểu, dế thực hiện; cơ hạ tầng hiện đại, đáp ứng được các nhu cầu cho hoạt
động đầu tư, sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp; … điều này nếu hiểu
6
theo ngôn ngữ marketing đó chính là chíên lược cạnh tranh bằng chất lượng sản
phẩm.
Cùng với chất lượng sản phẩm thì giá thành sản phẩm chính là yếu tố quan
trọng thứ hai mà khách hàng cân nhắc khi lựa chọn một sản phẩm. Một nhà đầu tư
sau khi đã xem xét xong các yếu tố của môi trường đầu tư rồi thì điều tiếp theo họ
làm là xem xét chi phí mà họ phải bỏ ra để có thể đầu tư tại địa bàn tỉnh, đó là chi
phí giải phóng mặt bằng, chi phí xin mua, hay thuê đất; chi phí điện nước sản xuất,
… nếu có hai hoặc ba địa phương có các yếu tố của môi trường đầu tư tương đương
nhau thì địa phương nào có chi phí đầu tư thấp hơn tất nhiên nhà đầu tư sẽ chọn đầu
tư ở điạ phương đó
Bên cạnh chất lượng sản phẩm và giá cả, dịch vụ chăm sóc khách hàng trong
thời gian gần đây đã đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc chi phối đến các
quyết định của khách hàng.
Như vậy theo cách hiểu môi trường đầu tư của một địa phương là một sản
phẩm hàng hoá mà các địa phương rao bán cho các nhà đầu tư, chi phí gia nhập thị
trường tại địa phương là giá cả của sản phẩm môi trường đầu tư đó thì dịch vụ chăm
sóc khách hàng chính là sự quan tâm, chăm sóc các nhà đầu tư của chính quyền địa
- Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh cho thấy những hàng hoá nào phù
hợp nhất với yêu cầu và khả năng thanh toán của người tiêu dùng bởi cạnh tranh
làm cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, lượng hàng hoá trên thị trường ngày
càng tăng, chất lượng tốt, hàng hoá đa dạng, phong phú.
Như vậy, cùng với tác động của các quy luật kinh tế khách quan khác, cạnh
tranh đã giúp các doanh nghiệp trả lời các câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai
và sản xuất như thế nào một cách thoả đáng nhất.
Đối với một tỉnh thì cạnh tranh giúp tỉnh đó tự hoàn thiện mình, chuẩn hóa
các quy định, quy chế, phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
2.2.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang thúc đẩy mạnh mẽ, sâu sắc quá
trình chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế, lực lượng sản xuất lớn mạnh đang được
8
quốc tế hoá. Công nghệ thông tin làm cho nền kinh tế thế giới gắn bó, ràng buộc lẫn
nhau dẫn tới không một quốc gia nào, một nền kinh tế dân tộc nào muốn phát triển
mà có thể tách rời khỏi hệ thống kinh tế thế giới, không hoà nhập vào sự vận động
chung của nền kinh tế thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế
của nước mình với kinh tế khu vực và thế giới, tham gia vào phân công lao động
quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế song phương và đa phương, chấp nhận tuân
thủ những quy định chung được hình thành trong quá trình hợp tác và đấu tranh
giữa các thành viên của tổ chức. Trong quá trình hội nhập, các nước tham gia đều
phải tuân theo những luật chơi chung khá phức tạp được thể hiện trong nhiều điều
ước quốc tế:
Một là: Khái niệm thương mại đã được mở rộng, không chỉ gồm thương mại
các hàng hoá và dịch vụ thông thường mà còn bao gồm cả các lĩnh vực đầu tư bản
quyền, tư vấn, sở hữu trí tuệ Nói cách khác các hàng hoá được buôn bán hiện nay
không chỉ bao gồm phần cứng mà còn cả phần mềm, trong đó phần mềm ngày càng
quan trọng hơn.
