Luận văn tốt nghiệp: Chuyên đề Phương pháp chế biến món ăn á – âu trong nhà hàng khách sạn - Pdf 22


Lời nói đầu
Ăn uống là nhu cầu không thể thiếu đối với con người, vì thế nấu ăn rất quan
trọng trong sinh hoạt hàng ngày và đòi hỏi phải có kỹ thuật trong dinh dưỡng và
cách chế biến. Ăn uống có tác dụng quan trọng đến sự phát triển của cơ thể con
người, sức đề kháng và sức làm việc của con người. Đối với quân đội, công tác nấu
ăn là một trong những nhân tố có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao sức mạnh
sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống
Nấu ăn là một công việc bình thường của mọi gia đình nhưng nấu ăn cũng là
một nghệ thuật, đó là nghệ thuật ẩm thực. Ẩm thực là một nét tạo nên bản sắc văn
hóa của mỗi vùng miền, mỗi quốc gia dân tộc. Đất nước ta với 4.000 năm lịch sử
gắn liền với nền văn minh lúa nước, các món ăn chủ yếu được chế biến từ lúa gạo,
ngô nhưng không vì thế mà thiếu đi sự phong phú về chất lượng, mùi vị, màu
sắc Có rất nhiều nền văn hoá ẩm thực tiêu biểu cho các vùng miền của đát nước
được người dân Việt Nam cũng như bạn bè trên thế giới biết đến như: ẩm thực Hà
Nội, ẩm thực Huế Tuy ở các miền của tổ quốc nhưng nhìn chung các món ăn đều
có những nét đậm hồn Việt. ở Việt Nam quan niệm “ăn no, mặc ấm” dường như đã
thay đổi, người dân hướng tới nhu cầu được “ăn ngon, mặc đẹp”. Trong điều kiện
đời sống bộ đội được không ngừng nâng lên, thì càng đòi hỏi không chỉ “ăn đủ” mà
còn phải “ăn ngon”, cho nên công tác nuôi dưỡng bộ đội của đội ngũ nhân viên nấu
ăn cũng đòi hỏi ngày càng nâng cao.
Chính vì vậy, em đã lựa chọn làm nhân viên nấu ăn trong quân đội và để
nâng cao tay nghề phục vụ tốt hơn nhiệm vụ, em đã chọn theo học ngành kỹ thuật
chế biến nấu ăn của Trường trung cấp nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội - “cái
nôi” của ngành dịch vụ ăn uống, một “bông hoa thơm” giữa lòng thủ đô. Trường
Trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội có bề dầy trong việc đào tạo
những công nhân kỹ thuật có tay nghề, có chuyên môn cao, bên cạnh đó là tập thể
đội ngũ giáo viên có bề dầy kinh nghiệm, trình độ đã góp phần xây dựng nền ẩm
thực của thủ đô Việt Nam ngày càng phong phú hơn. Trong quá trình học tập tại
trường, được sự giúp đỡ, dạy bảo tận tình của các thầy cô, em đã được trang bị một
lượng kiến thức cần thiết, bổ ích để sau này vận dụng vào trong thực tế công tác tại


1. Vị trí đặc điểm:
Cục 16, Tổng cục II, Bộ Quốc phòng nằm tại địa chỉ 152 đường Trường
Chinh, Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội, được thành lập ngày 25/09/1981 theo
quyết định của Bộ Quốc phòng. Là một đơn vị làm công tác nghiên cứu phục vụ
quân đội.
Cơ quan phục vụ bảo đảm về ăn uống là phòng Hậu cần, cụ thể là bộ phận
bếp cơ quan (bếp khu C), công việc chủ yếu là phục vụ công tác nuôi dưỡng bộ đội
thường xuyên, phục vụ ăn uống hàng ngày. Ngoài ra còn phục vụ các buổi liên
hoan, tiếp khách của đơn vị và đơn vị bạn trong cùng khu với các hình thức: tiệc
mặn, tiệc đứng…, theo yêu cầu của chỉ huy đơn vị giao hoặc nhu cầu của các
phòng, ban, cá nhân trong đơn vị và đơn vị bạn (các nhu cầu này phải được sự nhất
trí cho phép của Chỉ huy có thẩm quyền).
2. Bộ máy tổ chức:
Cơ cấu tổ chức của đơn vị như sau:
Chỉ huy Cục
Các phòng, ban khối nghiệp vụ
Các phòng khối bảo đảm, trong đó có phòng Hậu cần.
Phòng Hậu cần bao gồm các ban, bộ phận có chức năng, nhiệm vụ khác
nhau, trong đó bộ phận bảo đảm ăn uống là cơ quan quân nhu (chỉ đạo chuyên môn)
và bếp khu C.
Ta có thể phác họa cơ cấu tổ chức bộ máy đơn vị như sau:
3

