LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết rằng nội dung của bản Luận văn này chưa được nộp cho bất
kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào, cũng như bất kỳ một chương trình đào
tạo cấp bằng nào khác.
Tôi cũng xin cam kết thêm rằng bản Luận văn này là nỗ lực của cá nhân tôi.
Các kết quả, phân tích, kết luận trong Luận văn này (ngoài những phần được trích
dẫn) đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi.
Học viên ký tên
Phạm Thị Hiền
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Kinh tế Phát triển đã giúp
đỡ và hướng dẫn tôi tận tình trong thời gian tôi học tập tại trường, đặc biệt tôi xin
cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo PGS.TS.Phạm Ngọc Linh - giáo viên trực
tiếp hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ tôi xây dựng và hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đơn vị trong Sở Tài chính, Sở Y tế thành phố
Hà Nội và toàn thể các bạn, các đồng nghiệp của tôi tại các công ty đã giúp đỡ tôi
trong việc cung cấp số liệu, tài liệu và góp ý cho tôi hoàn thành luận văn này.
Phạm Thị Hiền
Chuyên ngành Kinh tế Phát triển
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG, HÌNH 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
BHYT Bảo hiểm Y tế
BHXH Bảo hiểm xã hội
BN Bệnh Nhân
BV Bệnh viện
CBYT Cán bộ Y tế
mọi nguồn lực của sự phát triển. Để phát huy hết vai trò và ưu điểm của nguồn lực
này, việc chăm sóc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đối với con người là điều rất cần
thiết, trong đó, sức khoẻ của con người được ưu tiên hơn cả, bởi vì có sức khoẻ, con
người mới có thể học tập, nghiên cứu, lao động để tạo ra những sản phẩm có ích
phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Nhận rõ được tầm quan trọng của sức khoẻ và vai trò của ngành Y tế trong
việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ, hàng năm, Nhà nước đã dành một phần từ Ngân
sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế. Nhưng do Ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp,
với chủ trương xoá bỏ nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì chi Ngân
sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế cũng có những thay đổi theo hướng “Giảm dần
các khoản chi có tính bao biện từ Ngân sách Nhà nước, chi có trọng tâm trọng
điểm” nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là “Nâng cao tính
công bằng và hiệu quả trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc và bảo
vệ sức khoẻ của nhân dân” ( Trích văn kiện Đại hội Đảng IX )
Trong những năm qua, ngành Y tế Hà Nội đứng trước nhiều thử thách do
diễn biến phức tạp của thời tiết, bệnh dịch cũng như tình hình kinh tế xã hội, nhưng
cán bộ nhân viên ngành Y tế Hà Nội với tinh thần trách nhiệm, yêu ngành, yêu nghề
tận tụy với việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tiếp tục phát huy những thành quả đã
đạt được, không ngừng tăng cường công tác quản lý Nhà nước, đa dạng hoá các loại
hình phục vụ, đổi mới trang thiết bị, nâng cao kỹ thuật chuyên môn, đáp ứng kịp
thời nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao của nhân dân Thủ đô. Tuy nhiên
1
trong quá trình hoạt động, ngành Y tế Hà Nội còn có một số những tồn tại như :
Trang thiết bị hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành, nguồn cán
bộ có tay nghề chuyên môn cao còn thiếu nhiều, đặc biệt là cán bộ Dược. Phần
Ngân sách Nhà nước cho hoạt động y tế, trong quá trình phân bổ, quản lý và sử
dụng còn nhiều kẽ hở dẫn tới lãng phí và giảm hiệu quả. Những tồn tại trên đòi hỏi
phải có những biện pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước
cho hoạt động y tế.
đoạn hiện nay cho Y tế, góp phần vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả phát
triển lĩnh vực Y tế của Thủ Đô
Kết cấu của Luận văn: bao gồm 3 chương
Chương 1: Nguyên lý chung về quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế
Chương 2: Thực trạng quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế của Thành
phố Hà nội trong những năm gần đây
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi Ngân sách Nhà
nước cho Y tế của Thành Phố Hà nội
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO Y TẾ
1.1. Khái quát về chi Ngân sách Nhà nước
1.1.1. Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một bộ phận quan trọng của hệ thống tài
chính, là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của một quốc gia và là cơ sở vật chất cho
Nhà nước tồn tại, hoạt động cũng như thực hiện các chức năng của mình.
