PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO QUẬN CẦU GIẤY
TRƯỜNG MẦM NON HOẠ MI
0o0
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: Một số biện pháp khi chăm sóc trẻ thừa cân – béo phì
lứa tuổi 24-36 tháng.
Người viết : Trần Thị Bích Hạnh
Đơn vị : Trường MN Hoạ Mi – Quận Cầu Giấy
Tháng 02 – 2008
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi người chúng ta ngày nay đều
có cuộc sống đầy đủ sung túc hơn. Chính vì vậy trẻ em ngày nay được hưởng sự
chăm sóc đặc biệt của gia đình và toàn xã hội . nhiều người cho rằng có điều kiện
cho con ăn nhiều là cái tốt con mình càng mập mạp, càng bụ bẫm thì càng tốt nên
đến khi cha mẹ phát hiện con mình thừa cân quá nhiều thì đã muộn. Trong lúc mức
độ báo động và cần thiết quan tâm của xã hội đối với trẻ thừa cân béo phì hiện nay
được ưu tiên hàng đầu, song hành với trẻ suy dinh dưỡng thì “ các trường hiện
đang phải tự thực hiện chế độ chăm sóc trẻ béo phì theo cách riêng của mình chứ
không có một mức chuẩn chung”. Bên cạnh đó các trường phổ thông đều quan
niệm nhiệm vụ chính là dạy học, chuyện ăn uống là phụ chỉ cần đủ chất , đủ lượng
calo theo độ tuổi là được. Còn tại các trường mầm non vấn đề dinh dưỡng cho học
sinh là mục tiêu quan tâm đầu tiên nhưng tình hình vẫn không khá hơn là bao, vì
tại đây các cháu được ăn từ 8000đ đến 10.000đ/ngày/3bữa. Chế độ này được áp
dụng đại trà cho tất cả cá học sinh, vì thế số trẻ thừ cân có chỉ số ngày càng cao.
Đây là một vấn đề cần được nhiều người quan tâm trong xã hội. Bản thân tôi là
một giáo viên mầm non lâu năm tôi luôn trăn trở trước thực trạng trẻ em thừa cân
béo phì hiện nay và từ đó tìm mọi cách chăm sóc trẻ có một kết quả tốt nhất. Tôi
luôn phối hợp các nhóm thực phẩm một cách hợp lý với độ tuổi kết hợp tạo cho trẻ
có thói quen tốt trong ăn uống. Có như vậy trẻ mới phát triển toàn diện cân đối
giữa chiều cao/cân nặng, cân nặng/tháng tuổi Chính vì vậy từ việc làm hàng ngày
tôi đã tìm ra: “Một số biện pháp chăm sóc trẻ thừa cân của lớp mình trong năm học
này không có nghĩa là ta phải đảm bảo nhu cầu riêng của trẻ. Trái lại với những trẻ
này tôi phải giúp trẻ ăn uống điều độ hơn mà vẫn đảm bảo nhu cầu chung về dinh
dưỡng, năng lượng mà trẻ vẫn cảm thấy thích.
* Biện pháp 1: Giảm năng lượng khẩu phần ăn từng bước một, mõi tuần giảm
kkhoảng 300 calo so với khẩu phần ăn trước đó cho đến khi đạt năng lượng tương
ứng.
Đối với trẻ nhỏ năng lượng calo mồi ngày của trẻ được tương ứng giữa tỷ lệ
của các chất như: P 10-15%, L 12-13%, G 71-72%. Có nhiều hình thức cho trẻ
giảm bớt năng lượng nhưng vẫn đảm bảo cho trẻ được no, khoẻ mạnh và tích cực
tham gia các họt động trong ngày đó là việc kết hợp nhiều loại thức ăn trong ngày
thay thế cho thực phẩm chính.
Ví dụ 1: Theo chế độ nhà trường 9h15’ là được uống sữa, toi đã không báo
số trẻ thừa cân béo phì cho KT nhà ăn biết và tăng thêm lượng sữa cho trẻ đó ở
bữa này
Ví dụ 2: Đến giờ ăn bữa chính 10h30 phút tôi lại tiếp tục giảm lượng tinh
bột cho trẻ (cơm) thay vào đó là tăng cường cho trẻ ăn rau củ. Như vậy với lượng
sữa trẻ uống thêm và lượng cơm giảm đi tôi thấy lượng calo đã giảm được một
phần nhưng sức khoẻ của trẻ vẫn được đảm bảo.
Với hình thức này tôi cũng gặp mộy số khó khăn vì thực tế nhữnh trẻ đó rất thích
ăn cơm, trẻ muốn ăn thêm nữa nhưng với lời giải thích nhẹ nhàng dần dần trẻ đã
hiểu ra và nghe lời cô giáo ăn nhiều rau củ cho má hồng môi xinh, da tráng như thế
bé trông lại càng đáng yêu hơn.
* Biện pháp 2: Ăn ít chất béo, chất bột.
- Năng lượng (calo) đưa vào cơ thể qua thức ăn, thức uốngđược hấp thu và
được oxy hoá để tạo thành nhiệt lượng.
- Năng lượng ăn quá nhu cầu sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ. chế độ ăn giàu
chất béo hoặc đạm, nhiệt độ cao có liên quan chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ béo phì.
Các thức ăn giàu chất béo thường dễ ăn nên người ta ăn quá thừa mà không biết. vì
vậy khẩu phần nhiều mỡ dư số lượng nhỏ cũng có thể gây thừa calo nên chỉ ăn
nhiều mỡ thịt mà ăn nhiều chất bột đường, đò ngọt đều có thể gây béo.