Lao động trong bếp gồm 22 người mỗi người đảm nhiệm một công việc cụ
thể theo sự phân công, giao nhiệm vụ của chỉ huy đơn vị, thực hiện chức trách
nhiệm vụ được giao tuân theo mệnh lệnh của người chỉ huy và nguyên tắc, chế độ
quy định của ngành Hậu cần quân đội.
3. Chức năng nhiệm vụ:
a. Đặc điểm, nhiệm vụ của bếp ăn tập thể trong quân đội:

Nhà ăn quân đội có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tiếp nhận bảo quản lương thực, thực phẩm, chất đốt, trang thiết bị nhà ăn
để bảo đảm ăn uống cho đơn vị.
- Chế biến, nấu ăn, phục vụ ăn uống kịp thời, chất lượng tốt và tiến hành tăng
gia sản xuất cải thiện đời sống.
- Tham gia xây dựng đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt.
c. Chức trách, nhiệm vụ cá nhân:
+ Bếp trưởng:
Bếp trưởng là nhân viên quân nhu ở đơn vị, chịu sự chỉ huy của thủ
trưởng đơn vị, chỉ huy chỉ đạo của trợ lý hậu cần tiểu đoàn, chỉ huy đại đội. Có
trách nhiệm thực hiện tổ chức chế biến, nấu ăn, phục vụ ăn uống của bộ đội
trong mọi tình huống.
Nắm vững quân số ăn, tiêu chuấn ăn của các đối tượng và tham gia xây
dựng thực đơn hàng tuần, tổ chức thực hiện thực đơn hàng ngày.
Chỉ huy nhân viên thuộc quyền thực hiện chức trách được giao.
Tổ chức thực hiện nhập, xuất lương thực, thực phẩm hàng ngày tại kho,
nhà bếp.
Kiểm tra, chỉ đạo, bồi dưỡng, cải tiến kỹ thuật chế biến, kỹ thuật nấu ăn
tại bếp cho các nhân viên thuộc quyền.
Quản lý chặt chẽ dụng cụ cấp dưỡng, thực hành tiết kiệm chống tham ô
vật chất quân nhu tại nhà ăn, nhà bếp.
Gương mẫu thực hiện và đôn đốc chấp hành nội qui, chế độ nhà ăn,
5

nhà bếp.
Tích cực học tập chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ chế biến, nấu ăn để
góp phần cải tiến bữa ăn của bộ đội, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong
mọi tình huống.
+ Quản lý:
Quản lý bếp ăn là nhân viên hậu cần ở đơn vị, dưới sự chỉ huy của thủ


tại bếp.
Trực tiếp chế biến nấu ăn tại bếp.
Bảo quản giữ gìn các trang bị, dụng cụ cấp dưỡng, thực hiện chế độ
bàn giao dụng cụ cấp dưỡng giữa các ca trực.
Có tinh thần thái độ phục vụ tận tình chu đáo.
Thường xuyên gương mẫu chấp hành, nhắc nhở mọi người nghiêm
chỉnh thực hiện nội qui nhà ăn, nhà bếp, nếp sống văn minh, chính qui trong
ăn uống.
Tích cực học tập chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ để nâng cao chất
lượng bữa ăn cho đơn vị.
Toàn bộ nhân viên bếp dưới sự điều hành của bếp trưởng, được giao những
công việc nhất định và được hưởng lương theo chức vụ, trình độ, công việc
Sau đây em xin trích dẫn chi tiết từng nhân viên trong khu vực bếp về họ tên,
tuổi, trình độ, chức vụ và nhiệm vụ
TT Họ và tên Năm sinh Trình độ Chức vụ Nhiệm vụ
1 Nguyễn Thị Thảo 1968 CNKT Bếp trưởng Quản lý
bếp
2 Nguyễn Thị Cúc 1978 Đại học Quản lý Kế toán
bếp
3 Bùi Thị Bích Trâm 1981 Trung cấp Nhân viên Thủ kho
4 Nguyễn Thị Bưởi 1962 sơ cấp Nhân viên Tiếp phẩm
5 Phạm Thị Xuyến 1982 CNKT Nhân viên nấu ăn
6 Đinh Ngọc Hà 1978 sơ cấp Nhân viên
chăn
nuôi+chế
biến
7