NSNN là dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian
nhất định thường là một năm. Như vậy, NSNN là một kế hoạch tài chính cơ bản của
Quốc gia, trong đó bao gồm kế hoạch thu, kế hoạch chi và được lập theo phương
pháp cân đối.
Theo luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam thì: “NSNN là toàn bộ các khoản
thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực
hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”.
Có thể tóm tắt một số đặc điểm chủ yếu của NSNN như sau:
Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực của Nhà
nước và phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước
tiến hành trên cơ sở luật định. Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa NSNN với các
khoản tài chính khác. Các khoản thu NSNN đều mang tính chất pháp lý, còn chi
NSNN mang tính chất cấp phát “không hoàn trả trực tiếp”. Do nhu cầu chi tiêu của
mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Nhà nước đã ban hành hệ thống pháp
nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất
định.
Như vậy có thể hiểu chi NSNN là các khoản chi tiêu của các cơ quan Nhà
nước, các đơn vị sử dụng Ngân sách để duy trì sự hoạt động của bộ máy Nhà nước
và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận. Quy mô, cơ
cấu chi NSNN như thế nào là tuỳ thuộc vào từng Nhà nước và mục tiêu phát triển
của quốc gia trong từng thời kỳ.
5
Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ
NSNN thể hiện:
Quá trình phân phối quỹ NSNN là quá trình hình thành các loại quỹ trước
khi đưa vào sử dụng. Số lượng các loại quỹ, tỷ trọng các loại quỹ trong tổng số là
tuỳ thuộc vào việc thực hiện các nhiệm vụ chức năng của Nhà nước trong từng thời
kỳ nhất định và khối lượng NSNN hàng năm.
Quá trình sử dụng quỹ NSNN là quá trình trực tiếp chi dùng các khoản tiền
cấp phát từ Ngân sách cho các nhu cầu phù hợp với mục đích hình thành các loại
quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Hiệu quả quỹ NSNN phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau như: sự lựa chọn đúng đắn các khoản chi, hiệu quả quản lý chi NSNN…
Việc phân biệt hai quá trình này trong chi tiêu NSNN có ý nghĩa quan trọng
trong quản lý NSNN. Vì mỗi giai đoạn có đối tượng quản lý, yêu cầu quản lý và
mục tiêu quản lý khác nhau.
Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN. Thu NSNN là nguồn vốn
đảm bảo nhu cầu chi NSNN. Ngược lại vốn NSNN chi cho mục tiêu tăng trưởng
kinh tế là điều kiện để phát triển và tăng nhanh nguồn thu của NSNN. Do vậy, việc
sử dụng vốn, chi tiêu NSNN một cách tiết kiệm, hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả của nền sản xuất xã hội và tăng sản phẩm quốc dân.
Phân loại chi Ngân sách Nhà nước là sự sắp xếp các khoản chi vào các nhóm
theo tiêu thức nhất định, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và định hướng
chi NSNN. Thông thường phân loại chi NSNN được dựa trên các tiêu thức chủ yếu
sau:
trữ thường xuyên, dự bị phí.
Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi có thời hạn tác động dài, bao gồm:
chi đầu tư các dự án phát triển, chi chuyển giao vốn đầu tư cho các doanh nghiệp
Nhà nước hoặc các địa phương, chi dự trữ cho mục đích đầu tư, chi viện trợ, đầu tư
cho nước ngoài
7
Chi trả khác: bao gồm, chi cho vay (cho vay các tổ chức Nhà nước, cho vay
nước ngoài ) và trả nợ gốc (trả nợ trong nước, trả nợ ngoài nước)
Ở nước ta, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chi Ngân sách Nhà nước
được phân loại dựa vào tiêu thức mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi, phân
thành 2 nhóm lớn là chi tích lũy và chi tiêu dùng. Việc phân loại này đã tạo điều
kiện thuận lợi cho công tác phân tích đánh giá kết quả chi tiêu Ngân sách Nhà nước
gắn với quá trình phân phối thu nhập quốc dân và phù hợp với cơ chế hiện hành. Kể
từ khi nền kinh tế nước ta chuyển mình sang cơ chế mới, vận hành theo cơ chế thị
trường, cách phân loại này bắt đầu bộc lộ một số nhược điểm đó là:
Thứ nhất, nó không thể hiện được mối quan hệ giữa chi tiêu tài chính của
Nhà nước và việc thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước, từ đó, gây khó khăn
cho cuộc tìm kiếm phương án phân phối phù hợp trong từng thời kỳ
Thứ hai, không phù hợp với cơ chế mới và thông lệ quốc tế.