Có như vậy việc thực hiện giúp trẻ hạn chế tăng cân cho trẻ mới có hiệu quả cao.
*Biện pháp 4: Tăng cường ăn rau và hoa quả.
Đúng như vậy rau quả là một loại thức ăn vô cùng quan trọng nó góp phần
tăng sức đề kháng cho cơ thể, cung cấp một số vitamin cần thiết giúp cơ thể hấp
thu được nhiều loại thức ăn khác nhau.
Tuy nhiên để rau quả thực sự có tác dụngcho cơ thể ta cần phải chú ý đến
cách chế biến và thời gian ăn các loại quả.
Ví dụ 1: Khi ta chế biến các loại rau củ cần phải đảm bảo còn đủ lượng
vitamin cần thiết cho đến lúc trẻ ăn.
Ví dụ 2: Ta không xào giá đỗ với gan lợn vì sẽ làm mất hết chất tươi của giá
và các chất bổ trong gan lợn cũng bị phân huỷ nhiều.
- Khi chọn thực phẩm phải tươi ngon, không có chất kích thích, chất xúc tác,
rau ngon đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tất cả các vấn dề trên đều đã được đảm bảo tốt vì Trường mầm non Hoạ Mi
nhiều năm nay đạt danh hiệu tổ nuôi xuất sắc và đã ký hợp đồng với công ty cung
cấp thực phẩm sạch an toàn có uy tín của thành phố.
Ví dụ 3: Khi ăn hoa quả nên ăn trước bữa ăn thì hoa quả có tác dụng trực
tiếp trong quá trình tiêu hoá thức ăn sau naỳ của cơ thể.
* Biện pháp 5: Bổ sung gia vị cho trẻ như muối, mì chính 6g/ngày nếu trẻ tăng
huyết áp chỉ dùng 4g/ngày.
Gia vị là nguồn thực phẩm không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng
ngày của chúng ta. Một bữa ăn ngon là ta biết kết hợp các loại gia vị vào thức ăn
cho phù hợp từ đó sẽ kích thích được các giác quan như khứu giác, vị giác, thị
giác và bữa ăn của ta trở nên hấp dẫn hơn. Nhưng đối với trẻ thừa cân béo phì thì
việc sử dụng gia vị lại là cả vấn đề quan trọng. Đa số trẻ thừa cân thường ăn mặn
hơn so với những trẻ khác nên khi chế biến thức ăn chỉ nên dừng lại ở mức độ
6gmuối, mì chính / 1 ngày là đủ.
Muốn biện pháp này có kết quả tôi đã kết hợp với nhiều đối tượng khác để
cùng nhau chăm sóc trẻ.
- Kết hợp với tổ nuôi: Nấu riêng thức ăn cho những trẻ thừa cân và béo phì.
10h30’: Thịt bò (lợn) hầm hạt sen, rau củ nấu xương, cơm tám.
15h00’: Cháo thị củ quả.
Thực đơn 3: 09h15’: Sữa 80ml/trẻ.
10h30’: Chả cá BASA + thịt, rau cải cúc nấu thịt bò, cơm tám.
15h00’: Xôi + thịt kho tầu.
Thực đơn 4: 09h15’: Sữa 80ml/trẻ.
10h30’: Trứng đúc thịt, Bắp cải nấu thịt, cơm tám.
15h00’: Cháo gà.
Thực đơn 5: 09h15’: Sữa 80ml/trẻ.
10h30’: Thịt sốt đậu, Canh rau nấu cua, cơm tám.
15h00’: Cháo thập cẩm.
Kết hợp với tổ nuôi: Chỉ có cô giáo thực hiện tốt thì vẫn chưa đủ mà tôi còn kết
hợp với các cô trong tổ nuôi để chế biến thức ăn sao cho đúng giờ là trẻ có cơm ăn
đối với lứa tuổi 24-36 tháng giờ uống sữa là 9h15’, ăn trưa 10h30’, ăn chiều là
15h00’.
ý kiến của tôi đưa ra được các cô bác trong tổ nuôi nhất trí luôn và tất cả các đồng
chí trong tổ phối hợp với nhau rất nhịp nhàng linh hoạt có hiệu quả cao để đảm bảo
chung yêu cầu của các cô giáo cũng như yêu cầu của nhà trường.
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
1. Kết quả thực hiện:
Qua một thời giandài kiên trì, tận tình kết hợp với một số biện pháp khoa
học trên mà tôi đã làm, một phần nào đó đã giảm được tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì
trong lớp giảm rõ ràng. Đầu năm lớp tôi có 3 cháu trong diện thừa cân béo phì đến
tháng 03/2008 đã không còn cháu nào. Đây là một kết quả đáng mừng cho cô và
trò lớp tôi. Điều đáng mừng hơn cả là sức khoẻ của trẻ đã đạt được mức chung của
lứa tuổi. Mẹ cháu Phương tâm sự: “ Thật cảm ơn các cô giáo, lần đầu tôi cứ nghĩ
con mình béo khoẻ thế này là tốt quá rồi chứ đâu có lường trước được một số bệnh
do béo phì gây nên. Nay nhờ các cô cháu không những có một thân hình khoẻ đẹp
mà cháu còn nhanh nhẹn hơn hứng thú tham gia vào các hoạt động chung với cô,
với lớp”. Đây là một thành công lớn của tôi cũng như của các cô giáo trong quá