7 Đặng Tiến Tuấn 1978 sơ cấp Nhân viên

dựng đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tôt” của đơn vị (năm 2011 được Tổng
cục II tặng Cờ thi đua dành cho đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua 2007-
2010).
Các nhân viên tham gia các hội thi và thi tay nghề đạt kết quả tốt, nhiều đồng
chí được khen thưởng. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ
thuật để nâng cao chất lượng công tác phục vụ bộ đội.
II. Tổ chức sản xuất chế biến:
Trong khoảng thời gian 02 tháng tôi nhận thấy công việc tổ chức sản xuất tại
đơn vị nổi lên một số nét như sau.
1.Tổ chức sản xuất chế biến:
9

Tổ chức lao động trong bếp ăn là hệ thống các biện pháp sử dụng có kế
hoạch và hợp lý nhất sức lao động của các nhân viên phục vụ để sử dụng triệt để
thời gian lao động nhằm tăng năng suất lao động và chất lượng phục vụ bộ đội.
Tổ chức sản xuất:
Nguyên tắc tổ chức lao động trong bếp ăn:
1. Tổ chức lao động dựa trên cơ sở những kiến thức khoa học kỹ thuật ăn
uống và những kinh nghiệm tiên tiến đã được phổ cập rộng rãi, để áp dụng những
thành tựu đó vào sản xuất bữa ăn.
2. Tổ chức kết hợp giữa kỹ thuật và con người trong quá trình sản xuất.
3. Đảm bảo sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lao động và trang
thiết bị dụng cụ, lương thực thực phẩm và chất đốt trong bếp ăn. Không ngừng nâng
cao năng xuất lao động.
4. Tạo ra những điều kiện đảm bảo và việc giữ gìn sức khỏe cho người lao
động. Giáo dục ý thức lao động tự giác cho mọi nguời trong bếp ăn.
5. Bảo đảm an toàn tuyệt đối trong quá trình lao động.
Kế hoạch tổ chức sản xuất bữa ăn:
Kế hoạch tổ chức sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố sản xuất (sức lao
động, công cụ lao động) một cách cân đối và hợp lý trong phạm vi bếp ăn theo kế

Nhân viên nấu ăn đảm nhiệm các ca, như sau mỗi ca thông thường = 02
người
Nấu sáng: do một người đảm nhiệm (quân số ăn ít).
Nấu chính: nấu các món ăn chính.
Phụ nấu: hỗ trợ ca nấu chính.
Chế biến: sơ chế lương thực thực phẩm.
Nhà bàn: thực hiện công tác bày bàn, phục vụ bộ đội, khi bộ đội ăn tập trung
thì sử dụng cả người của các ca khác.
Cơ động: thực hiện các nhiệm vụ còn lại, sẵn sàng bổ sung cho các ca khi có
người nghỉ.
Chăn nuôi, chế biến: chăn nuôi lợn tận dụng thức ăn thừa và chế biến (làm
đậu phụ, giết mổ lợn, ngâm ủ giá đỗ ).
Khi hết giờ làm việc, một ca sẽ luân phiên ở lại phục vụ bộ đội ăn chiều và
các ngày nghỉ (thứ bẩy chủ nhật và ngày lế tết).
11

Lao động khác:
Bếp trưởng = 01 người
Kế toán (quản lý) = 01 người
Thủ kho = 01 người (kiêm nhiệm: ngoài thực hiện nhiệm vụ chính còn tham
gia các công tác khác tại bếp)
Tiếp phẩm = 01 người (kiêm nhiệm: ngoài thực hiện nhiệm vụ chính còn
tham gia các công tác khác tại bếp)
Bán căng-tin (ăn sáng và giải khát) = 01 người (kiêm nhiệm: ngoài thực hiện
nhiệm vụ chính còn tham gia các công tác khác tại bếp)
- Nội quy nhà ăn, nhà bếp:
Cán bộ nhân viên nhà ăn phải nêu cao ý thức trách nhiệm phục vụ.
Bảo quản tốt lương thực thực phẩm, chất đốt ; cân đong, đo, đếm chính xác;
có sổ ghi chép nhập xuất đầy đủ ; không lãng phí tham ô ; thực hiện kinh tế
công khai hàng ngày, hàng tháng.