Thứ ba, thuật ngữ tích lũy cũng rất trìu tượng, dễ dẫn đến tranh cãi trong việc
sắp đặt một số khoản chi, chẳng hạn như: các khoản chi dự trữ, chi bù lỗ, bù giá có
tài liệu đưa vào phần chi tích lũy, có tài liệu lại đưa vào phần chi tiêu dùng. Xuất
phát từ đó, việc tìm kiếm một phương thức phân loại mới, vừa phù hợp với thông lệ
quốc tế, vừa phù hợp với tình hình thực tế, yêu cầu đổi mới chung của nền KTXH,
đồng thời thừa hưởng được những kinh nghiệm đã tích lũy lâu nay ở nước ta bắt
đầu được đặt ra.
Trong thời gian này, ở nước ta có rất nhiều quan điểm khác nhau, song phần
lớn ý kiến đề xuất nên áp dụng tiêu thức yếu tố thời hạn để tiến hành phân loại chi
tiết về chi Ngân sách Nhà nước, bên cạnh việc kết hợp tiêu thức phân loại theo lĩnh
vực cụ thể và theo chủ thể quản lý.
nghiệp khác; các hoạt động sự nghiệp kinh tế; quốc phòng, an ninh và an toàn xã
hội; hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính
trị xã hội; trợ giá theo chính sách của Nhà nước, các chương trình quốc gia; hỗ trợ
9
bảo hiểm xã hội, trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ cho các tổ chức
chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp; các khoản chi khác theo quy định của pháp
luật.
Chi đầu tư phát triển: Một trong các chức năng quan trọng của Nhà nước là
chức năng tổ chức kinh tế. Chức năng này trong cơ chế thị trường của chúng ta hiện
nay được thể hiện bằng vai trò của Nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. Ngân sách Nhà nước với các vai trò của nó được coi là một công cụ quan
trọng trong việc thực hiện chức năng nói trên của Nhà nước. Chi đầu tư phát triển là
những khoản chi mang tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng
gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi
cho việc bỏ vốn đầu tư của các Doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết phù hợp
với mục tiêu của nền kinh tế. Nói khác đi, việc chi cho đầu tư phát triển của Ngân
sách Nhà nước nhằm mục đích tạo ra một sự khởi động ban đầu, kích thích quá
trình vận động các nguồn vốn trong xã hội để hướng tới sự tăng trưởng.
Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ Ngân sách TƯ và một bộ
phận đáng kể của Ngân sách địa phương và bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây:
đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đầu tư hỗ trợ vốn
cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước; mục
tiêu quốc gia, dự án Nhà nước, chi bổ sung dự trữ Nhà nước; các khoản chi khác
theo quy định của Nhà nước; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay:
Trả nợ trong nước: là những khoản nợ mà trước đây Nhà nước đã vay các
tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế và các tổ chức khác bằng cách phát hành các
loại chứng khoán Nhà nước như tín phiếu kho bạc, trái phiếu quốc gia.
Trả nợ nước ngoài: là các khoản nợ Nhà nước vay của các Chính phủ nước
ngoài, các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
11
Theo chức năng ngành y tế
Nội dung chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế gồm: Chi phòng bệnh,
chi chữa bệnh, chi đào tạo, chi nghiên cứu khoa học y Dược, chi quản lý hành chính
và chi khác.
Tác dụng của việc phân loại này là nhằm phục vụ cho việc phân tích đánh giá
tình hình sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước cho chuyên môn nghiệp vụ của ngành Y
tế như thế nào, từ đó đánh giá được mức độ chi cho chuyên môn nghiệp vụ đã hợp
lý chưa để có sự điều chỉnh phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội.
