ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TÚ HUY
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN CÂY CAM ƢU TÚ
TẠI HUYỆN HÀM YÊN - TỈNH TUYÊN QUANG. Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
LUẬN VĂN
THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS: ĐÀO THANH VÂN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Tôi nhận được sự chỉ dẫn
tận tình của Thầy: PGS.TS Đào Thanh Vân - Phó trưởng khoa Nông học
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên về phương pháp nghiên cứu, thu
thập số liệu và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn và tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo: PGS.TS Đào Thanh Vân đã giúp đỡ, hướng dẫn và động
viên để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Khoa Sau đại học, Khoa Nông
học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện trong quá
trình học tập và nghiên cứu. Trung tâm cây ăn quả và các UBND các xã có
cây cam ưu tú đã cung cấp số liệu của huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang.
Trường Trung học Kinh tế Kỹ thuật Hà Giang đã tạo điều kiện thuận lợi
trong suất quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Xin trân thành cảm ơn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Tú Huy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU: 01
1. Tính cấp thiết của để tài: 01
3.3.1. Kết quả điều tra tuyển chọn cây cam ưu tú 56
3.3.1.1. Nguồn gốc, vị trí, đất đai của cây cam được tuyển chọn: 57
3.3.1.2. Đặc điểm hình thái của các cây cam được tuyển chọn: 58
3.3.1.3. Số quả và năng suất quả ở các cây được tuyển chọn: 60
3.3.1.4. Đặc điểm về kích thước, màu sắc và tỷ lệ ăn được của quả:…… 62
3.3.1.5. Đặc điểm quả của các cây cam tuyển chọn:………………………….63
3.3.1.6. Một số chỉ tiêu lý tính quả của các cây cam được tuyển chọn ……65
3.3.1.7. Một số chỉ tiêu sinh hoá quả của các cây tuyển chọn………. .67
3.3.1.8. Tình hình sâu, bệnh hại đối với các cây ưu tú được tuyển chọn…69
3.3.2. Tổng hợp kết quả tuyển chọn cây cam ưu tú ……………… 71
Chƣơng 4:
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ: 75
Kết luận: 75
Đề nghị: … 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 77 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
STT
Tên bảng
Kết quả phân tích các nguyên tố vi lượng trong 3 mẫu đất
trồng cam chu kỳ 1 và 3 mẫu đất trồng cam chu kì 2
51
3.5
Diện tích cây cam của huyện Hàm Yên (3 năm 2005,2006,2007)
53
3.6
Diện tích 9 xã vùng cam của huyện năm 2007
55
3.7
Số lượng cây cam Hàm Yên bình tuyển qua các năm
56
3.8
Nguồn gốc, vị trí, đất đai của các cây cam được tuyển chọn
57
3.9
Đặc điểm hình thái tán cây cam được tuyển chọn
59
3.10
Số quả, năng suất/cây được tuyển chọn qua các năm.
61
3.11
Đặc điểm về kích thước, màu sắc và tỷ lệ ăn được của quả
62
3.12
Đặc điểm quả của các cây được tuyển chọn
64
3.13
Một số chỉ tiêu lý tính của quả/ các cây cam được tuyển chọn
66
trưởng khi có nhiệt độ nhỏ hơn 10
0
C và lớn hơn 40
0
C, cây bị hại khi nhiệt độ
-5
0
C và nhiệt độ lớn hơn 45
0
C.
Đối với Việt Nam cây cam sành cũng có thể trồng được khắp nơi trên
cả nước trong đó có một số nơi nổi tiếng với cây cam như: cam sành Bắc
Quang (Hà Giang), cam sành Bố Hạ (Bắc Giang), cam sành Hàm Yên (Tuyên
Quang), cam sành đồng bằng sông Cửu Long… do vậy, cây cam sành là một
trong những loại cây ăn quả được nhiều người tiêu dùng trong nước cũng như
trên thế giới rất ưa chuộng bởi nó có hương vị thơm ngon có giá trị dinh
dưỡng cao, bảo quản được lâu trong quá trình sử dụng. Nhưng bên cạnh đó
cây cam sành đang dần bị mất đi diện tích trồng trọt của nó bởi một số các
yếu tố điều kiện không phù hợp như đất đai, dinh dưỡng, sâu bệnh hại… đây
cũng là những thách thức đối với các nhà quản lý, nhà khoa học cần có biện
pháp nghiên cứu, phối hợp nhằm khôi phục những diện tích đã bị thoái hoá và
mở rộng diện tích trồng cam trên các địa bàn đã nổi tiếng với cây cam sành.