Cùng với xây dựng thực đơn phải lập kế hoạch bảo đảm thực phẩm tuần để
hợp đồng tiếp nhận với trên (nếu trên bảo đảm), khai thác, sử dụng sản phẩm tăng
gia, sản xuất chế biến để nấu ăn theo thực đơn.
Nhân viên, chiến sỹ nuôi quân phải thực hiện các món ăn được bếp trưởng
phân công; chế biến, nấu ăn bảo đảm chất lượng tốt theo thực đơn, không được tùy
ý thay đổi.
Chế độ kiểm thực ba bước:
Để bảo đảm vệ sinh, an toàn trong ăn uống trước hết phải bảo đảm vệ sinh an
toàn lương thực, thực phẩm, thức ăn, nước uống. Biện pháp để tiến hành là thực
hiện chặt chẽ chế độ kiểm thực ba bước: kiểm tra lương thực thực phẩm trước khi
nhập kho, trước khi xuất để nấu ăn, thức ăn nấu xong cũng phải được kiểm tra trước
khi bộ đội ăn. Cụ thể:
Chỉ nhập vào kho những vật phẩm bảo đảm yêu cầu về chất lượng để bảo
quản và nấu ăn được. Những thực phẩm đã ôi thiu, chất lượng kém không dùng để
nấu ăn cho bộ đội. Tiến hành nhập, xuất phải thực hiện giao nhận tay ba.
Thức ăn, nước uống do nhân viên, chiến sỹ chế biến, nấu xong trước khi cho
bộ đội ăn cũng phải được kiểm tra vệ sinh đảm bảo an toàn cho ăn uống.
Chế độ ăn uống theo khoa học:
Bảo đảm ăn uống theo khoa học là phải đảm bảo đầy đủ nhu cầu về nhiệt
lượng, dinh dưỡng, bố trí thời gian ăn, cơ cấu bữa ăn hợp lý, thực hiện ăn nóng,
uống sôi.
13

Thực hiện chế độ này phải: Bảo đảm ăn uống phải trên cơ sở tiền ăn của các
đối tượng, sử dụng có hiệu quả tiền ăn.
Nhân viên, chiến sỹ nấu ăn khi tiếp nhận lương thực, thực phẩm cho nhu cầu
bảo đảm ăn uống của đơn vị phải kiểm tra chất lượng từng loại trước khi đưa vào
chế biến, nấu ăn.
Tùy theo điều kiện cụ thể để xác định thời gian ăn cho từng bữa, từng ngày;
cơ cấu bữa ăn cho phù hợp (2-4-4). Trong điều kiện thường xuyên phải xác định