Theo tính chất các khoản chi
Nội dung chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế gồm:
Chi Đầu tư như: Chi xây lắp, chi thiết bị, chi khác về đầu tư
Chi Thường xuyên như : Chi lương cho cán bộ nhân viên Y tế và đội ngũ bác
sĩ, chi bù lỗ bù giá, chi công tác phí, chi hội nghị phí, công vụ phí, chi đào tạo và
chi khác.
Tác dụng của cách phân loại theo tính chất các khoản chi là có thể quản lý
một cách chặt chẽ các khoản chi dành cho đầu tư và chi thường xuyên, từ đó có thể
có được những thông tin chính xác về tình hình quản lý biên chế và quỹ lương, tình
hình tuân thủ chính sách chế độ chi NSNN tại mỗi đơn vị thụ hưởng.
Theo tuyến chi :
Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế gồm : Chi Y tế cho tuyến Trung
ương, tuyến Tỉnh, tuyến Huyện và tuyến Xã.
Tác dụng của việc phân loại này là có thể xác định được mức độ chi Ngân
sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế ở mỗi cấp để có sự điều chỉnh hợp lý, đảm bảo
tính công bằng trong việc phân bổ kinh phí hoạt động Y tế giữa các tuyến, phù hợp
với nhu cầu phát triển của ngành Y tế nói riêng và sự phát triển của kinh tế - xã hội nói
chung của từng vùng.
Trong công tác quản lý các khoản chi tiêu thường xuyên của Ngân sách Nhà
nước chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế được phân chia theo 4 nhóm
chính sau :
Đây là nhóm chi không thể thiếu được của toàn ngành y tế. Hàng năm, do sự
xuống cấp của các tài sản cố định dùng cho hoạt động y tế, đòi hỏi phải có kinh phí
để đầu tư mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi lại và từng bước hiện đại hoá trang
thiết bị ngành Y tế ở những đơn vị Y tế được Nhà nước bao cấp. Chính nhờ nhóm
chi này đã góp phần nâng cao năng lực hiện có của tài sản cố định, nâng cao chất
lượng của các bệnh viện, phòng khám, qua đó giúp cho hoạt động khám chữa bệnh
ngày càng được nâng cao về chất lượng cũng như về quy mô.
1.3. Đặc điểm của chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế
Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế là khoản chi thường xuyên
thuộc lĩnh vực văn xã, nhưng so với các khoản chi thường xuyên khác, chi Ngân
sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế có những nét riêng biệt :
Thứ nhất, chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế là khoản chi vừa
mang tính chất tiêu dùng hiện tại, vừa mang tính chất tích luỹ đặc biệt.
Xét về hình thức bên ngoài và theo từng niên độ Ngân sách thì đây là khoản
chi mang tính tiêu dùng xã hội, nhằm thoả mãn nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ của nhân dân, không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội ở mỗi năm đó.
Song khoản chi này gián tiếp tác động đến việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội,
nâng cao tri thức con người, tạo điều kiện cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng,
tăng tích luỹ Ngân sách.
Vì vậy, nếu xét về bản chất bên trong và xét về tác dụng lâu dài thì khoản chi
này tác động mạnh mẽ tới yếu tố con người, tác động đến sự sáng tạo ra của cải vật
chất và văn hoá tinh thần, là nhân tố tác động đến sự phát triển và tăng trưởng của
nền kinh tế xã hội trong tương lai.
Thứ hai, chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế là khoản chi chứa đựng
nhiều yếu tố xã hội.
Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế quyết định mức độ ưu đãi đối
với các tầng lớp giai cấp trong xã hội mà đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó
khăn, những đối tượng thuộc diện ưu tiên, những gia đình chính sách, những người
14
có công với cách mạng, những đối tượng thuộc vùng sâu vùng xa và những vùng
luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu chỉ có hạn,
cho nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý các
khoản chi từ Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế.
Nguyên tắc thứ ba : Kiểm soát chi qua Kho bạc.