Hàm Yên là huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, có điều
kiện về đất đai, khí hậu phù hợp cho sự phát triển của cây cam sành. Hiện nay
toàn huyện có 2.365 ha diện tích đất trồng cam, trong đó có 1.776 ha cam cho
thu hoạch. Nhiều hộ nông dân có diện tích đất trồng cam trên 05 ha; nhiều hộ
có thu nhập từ 100 đến 150 triệu đồng/năm. Tuy nhiên hiện nay quy mô các
trang trại cam ở Hàm Yên còn nhỏ, phát triển chưa có chiến lược rõ ràng,
người dân vẫn phải tự tìm đầu ra cho sản phẩm của mình là chính. Các giống
cam chất lượng cao chưa được trồng đại trà, chưa thực sự chú trọng đến chất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thông qua quá trình điều tra, tuyển chọn loại trừ được các cây bị
nhiễm sâu bệnh, năng suất, phẩm chất kém từ đó đánh giá được các cây cam
ưu tú có triển vọng có đặc tính gen di truyền quý của địa phương, là cơ sở để
bảo tồn tính đa dạng sinh học và sử dụng có hiệu quả các nguồn gen quý đó
nhằm phục vụ cho công tác chọn tạo giống tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu, tuyển chọn được các cây ưu tú là cơ sở để nhân
giống phục vụ cho sản xuất, đảm bảo cho việc mở rộng vùng cam chất lượng
cao (cam chu kỳ 2), có tính đặc thù riêng của vùng góp phần phát triển kinh tế
nông nghiệp nông thôn của huyện Hàm Yên được bền vững đặc biệt là nghề
trồng cam nói riêng và nghề trồng cây ăn quả nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Theo Angler và Tanaka cho rằng cây cam có nguồn gốc ở Ấn Độ và
Miến Điện. Các tác giả Trung Quốc thì cho rằng phần lớn các loài hiện trồng
ở Trung Quốc đều là nguyên sản (trừ bưởi, song cũng đã được nhập vào
Trung Quốc cách đây 2000 năm) [28].
Ở Trung Quốc nghề trồng cam quýt đã có cách đây 3.000-4.000 năm,
từ thời Hán đã khá phát triển sang thời Tống đã có cuốn “Quýt lục” của Hàn
Ngạn Trực, ghi chép tỉ mỷ về phân loại, cách trồng và chế biến [28].
Việt Nam nằm trong khu vực này cho nên cũng có nhiều giống cam
quýt có nguồn gốc ở nước ta. Trong tập đoàn cam, quýt ta thấy có nhiều cây
trồng hoang dại (cây chỉ xác, cây gai xọng, cây tắt…) là những loài tổ tiên của
cây cam, quýt [28].
1.2.2. Hệ thống phân loại
Cây có múi thuộc nhiều chủng loại khác nhau, ngoài chi Citrus chỉ có 2
chi khác đã được trồng là chi Poncirus (cam ba lá) và chi Fortunnella (quất)
do đó công tác phân loại có gặp nhiều khó khăn nhất là phân loại nông
nghiệp. Có nhiều tác giả phân loại trên thế giới như: Swingle, Hodgson,
Bailey, Tanaka, Scora, Reece
Qua bảng phân loại cam quýt cho thấy cam quýt hiện nay có mối quan
hệ họ hàng với tổ tiên của chúng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Họ Họ phụ Chi Chi phụ Giống Giống phụ Loài Thứ
(Family) (Subfamilias) (Tribus) (Subtribus) (Generos) (Subgeneros) (Especies) (Variete)
Rutoideea
C.macroptera
C.hystri
SƠ ĐỒ HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CAM, QUÝT (Swingle 1948) [28].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Chi Poncirus (cam ba lá): không trồng ở Việt Nam mà chỉ mới được
nhập vào để dùng làm gốc ghép vì có nhiều ưu điểm: chống được rét, chống
được bệnh chảy gôm, chịu được bệnh tristeza, chịu đất ẩm nhưng không chịu
được đất hạn, đất mặn nhiều vôi [18].
