355 Hoàn thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty AASC thực hiện - Pdf 22

Luận văn tốt nghiệp đại học
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, báo cáo tài chính đã được kiểm toán là đối tượng quan tâm của nhiều
cấp quản lý và những người sử dụng thông tin khác. Trong kiểm toán BCTC, đánh giá
trọng yếu và rủi ro kiểm toán là một trong những yếu tố rất quan trọng để có được một
kế hoạch kiểm toán khoa học và hiệu quả, từ đó thiết kế các phương pháp kiểm toán phù
hợp, tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán.
Thực tế hiện nay ở các công ty kiểm toán hàng đầu trên thế giới đã xây dựng cho
mình một quy trình chuẩn và các hướng dẫn cụ thể đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm
toán trong kiểm toán báo cáo tài chính, giúp các KTV thực hiện kiểm toán một cách
hiệu quả, tránh được những rủi ro không mong muốn mà vẫn đạt được hiệu quả về mặt
chất lượng. Trong khi đó, tại các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay, việc
đánh giá trọng yếu và rủi ro chưa thực sự được các KTV quan tâm đúng mức. Là một
trong hai công ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam, Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán (AASC) cũng đang nỗ lực nâng cao chất lượng và số lượng các
dịch vụ kiểm toán. Công tác đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong một cuộc kiểm
toán là một trong những hoạt động được Công ty đang chú trọng. Quy trình này cũng
đang ngày một hoàn thiện nhằm đảm bảo cho cuộc kiểm toán tiến hành đạt hiệu quả
cao, từ đó nâng cao uy tín cũng như niềm tin của khách hàng đối với Công ty.
Vì những lý do trên, sau một thời gian thực tại AASC, em đã chọn đề tài: “Hoàn
thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC do
Công ty AASC thực hiện” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy trình đánh giá
trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC, đề tài hướng tới đề xuất những
giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
tai Công ty AASC.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định chung của AASC về quy trình
đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC; thực trạng quy trình đánh

tài chính. Sản phẩm của một cuộc kiểm toán là báo cáo kiểm toán thể hiện ý kiến của
KTV về báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán, ví dụ một ý kiến chấp nhận toàn
phần được trình bày tiêu chuẩn trên báo cáo kiểm toán như sau: “Theo ý kiến của chúng
tôi, báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu
tình hình tài chính của công ty ABC tại ngày 31/12/X cũng như kết quả kinh doanh và
các luồng lưu chuyển tiền tệ trong năm tài chính kết thúc tại ngày 31/12/X , phù hợp với
chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành và các quy định pháp lý có liên
quan”. Ngay trong phần nhận xét của KTV đã có bao hàm hai nhóm từ quan trọng, có
liên quan trực tiếp tới tính trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán. Nhóm từ “theo ý kiến
của chúng tôi” có mục đích thông báo cho những người sử dụng BCTC biết là KTV kết
luận dựa trên căn cứ phán xét nghề nghiệp và không có bảo đảm hoặc bảo hiểm đối với
việc trình bày trung thực của các BCTC. Trong nhóm từ ngụ ý là có một số rủi ro, là
BCTC không được trình bày trung thực cả khi ý kiến kiểm toán là chấp nhận toàn phần.
Nhóm từ “Phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu” có mục đích
thông báo cho những người sử dụng BCTC là việc diễn đạt ý kiến trong báo cáo của
KTV chỉ giới hạn ở thông tin tài chính trọng yếu. “Ý kiến của KTV đưa ra trên báo cáo
kiểm toán một sự đảm bảo chắc chắn rằng báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và
hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu; nhưng không đảm bảo tuyệt đối rằng không có bất
kỳ một sai sót nào trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán. KTV chỉ quan tâm đến các
yếu tố trọng yếu của các báo cáo tài chính”. Trong một cuộc kiểm toán, do giới hạn về
thời gian và chi phí, KTV không thể đảm bảo được rằng báo cáo tài chính của doanh
nghiệp là hoàn toàn chính xác, “KTV đưa ra một mức độ đảm bảo cao nhưng không
phải là tuyệt đối. Có nghĩa là báo cáo tài chính đã được kiểm toán không còn chứa
đựng những sai sót trọng yếu so với ý kiến của KTV trong báo cáo kiểm toán” . Như
vậy, đối với kiểm toán báo cáo tài chính, khái niệm “trọng yếu và rủi ro” được nhắc đến
như một vấn đề được đặc biệt quan tâm nhằm giới hạn trách nhiệm của KTV. Tính
trọng yếu là quan trọng vì đối với KTV, việc đảm bảo rằng các BCTC chính xác đến
từng xu là điều không thực tế. Đồng thời, trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty
kiểm toán cũng không thể tránh khỏi những rủi ro, đó chính là rủi ro kiểm toán và rủi ro
kinh doanh của công ty kiểm toán. Trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối liên hệ chặt