Mọi khoản chi đều phải chi trực tiếp qua Kho bạc bởi vì Kho bạc Nhà nước là
nơi quản lý quỹ của Ngân sách Nhà nước, do đó, Kho bạc Nhà nước vừa có quyền,
vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi Ngân sách Nhà nước,
đặc biệt là khoản chi thường xuyên; Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế là
một khoản chi thường xuyên nên phải quán triệt nguyên tắc này.Trong thực tiễn, chi
Ngân sách Nhà nước trực tiếp qua Kho bạc tạo điều kiện cho Kho bạc Nhà nước
kiểm soát chặt chẽ hơn các khoản chi của Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế,
đảm bảo Ngân sách Nhà nước được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
Đứng trên giác độ cơ quan tài chính, thì cơ quan tài chính các cấp phải có trách
nhiệm phối hợp với Kho bạc Nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng kinh phí
của các đơn vị dự toán, có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo hạn mức
kinh phí quý cho các đơn vị sử dụng kinh phí Ngân sách, kiểm tra việc sử dụng kinh
phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi của các đơn
vị đồng thời tổng hợp quyết toán chi Ngân sách Nhà nước.
1.5. Nội dung của quản lý Chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế
Công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế là quá trình
phân phối và sử dụng, chi ngân sách nhà nước nhằm duy trì hoạt động của sự
nghiệp y tế. Khoản chi này là một khoản chi hết sức quan trọng, được diễn ra một
cách thường xuyên, liên tục, đòi hỏi phải nắm rõ, nắm chắc nội dung cụ thể của
từng khoản chi để tiến hành chính xác, hiệu quả. Muốn làm được điều đó, Nhà nước
phải sử dụng nhiều biện pháp và công cụ khác nhau.
16
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống ngành Y tế
1.5.1. Chi cho Bộ máy tổ chức
Tuyến Trung ương: Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, trực tiếp quản lý
Nhà nước về lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, bao gồm các lĩnh
y tế cơ sở) là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ
thống Y tế Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ
ban đầu, phát hiện sớm dịch, chữa các bệnh và đỡ đẻ thông thường, vận động nhân
dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, vệ sinh phòng bệnh, tăng cường
sức khoẻ.
18
Việc thành lập, sát nhập, giải thể trạm y tế xã, phường, thị trấn do Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định trên cơ sở đề nghị của
uỷ ban nhân dân xã, huyện và đề nghị của Giám đốc Sở Y tế .
1.5.2. Công tác lập dự toán
Lập dự toán chi ngân sách sự nghiệp Y tế thường dựa trên một số căn cứ chủ
yếu sau:
+ Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển Y tế trong từng giai đoạn;
+ Chỉ tiêu mang tính chất định lượng trong Y tế như chỉ tiêu về số lượng
bệnh viện, biên chế, số lượng y tá, bác sĩ, giường bệnh…;
+ Khả năng bố trí chi ngân sách cho Y tế trên cơ sở cân đối tổng thể chi
NSNN năm kế hoạch;
+ Các chính sách, tiêu chuẩn, định mức do nhà nước ban hành để có thể xác
định định mức chi tổng hợp trên một giường bệnh/năm;
+ Tình hình quản lý, sử dụng kinh phí chi ngân sách cho Y tế của các năm
trước;
Căn cứ vào Chỉ thị của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, về việc xây dựng
nội dung, kế hoạch tổng thể chi NSNN (trong đó có tổng chi cho Y tế), Sở Tài
chính ban hành Thông tư hướng dẫn lập dự toán NSNN và thông báo số kiểm tra về
dự toán NSNN cho các Sở, và UBND thành phố trong đó có số kiểm tra về Y tế.
Căn cứ vào Chỉ thị của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, Thông tư hướng
dẫn, số kiểm tra về dự toán NSNN của Sở Tài chính:
+ Sở thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc.
+ UBND thành phố căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của Thành phố Hà
Nội, căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách thành phố, hướng dẫn và thông báo số
người/tháng
do NN quy
định
x (1+
Hệ số điều
chỉnh tăng
thêm mức
lương tối
thiểu
) x
Hệ số
lương cấp
bậc bq và
hệ số phụ
cấp lương
bq
x
Biên chế
và lao
động hợp
đồng từ 1
năm trở
lên
x
12
tháng
Sau khi xác định quỹ tiền lương của đơn vị, việc trả lương cho từng lao động
được xác định như sau:
20