Hàng ngày nhân viên, chiến sỹ nấu ăn kịp thời rút kinh nghiệm về tình hình
kết quả chế biến nấu ăn, phục vụ bộ đội ăn uống, để làm tốt hơn cho ngày sau. Bếp
trưởng chủ động tiến hành kịp thời trao đổi với cá nhân, bộ phận có liên quan. Các
bộ phận, nhân viên, chiến sỹ nấu ăn cũng cần đề đạt những vấn đề còn vướng mắc
trong quá trình chế biến, nấu ăn để bếp trưởng có hướng giải quyết phù hợp.
Hàng tuần vào đầu tuần sinh hoạt nhà ăn để rút kinh nghiệm tuần trước, phổ
biến công tác, giao nhiệm vụ thực hiện tuần này, do chỉ huy nhà ăn tổ chức. Nhân
viên, chiến sỹ ở nhà ăn thông qua buổi sinh hoạt, phản ánh với chỉ huy nhà ăn
những nội dung thực hiện được và chưa được cần giải quyết tiếp ở tuần sau.
Hàng tháng vào đầu tháng sinh hoạt nhà ăn để kiểm điểm, rút kinh nghiệm
tháng trước, phổ biến kế hoạch công tác tháng. Nội dung này do chỉ huy nhà ăn tổ
chức. Các nhân viên, chiến sỹ nấu ăn được dân chủ phát biểu đóng góp những ý
kiến của mình.
Nội dung quản lý trong nhà ăn quân đội
Quản lý lương thực:
Lương thực là một trong những vật chất thiết yếu để bảo đảm ăn uống hàng
ngày, sử dụng thường xuyên, có số lượng lớn ở nhà ăn. Quản lý lương thực ở nhà
ăn phải chặt chẽ về số lượng, chất lượng, giá cả từ khâu tiếp nhận, vận chuyển, bảo
quản đến sử dụng, thanh toán và báo cáo.
Quản lý thực phẩm:
Thực phẩm để bảo đảm ăn uống bao gồm nhiều loại vật phẩm. Quản lý thực
phẩm phải làm tốt từ khâu tạo nguồn, tiếp nhận, bảo quản đến sử dụng. Ngay từ
khâu tạo nguồn, tiếp nhận phải bảo đảm đủ về số lượng, chất lượng (tươi ngon), giá
cả hợp lý.
15

Quản lý tiền ăn và kinh phí nghiệp vụ ở nhà ăn:
Tiền ăn (hay còn gọi là kinh phí ăn) là số tiền theo tiêu chuẩn của các đối
tượng ăn trong nhà ăn, dùng để mua lương thực, thực phẩm, chất đốt bảo đảm cho
nhu cầu ăn uống; ngoài ra tiền ăn ở nhà ăn còn được bảo đảm cho một số khoản

dụng
cụ
Bàn
ra
đồ
Bàn

chế
nguyên
liệu chín
Bàn sơ chế
nguyên liệu sống
Khu vực bếp nhiệt xào, nấu
Khu

chế
Bồn
nước
khu
ăn
khu
ăn
Cửa ra
vào
Cửa ra
vào
17
Cửa ra
vào


18

C. Liệt kê một số thực đơn;
Thực đơn là bản liệt kê các món ăn trong một bữa, trong một ngày, một tuần
(hay một đợt phục vụ) của một người hay nhiều người trong một bếp ăn tập trung.
Thực đơn hàng ngày yêu cầu phải bảo đảm đủ nhiệt lượng là 3.500Kcal và
cân đối các chất dinh dưỡng theo từng đối tượng phục vụ.
Thực đơn phải trên cơ sở tiền ăn và định lượng lương thực thực phẩm được
quy định. Tiền ăn của đơn vị thực hiện thống nhất một mức là: 37.000
đồng/người/ngày với cơ cấu sáng - trưa - chiều: 7.400 đồng - 14.800 đồng - 14.800
đồng (2-4-4).
Thực đơn phải phù hợp với thời tiết, khí hậu từng mùa.
Thực đơn phải phù hợp với khẩu vị người ăn mỗi địa phương, lứa tuổi, vùng
miền dân tộc.
Thực đơn phải phù hợp với đặc điểm, tính chất các loại bữa ăn (bữa phụ,
chính, ăn thường xuyên, lễ tết
Thực đơn phải phù hợp với khả năng bảo đảm lương thực thực phẩm và
trang thiết bị dụng cụ cấp dưỡng.
Thực đơn phải phù hợp với trình độ phục vụ, tay nghề của nhân viên nấu ăn
và phục vụ trong nhà ăn, nhà bếp.
Căn cứ vào yêu cầu trên thực đơn của đơn vị được xây dựng trong một tuần
như sau:
Ngày Sáng Trưa Chiều
Thứ hai Cơm
Thịt đậu sốt
Canh bắp cải
Rau muống luộc
Cá nục kho
Thịt rang hành
Nem rán

Thịt luộc
Lạc rang muối
Canh dưa cá
Thứ năm Cơm
Trứng sốt cà
chua
Canh cải cúc
Rau cải luộc
Cá biển rán
Thịt rang hành
Trứng đúc thịt
Canh cải thịt
Rau muốn luộc
Tôm rang
Thịt nạc rim
Nem rán
Canh nước rau
Thứ sáu Cơm
Thịt đậu sốt cà
chua
Canh rau cải
Su su xào
Thịt luộc
Cá kho riềng
Đậu rán
Canh dưa cá
Bắp cải luộc
Trứng ốp nếp
Thịt rang hành
Cà chua nhồi thịt