- Chi Fortunellta (quất): trồng chủ yếu ở Nhật Bản, Trung Quốc và
Việt Nam. Giống quả nhỏ, màu vàng như cam nhưng ít múi (3-7) múi, mỗi
múi chỉ có 1-2 hạt. Quả chua nên không dùng ăn tươi mà chủ yếu trồng làm
cảnh hoặc lấy quả làm gia vị [18].
- Chi Citrus: gồm rất nhiều nhóm và nhiều giống
+ Giống chanh yên và phật thủ (Citrus medica): được thuần dưỡng rất
sớm ở Trung Quốc, Ấn Độ, bán đảo Đông Dương.
Chanh có 2 loại chính là chanh vỏ mỏng và chanh núm.
Chanh núm (Citrus limon): gốc ở miền Trung và miền Tây Bắc Ấn
Độ, không ưa các khí hậu nhiệt đới ẩm mà thích những nơi khí hậu không quá
nóng nhưng không quá lạnh và hơi khô ít trồng ở Việt Nam, giá trị kinh tế thấp.
Chanh vỏ mỏng (Citrus aurantifolia): nguồn gốc ở những vùng nóng
và mưa nhiều. Cây nhỏ, nhiều cành, nhiều gai, cuống lá gần như không có eo
lá, quả thường nhỏ, vỏ mỏng hình trái xoan, nhiều nước rất chua. Khi chín vỏ
quả còn xanh hoặc chỉ hơi vàng [18].
Cam chua (Citrus aurantium): trồng rất giống cam về hình dạng nhưng
lá có cánh to hơn, quả không tròn và nhẵn như cam. Nước chua, vỏ và múi
hơi đắng như bưởi. Trước đây, cam chua rất hay được trồng dùng làm gốc
ghép cho cây cam ngọt vì tăng sức chống rét, chống ẩm, úng, chống bệnh
chảy gôm do phytophtora gây ra nhưng lại mẫn cảm với bệnh tristeza nên
không được dùng nữa [18].
trung bình đạt 200-220g, hình cầu, mọng nước, vỏ quả mỏng, ít hạt, ngọt đậm
và thơm. Cây ghép sau 3 năm cho quả, sau 4 năm có thể đưa vào kinh doanh
khai thác. Cây chiết hoặc cây từ giâm cành sau 3 năm cho quả. Giống cam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Sông Con cho năng suất trung bình, có khả năng chống chịu được một số sâu
bệnh và có tính thích ứng rộng nên đã được trồng ở nhiều vùng như trung du,
đồi núi, ven biển và vùng đồng bằng. Cam Sông Con được trồng phổ biến
khắp các vùng trong cả nước [17].
1.3.3. Giống cam Hamlin
Có nguồn gốc từ Mỹ, được nhập vào nước ta qua cộng hòa Cuba trong
những năm 80, lá hình ô van, xanh không đậm, cành thưa, ít gai, tán cây hình
ô van, hay hình cầu. Quả có dạng hình cầu, vỏ mỏng, khi chín có màu đỏ da
cam, thịt quả mọng nước, ít xơ bã, ít hạt, hương vị thơm ngon. Cây 9 năm tuổi
cao 4-4,5m có đường kính tán 3-4m. Giống cam này thuộc loại chín sớm, cây
có năng suất cao nhưng khối lượng quả bình quân nhỏ. Cam Hamlin trồng ở
vùng đồng bằng hay bị nhiễm bệnh loét, chảy gôm. Đất ven biển rất thích hợp
cho loại cam này, đây là một trong nhiều giống cam chuẩn của thế giới [17].
1.3.4. Giống cam Valencia
Có nguồn gốc từ Mỹ, cây phân cành ngắn, tán hình cầu hay ô van. Lá
gồ ghề, eo lá lớn, có màu xanh đậm, phản quang, cành ít gai, quả to, có khối
lượng trung bình đạt 200-250g, hình ô van, vỏ hơi dày, mọng nước, ít hạt, ít
xơ bã, giòn. Cây 9 năm tuổi có chiều cao 4-5m, đường kính tán 3,5-4m.