Hai là: Khi gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, các quốc gia đều phải giảm
thiểu, thậm chí xoá bỏ hàng rào thuế quan. Ví dụ trong khuôn khổ AFTA, các nước
hội và đủ khả năng đối mặt với các thách thức trong quá trình hội nhập để tồn tại và
phát triển bền vững.
Đánh giá về khả năng thu hút vốn đầu tư của một địa phương chúng ta có thể
nhìn vào chỉ số năng lực cạnh tranh của địa phương đó bởi vì chỉ số năng lực cạnh
tranh của một địa phương thể hiện mức độ thuận lợi của môi trường đầu tư của địa
phương đó, địa phương nào có chỉ số năng lực cạnh tranh cao có nghĩa môi trường
đầu tư của tỉnh đó rất thuận lợi, và các doanh nghiệp , các nhà đầu tư dĩ nhiên
không thể bỏ qua mà không đầu tư vào địa phương này, có thể nói khả năng thu hút
vốn đầu tư của một địa phương tỉ lệ thuận với chỉ số năng lực cạnh tranh của địa
phương đó.Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của một tỉnh sẽ giúp tỉnh đó tạo ra
lợi thế cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh đó.
10
2.1 .3 Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh
2.1.3.1 Phương pháp xây dựng chỉ số PCI
Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do phòng thương mại và công
nghiệp Việt Nam (VCCI) và dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam hợp tác
xây dựng từ năm 2005, được cơ quan phát triển quốc tế Hoa kỳ (USAID) tài trợ,
mục tiêu của dự án là đánh giá, xếp hạng môi trường kinh doanh và chính sách phát
triển khu vực kinh tế tư nhân của các tỉnh và thành phố trong cả nước thông qua
việc xem xét các yếu tố về chiến lược, trình độ kinh doanh sẽ dành cho những
nghiên cứu sau này. Đặc biệt nhóm nghiên cứu đã xây dựng chin chỉ số thành phần
dựa theo các yếu tố đã được nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn ở Việt
nam nhấn mạnh từ trước tới nay.
Có 2 loại dữ liệu được sử dụng để xây dựng các chỉ số đánh giá, đó là dữ liệu
“mềm” phản ánh đánh giá của doanh nghiệp thu thập từ hình thức gửi phiếu điều
tra đến 15.400 doanh nghiệp ở 42 tỉnh thành và nhận được 2.020 phiếu trả lời. Dữ
liệu “cứng” là dữ liệu được công bố trong Niêm giám Thống kê, ghi nhận từ các
cuộc phỏng vấn của bên thứ 3. Mỗi chỉ tiêu được chuẩn hóa theo thang điểm từ 1-
10, sau đó lấy điểm trung bình của tất cả các chỉ tiêu để tính điểm chín chỉ số thành
nghiệp. Cụ thể:
• Phần trăm doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đang
trong quá trình chờ nhận
• Khả năng mở rộng kinh doanh nếu dễ có mặt bằng kinh doanh hơn
• Phần trăm doanh nghiệp thuê lại đất từ DNNN
• Đánh giá của doanh nghiệp về nỗ lực của chính quyền tỉnh trong việc
chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
• Phần trăm diện tích đất có giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất
12
• Rủi ro mặt bằng kinh doanh do bị chính quyền thu hồi cho mục đích khác
• Đánh giá về mức thoả đáng của số tiền bồi thường
• Rủi ro về thay đổi các điều kiện cho thuê
• Đánh giá về tính công bằng trong cách thức giải quyết tranh chấp về hợp
đồng cho thuê
• Thời hạn thuê
Chỉ số thứ 3. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin:
Chỉ tiêu này giúp đánh giá sự thoáng của môi trường đầu tư ở mỗi địa
phương thông qua đánh giá khả năng tiếp cận những thông tin liên quan đến hoạt
động đầu tư và kinh doanh của địa phương. Hệ thống thông tin càng minh bạch và
doanh nghiệp càng dế dàng tiếp cận thông tin thì điểm số này của địa phương càng
cao.
• Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch
• Tính minh bạch của các quyết định, nghị định
• Vai trò của các “mối quan hệ” để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh
• Vai trò của gia đình bạn bè khi thương lượng với cán bộ nhà nước
• Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh
doanh
• Khả năng có thể dự đoán của việc thực thi pháp luật của tỉnh
• Tỉnh có trao đổi ý kiến với doanh nghiệp về những thay đổi trong các quy
định pháp luật
14
• Những đóng góp về tài chính ảnh hưởng đến thái độ đối với doanh
nghiệp tư nhân
• Đánh giá của doanh nghiệp trong nỗ lực thực hiện cổ phần hoá của tỉnh
• Tương quan về tỉ trọng nợ của DNNN do địa phương quản lý trong tổng
số nợ của các doanh nghiệp của tỉnh so với tỉ trọng doanh thu của các DNNN do địa
phương quản lý trong tổng doanh thu của các doanh nghiệp của tỉnh
• Phần trăm thay đổi về số lượng DNNN do địa phương quản lý (2000 –
2004)
• Tỷ trọng dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại quốc doanh cho
các DNNN
Chỉ số thứ 7. Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá về một khía cạnh của năng lực cạnh tranh của
tỉnh thông qua việc đánh giá về sự năng nổ nhiệt tình, sự sáng tạo của lãnh đạo tỉnh
trong việc giúp các doanh nghiệp giải quyết các khó khăn.
Chỉ số này được xây dựng dựa trên các tiêu thức sau:
• Tỉnh triển khai tốt các quy định của Trung ương
• Tỉnh sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết các khó khăn, trở ngại
đối với cộng đồng doanh nghiệp
• Tỉnh có nhiều sáng kiến tốt nhưng còn nhiều cản trở ở Trung ương
• Không có sáng kiến nào cấp tỉnh
• Tỉnh tham khảo ý kiến của doanh nghiệp khi xây dựng các quy định
Chỉ số thứ 8. Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
Chỉ tiêu này cho thấy phương hướng phát triển kinh tế tư nhân của tỉnh và
những nỗ lực cũng như các biện pháp mà tỉnh đã thực hiện để khuyến khích sự phát
triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Chỉ tiêu này được xác định dựa trên những tiêu thức sau:
15
• Thông tin thị trường và xúc tiến thương mại
• Công nghệ và các dịch vụ liên quan đến công nghệ
trung bình
(%)
Trọng số
làm tròn
(%)
Loại
trọng số
Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
Tính minh bạch
Đào tạo lao động
Tính năng động và tiên phong của lãnh
đạo tỉnh
Chi phí thời gian để thực hiện các quy
định của Nhà nước
Thiết chế pháp lý
Cơ sở hạ tầng
Chi phí không chính thức
Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử
dụng đất
Chi phí gia nhập thị trường
Cơ sở hạ tầng
Tổng số
17,2
16,2
15,3
13,2
11,8
7,7
6,0
5,7
của đất nước hay của doanh nghiệp mà có thể huy động vào quá trình tái sản xuất.
Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc”, Adam Smith, một đại diện điển
hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã cho rằng: “tiết kiệm là nguyên nhân
trực tiếp làm gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết
kiệm, nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa nhưng không có tiết kiệm thì vốn
không bao giờ tăng thêm.
Đối với mỗi quốc gia hay một nền kinh tế thì hoạt động đầu tư phát triển
luôn đóng một vai trò quyết định trong sự đi lên phát triển hay hưng thịnh của chính
quốc gia đó.
- Phân loại đầu tư: Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân chia đầu tư
thành các loại khác nhau.
Có thể phân loại đầu tư theo những tiêu chí cơ bản sau:
* Căn cứ vào mục đích đầu tư
- Theo mục đích kinh tế với lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng, các nhà đầu tư
hiểu rằng chính người tiêu dùng đã thực hiện lợi nhuận cho họ và nhà đầu tư phải
làm gì, làm như thế nào, tạo ra mặt hàng gì, bán cho ai ? Quá trình đầu tư này có
mối quan hệ xã hội sâu sắc.