định lượng theo đúng quy định, không xảy ra trường hợp thừa thiếu hay thất thoát
lãng phí, không ngừng nâng cao chất lượng bữa ăn cho bộ đội.
Thời gian đóng cửa, mở cửa nhà ăn thực hiện thống nhất theo quy định của
quân đội, cơ bản buổi trưa ăn tập trung vào một khoảng thời gian nhất định, còn
buổi chiều do đã hết giờ làm việc nên quy định thời gian ăn có nới lỏng hơn. Thời
gian làm việc của nhân viên thông thường bắt đầu từ 7h30 hàng ngày, các đồng chí
trực kết thúc làm việc khi bộ đội ăn xong và sau khi đã dọn dẹp xong. Buổi trưa ăn
từ 11h30 - 12h00, buổi chiều từ 17h00 - 18h30. Các buổi liên hoan, tiếp khách
theo kế hoạch riêng.
III. Phân tích - So sánh thực tế sản xuất chế biến tại đơn vị và những bài
học được rút ra:
1. Tổ chức lao động:
Tổ chức lao động tại cơ sở thực tập tại nhà ăn quân đội luôn được xây dựng
theo hướng chính quy, vì vậy việc tổ chức lao động đã hợp lý, tuy nhiên cần nghiên
cứu phân công, phân ca cho phù hợp với đặc điểm đơn vị và đặc điểm, trình độ đội
ngũ nhân viên.
Do trình độ lao động tại cơ sở không đồng đều, một số người được đào tạo
có chuyên môn, còn lại phần lớn chưa được đào tạo, cho nên trình độ chuyên môn
chưa đồng đều, cần tích cực thực hiện công tác huấn luyện, đào tạo để nâng cao
trình độ tay nghề.
Nội quy, quy định được xây dựng trên cơ sở Điều lệnh, Điều lệ và kỷ luật
của Quân đội cho nên rất chặt chẽ, đòi hỏi mọi người phải có tinh thần trách nhiệm
cao thì mới thực hiện được.
2. Tổ chức sản xuất:
21

Công tác tổ chức sản xuất tại đơn vị đạt chất lượng tốt, luôn được cấp trên và
bộ đội ghi nhận, đánh giá cao.
Các trang thiết bị trong nhà ăn, nhà bếp cơ bản đầy đủ, có một số trang thiết
bị hiện đại, phục vụ tốt công tác tại bếp.

Chúng tôi xin giới thiệu món thịt thỏ nấu theo phong cách Tứ
Xuyên. Món ăn Tứ Xuyên không thể thiếu ớt và hạt tiêu, hương vị nồng đậm
gồm đủ: cay, mặn, ngọt, chua, đắng, thơm.
Nguyên liệu
23

- 3, 4 cái đùi thỏ, 3 muỗng canh sốt tương ngọt, 200g hạt tiêu, 1 gói bột
ngũ vị hương, 2 muỗng canh nước tương, hạt nêm.
Cách làm
Đùi thỏ rửa sạch, ướp với hỗn hợp gia vị: sốt tương ngọt, hạt tiêu,
ngũ vị hương và nước tương, hạt nêm. Cho vào tủ lạnh 4-5 tiếng để thịt thấm
gia vị.
Hầm đùi thỏ cho đến khi chín mềm và nước hầm rút xuống, vớt ra để
ráo.
Đặt đùi thỏ lên bếp than hoặc lò nướng, nướng khoảng 15-20 phút.
Cho bột năng vào phần nước hầm để nước sánh lại, dùng để chấm
đùi thỏ.
Bò chiên Thái Lan
Thịt bò chiên là 1 món ăn tương đối phổ biến tại Thái Lan, đặc biệt
là ở những vùng giáp danh biên giới với Lào. Thịt bò ở những vùng này
thường tương đối mềm và có độ ngọt cao
1. Nguyên liệu: (1 đĩa)
- Thịt thăn bò 250 g
- Trứng vịt 1 quả
- Bột cà mỳ 100 g
- Muối 5g
- Hạt tiêu 2g
- Mì chính 5g
24


2.3.Chế biến
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status