Giống cam này là giống chín muộn, cho năng suất cao. Có thể trồng giống
cam này ở các vùng miền núi, đồng bằng và đồng bằng ven biển. Ở vùng
đồng bằng sông Hồng, giống này hay bị nhiễm bệnh chảy gôm [17].
1.3.5. Giống cam Vân Du
Được nhập nội từ những năm của thập kỷ 40 thế kỷ XX. Đây là một
trong các giống cam chủ lực của nước ta. Cây phân cành khỏe, tán hình trụ,
cành dày, có gai, lá hơi thuôn, mành xanh đậm, eo lá hơi to, quả hình tròn hay
ô van, vỏ dày, mọng nước, giòn, ngọt, nhiều hạt. Giống cam này cho năng
nhiều bã, nhiều hạt, ruột và nước quả có màu đỏ đẹp. Giống này đòi hỏi kỹ
thuật thâm canh cao, tán nhỏ có thể trồng dầy [17].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.3.9. Giống cam Naven
Còn gọi là cam rốn: nguyên sản ở Califocnia (Mỹ), được trồng ở Việt
Nam từ những năm 1937 hiện còn trồng dải rác ở một số vùng ở nước ta.
Đặc điểm: lá và tán cây tương tự như cam Sông Con, quả trung bình
230g/quả, có thể đạt 290g/quả, đường kính xấp xỉ 7,6cm, khi chín vỏ quả màu
vàng xám, có 11-12 múi, thịt qủa màu vàng đậm, không hạt, vị ngọt đậm
thơm, năng suất kém hơn cam Vân Du [17].
1.3.10. Giống cam sành Đồng bằng sông Cửu Long
Được trồng ở nhiều tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Cây cho quả
sớm sau 2 năm trồng, thời gian thu hoạch quả dải rác quanh năm thường tập
trung nhất vào tháng 8-12. Thời gian từ ra hoa đến khi thu hoạch khoảng 8-9
tháng, năng suất trung bình trên 30kg/cây/năm (cây 5 năm tuổi). Quả dạng
hình cầu hơi dẹp, vỏ có màu xanh đến xanh vàng khi chín và sần sùi không
đẹp, khối lượng trung bình 235-245g, vỏ dày 3-5mm, tép có màu vàng cam
đậm nhiều nước, vị ngọt chua (brix 8-10%), mùi rất thơm, thường có khá
nhiều hạt (8-16 hạt/quả) [17].
1.4. Một số yêu cầu về sinh thái và dinh dƣỡng của cây cam
1.4.1. Yêu cầu về sinh thái
+ Vũ Công Hậu (1996) [16] cho rằng:
* Tuổi thọ của các cây có múi thường cao, đặc biệt ở những nơi khí hậu
ôn hoà, đất tốt nhưng có độ dốc thoát nước tốt. Ở Việt Nam, các tỉnh miền núi
không hiếm những cây bưởi sống tới 40-50 năm. Ở các vườn cam vùng á
nhiệt đới, hoặc nhiệt đới nhưng trồng đúng kỹ thuật, chọn địa điểm thích hợp,
tuổi thọ vườn cam là 30-40 năm, tối đa tới 50-60 năm.
+ VIR. Catalog (1982) [35] cho rằng: cam và quýt có yêu cầu khí hậu
khác nhau nhiều. Cam mọc tốt hơn ở vùng á nhiệt đới, khí hậu khô mùa hè
ẩm, mùa đông ấm và mưa nhiều.
nhiều ngày cây cam sẽ ngừng sinh trưởng.
+ Nghiên cứu của Hodgson R.W (1937) [33] cho rằng: khi nhiệt độ
xuống thấp -2
0
C cây vẫn sống được từ 2-7 ngày, ở nhiệt độ -6
0
C cây cam mới
chết hẳn.
Nhìn chung những vùng có nhiệt độ bình quân hàng năm ≥ 17
0
C đều có
thể trồng được cây cam.