- Theo mục tiêu xã hội: Là các hoạt động đầu tư sử dụng các nguồn lực để
mang lại các lợi ích về mặt xã hội. Nhà nước thông qua doanh nghiệp, tổ chức xã
hội để triển khai thực hiện các dự án đầu tư qua đó cải thiện đời sống nhân dân hay
gián tiếp tạo môi trường pháp lý, các dịch vụ công cộng, các công trình kiến trúc
đảm bảo lợi ích xã hội (mọi người được hưởng) và sử dụng vào mục đích kinh
doanh, sinh hoạt.
Như vậy với chủ thể đầu tư là nhà nước hay doanh nghiệp thì đều xuất phát
từ quan niệm là đầu tư bỏ vốn và phải tính đến hiệu quả. Đơn vị đo hiệu quả của
18
doanh nghiệp là lợi nhuận, còn Nhà nước quan tâm đến hiệu quả tổng hợp, trong đó
có hàm chứa mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên do tác động gián tiếp (xã
hội) và trực tiếp (kinh tế) hiệu quả các dự án của Nhà nước. Ví dụ, việc tăng đầu tư
cho giáo dục và đào tạo, y tế, phát thanh và truyền hình, sân bay, bến cảng, đường
Những hoạt động đầu tư mà nhà đầu tư không trực tiếp nắm quyền quản lý, kiểm
soát và điều hành hoạt động kinh doanh đều có tính chất là đầu tư gián tiếp.
* Căn cứ vào tính chất đầu tư
Đầu tư theo chiều rộng: Là đầu tư cơ sở sản xuất mới hay đầu tư mở rộng sản
xuất. Trong trường hợp này, với số vốn đầu tư như nhau hình thức đầu tư này sẽ tạo
ra nhiều chỗ làm việc hơn hình thức đầu tư chiều sâu nhưng trình độ công nghệ
không tiên tiến, hiện đại hơn công nghệ hiện có.
Đầu tư theo chiều sâu: Là đầu tư được thực hiện trên cơ sở cải tạo, mở
rộng, nâng cấp, đồng bộ hóa hiện đại hóa cơ sở sản xuất hiện đã có hoặc có thể là
đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, xây dựng một nhà máy mới. Trong trường hợp
này, cùng với khối lượng vốn lớn, thì thiết bị công nghệ được đầu tư phải hiện đại
hơn, tiên tiến hơn.
2.2.2 Đặc điểm của đầu tư
- Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn
hợp lý, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn
đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm. Nguồn
vốn huy động cho các dự án đầu tư có thể từ ngân sách Nhà nước, góp cổ phần, liên
danh, tự có, tài trợ hoặc huy động từ nguồn khác. Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu
tư của dự án, vừa để tránh tồn đọng vốn nên các nguồn tài trợ không chỉ xem xét về
mặt lượng mà cả về thời điểm nhận nguồn tài trợ. Các nguồn vốn dự kiến này phải
được đảm bảo chắc chắn, thể hiện ở cơ sở pháp lý và thực tế của nguồn huy động.
- Thời gian cần thiết cho việc tiến hành hoạt động đầu tư phát triển thường
kéo dài: Thời kỳ đầu tư được tính từ khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án
hoàn thành và đưa vào hoạt động. Do quy mô dự án thường lớn nên tốn nhiều thời
gian để hoàn thành, có khi tới hàng chục năm như các dự án giao thông, thủy điện
20
Thời gian thực hiện dự án kéo dài sẽ kéo theo sự ảnh hưởng đến tiến độ nghiệm thu
công trình và hoạt động của dự án, dẫn đến thời gian thu hồi vốn chậm và tăng khả
năng rủi ro; chi phí đầu tư càng lớn dẫn đến mất cân đối trong phân bổ nguồn lực và
ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như sản phẩm của dự án