Ở Việt Nam trừ một số vùng có sương muối kéo dài, còn các vùng
khác đều có thể phù hợp và trồng được cây cam.
- Ẩm độ và nước: cây cam là cây ưa độ ẩm trung bình, nhưng nước cần
trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển của chúng, cần nhiều nhất trong
thời kỳ lúc hạt nảy mầm và lúc ra hoa kết quả, tối thiểu phải đạt
1270mm/năm. Do đó vườn trồng cam đều phải chú ý tới hệ thống tưới tiêu
phục vụ tưới cho cây nhất là trong vụ khô.
+ A. Haury và cộng sự (1978) [29] cho rằng: trong điều kiện rất ẩm,
với lượng mưa hàng năm cao hơn 4.000mm, các giống Osceola, Dancy cho
mã quả đẹp, thịt quả mềm nhiều nước, vị ngọt. Giống Tagelo mineola vị ngon
nhưng vách múi khá dai. Giống Orlando thịt quả mịn, mềm, rất nhiều nước,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nhưng ít thơm. Giống Clementin vị ngọt nhưng mã quả xấu. Quýt King thịt
quả mềm nhiều nước, thơm nhưng nhiều hạt, vỏ xanh .
+ Việt Nam có tổng lượng mưa phù hợp với cây cam tuy nhiên do phân
bố trong năm không đều, nên mùa khô vẫn cần tưới nước cho cây. Ngược lại
cây cam không chịu được ngập úng (khi ngập úng rễ bị thối, lá rụng và cây sẽ
chết).
+ Đạm là nguyên tố dinh dưỡng không thể thiếu được trong quá trình
sinh trưởng của cây cam có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của
quả. Đạm xúc tiến sự phát triển của cành, lá và hình thành các đợt lộc mới
trong năm. Đủ đạm cây sinh trưởng khoẻ nhiều lộc, lá xanh, quang hợp mạnh,
ra hoa nhiều, tỉ lệ đậu quả cao, quả to nhiều nước, năng suất ổn định [13].
- Thiều đạm làm lá cam bị mất diệp lục lá ngả vàng, cành quả nhỏ và
mảnh lá rụng và chết khô dẫn tới làm giảm năng suất và phẩm chất quả [13].
+ Lân: rất cần cho cho cây cam trong quá trình phát triển của bộ rễ và
trong gian đoạn phân hoá mầm hoa. Lân có ảnh hưởng đến phẩm chất quả rõ
rệt: làm giảm lượng axit trong quả, cho tỷ lệ đường/axit cao; làm cho hương
vị của quả thơm hơn, lõi quả chặt hơn màu sắc của quả đẹp hơn [13].
- Thiếu lân rễ không phát triển được, cành lá sinh trưởng kém, lá rụng
nhiều, năng suất và phẩm chất giảm.
+ Kali: có nhiều trong quả, lộc non. Cây được cung cấp đủ kali cho quả
to, ngọt, chóng chín, chịu được cất giữ khi vận chuyển. Nhưng thừa kali gây
hiện tượng hấp thu canxi, magie kém làm cây sinh trưởng về cành lá kém, đốt
ngắn, chậm lớn, quả tuy to những mã quả xấu, vỏ dày, thịt quả thô [13].
- Thiếu kali lá nhỏ và không bám chặt vào cành, thân có hiện tượng
chảy gôm, quả dễ rụng, cây kém chịu lạnh, sản lượng giảm
+ Canxi: thiếu canxi rễ phát triển kém, khả năng hút dinh dưỡng giảm,
lá vàng rụng, hoạt động của vi sinh vật ở vùng rễ kém làm cho việc hút dinh
dưỡng ở cây kém cho nên bón vôi làm tăng độ pH cũng như cung cấp canxi
cho cam quýt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Magiê, sắt: thiếu magiê lá chuyển màu vàng rụng nhiều cây dễ bị
bệnh, thiếu Fe cây chịu rét kém
+ Các nguyên tố vi lượng: đồng, mo, bo, kẽm, manggan… cũng có ảnh
hưởng rõ rệt đến cam quýt, tuỳ từng loại đất và mức độ thiếu hụt mà biểu hiện
các ảnh hưởng này nhiều hay ít [13].
1.5. Tình hình sản xuất cam trên thế giới và trong nƣớc
581.184
2385.966
38.777
8.112.274
2007
1.395.875
3.859.604
565.480
2.461.984
39.662
8.322.605
Năng
suất
(tạ/ha)
2005
88,4
117,8
183,6
187,7
208,4
157,1
2006
90,5
116,0
193,4
194,9
195,5
158,0
2007
90,5
Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics – năm 2008 [32].
Năm 2005 diện tích cam quýt của toàn thế giới là 7.850.535 ha, năng
suất trung bình đạt 157,1 tạ/ha, sản lượng đạt 109.817.920 tấn. Đến năm 2007
diện tích là 8.322.605 ha và sản lượng là 115.650.545 tấn đều tăng, có năng
suất hơi giảm đạt 156,5 tạ/ha.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2007, châu Á có tổng diện tích
lớn nhất sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ
nhất là châu Đại Dương 39.662 ha
- Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa,
Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành
muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu
cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây
phát triển rất mạnh. Về năng suất được ổn định từ năm 2005 đến năm 2007 năng
suất trung bình đạt trong khoảng 187,7 tạ/ha đến 194.9 tạ/ha. Tuy nhiên vùng cam
châu Đại Dương có diện tích nhỏ nhất nhưng năng suất trung bình lại rất cao năm
2005 năng suất đạt 208,4 tạ/ha, năm 2006 đạt 195,5 tạ/ha, năm 2007 đạt
195,9tạ/ha.
Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc,
Ấn Độ, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất
năm 2005 là 3.354.056 ha, chiếm 42,7%, năm 2006 là 3.710.888 ha, chiếm
45,7%, năm 2007 là 3.859.604 ha, chiếm 46,4% tổng diện tích của toàn thế
giới. Tuy nhiên năng suất và sản lượng đạt thấp hơn vùng châu Mỹ. Năm
2005 sản lượng của vùng châu Á đạt 39.534.075 tấn, chiếm 35,9%, năm 2006
đạt 43.072.363 tấn, chiếm 37,7%, năm 2007 đạt 44.873.491 tấn chiếm 38,8%
tổng sản lượng của toàn thế giới. Năm 2005 sản lượng của vùng châu Mỹ đạt
46.811.134 tấn, chiếm 42,7%, năm 2006 đạt 46.507.942 tấn, chiếm 40,7%,
năm 2007 đạt 46.522.167 tấn chiếm 40,2% tổng sản lượng của toàn thế giới.
Vùng sản xuất cam, quýt châu Phi có năng suất trung bình đạt thấp nhất.
- Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của cam quýt, hầu hết
Ấn Độ
421.500
81,4
440.000
88,6
3
Nhật Bản
4.280
147,1
4.350
149,4
4
Inđônêxia
72.390
231.3
72.400
231,2
5
Philippin
1.936
27,0
2.000
30,0
6
Thái Lan
20.000
175,0
20.000
175,0
nay đã già cỗi, sâu bệnh rất nặng. Vì vậy, đã chuyển sang trồng các loại cây
khác hoặc trồng lại. Tuy nhiên vào thời điểm đó, ở miền Nam, diện tích và
sản lượng cam quýt lại tăng lên nhất là khu vực tư nhân, các tỉnh có diện tích
cam nhiều như Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp [19].
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất cam quýt giai đoạn 2001-2007
ST
T
Tình hình sản xuất
cam
Năm
2001
2004
2005
2006
2007
1
Diện tích (ha)
73.600
82.700
87.200
84.800
86.700
2
Diện tích cho thu hoạch (ha)
51.000
55.500
60.100
62.300
64.600
3
cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam
đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều
giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc
Sơn, cam sành Hàm Yên với tổng diện tích của cả nước năm 2007 là
86.700ha, phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng
Đông Bắc, vùng Tây Bắc, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông
Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Các vùng trồng cam có diện tích lớn là
Đồng bằng sông Cửu Long 47.900 ha, vùng Đông Bắc 13.100 ha và vùng Bắc
Trung bộ 8.600 ha.