đó có thể ảnh hưởng tới quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC. Tính trọng yếu
phụ thuộc vào mức độ quan trọng của các khoản mục hay sai sót được đánh giá theo
bối cảnh cụ thể tạo ra việc bỏ sót hoặc sai sót đó. Vì thế tính trọng yếu là một ngưỡng
hoặc một điểm định tính cơ bản mà một thông tin hữu ích cần phải có”.
Trong chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 (VSA 320)“Tính trọng yếu trong
kiểm toán”, trọng yếu được định nghĩa như sau: “ Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm
quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính. Thông tin
được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của
thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng BCTC. Mức trọng yếu
tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay của sai sót được đánh giá
trong hoàn cảnh cụ thể. Mức độ trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không
phải là nội dung của thông tin cần phải có. Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét
trên cả phương diện định lượng và định tính”.
Giáo trình “Lý thuyết kiểm toán”: “Trọng yếu, xét trong quan hệ với nội dung
kiểm toán, là khái niệm chung chỉ rõ tầm cỡ và tính hệ trọng của phần nội dung cơ bản
của kiểm toán có ảnh hưởng tới tính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối tượng
Nguyễn Thu Hảo - Kiểm toán 44 4
Luận văn tốt nghiệp đại học
kiểm toán và việc sử dụng thông tin đã đánh giá đó để ra quyết định quản lý”.
Như vậy, trọng yếu là một thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một
thông tin, một số liệu kế toán trong một bối cảnh cụ thể, mà nếu thiếu nó hoặc thiếu tính
chính xác của thông tin đó thì sẽ ảnh hưởng đến người sử dụng BCTC về nhận thức và
từ đó ảnh hưởng đến việc đánh giá các thông tin trên BCTC và ra quyết định quản lý.
Sai lệch chỉ được xem là trọng yếu khi chúng làm thay đổi nhận định của người sử
dụng. Trên góc độ của người sử dụng thông tin, một thông tin được coi là trọng yếu và
cần được trình bày nếu nó có khả năng ảnh hưởng tới các quyết định của người sử dụng.
Trong cuộc sống và một số lĩnh vực, thông thường khái niệm trọng yếu được hiểu
một cách tương đồng với khái niệm trọng tâm, dùng để sự quan trọng, thiết yếu. Trọng
tâm của một kế hoạch đầu tư hay một chiến lược kinh doanh sẽ bao gồm những vấn đề
trọng yếu cần được ưu tiên giải quyết. Tuy nhiên, về bản chất hai khái niệm này không

toán tương tự ở nơi khác. Tuy nhiên, trên thực tế, KTV không biết ai là người sử dụng
BCTC và những quyết định nào sẽ được thực hiện. Hơn thế nữa, thực trạng hoạt động
tài chính cũng như hiệu quả nghiệp vụ là vấn đề rất rộng và trên thực tế không thể kiểm
toán được hết tất cả các thông tin đã thu được và chưa thu được của hoạt động tài chính
và nghiệp vụ phải kiểm toán. Mặt khác, người sử dụng các BCTC thường chỉ quan tâm
đến bản chất của thực trạng tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có BCTC.
Do đó, KTV và công ty kiểm toán cần phải lựa chọn nội dung, phương pháp, thủ
tục kiểm toán tối ưu để có thể đưa ra các đánh giá đúng bản chất đối tượng kiểm toán,
đáp ứng kịp thời nhu cầu của người quan tâm với giá phí kiểm toán phù hợp. Để thực
hiện được điều này, các KTV cần thiết kế chương trình kiểm toán, thủ tục kiểm toán
phù hợp cho từng cuộc kiểm toán, chỉ nên tập trung vào các vấn đề trọng yếu, cốt lõi và
có thể bỏ qua những vấn đề không quan trọng. Việc đánh giá vấn đề nào là trọng yếu
hay không trọng yếu phụ thuộc vào chủ quan của người KTV, đó là kết quả của óc phán
xét nhà nghề với kinh nghiệm cao. Nếu không, điều này có thể dẫn tới những nhận định
sai lầm và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán và có thể cả đến rủi ro kinh
doanh của công ty kiểm toán.
Rõ ràng, khái niệm “Trọng yếu” đã đặt ra yêu cầu xác định nội dung kiểm toán
trên cơ sở không bỏ sót các nghiệp vụ có quy mô lớn và có tính hệ trọng. Vi phạm
nguyên tắc này sẽ tạo ra rủi ro kiểm toán.
1.2. Khái niệm rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC
Theo nghĩa chung nhất, rủi ro là khái niệm chỉ khả năng mà một sự kiện không
thuận lợi nào đó sẽ xuất hiện. Rủi ro được nhắc đến như một sự ám chỉ về một điều
không chắc chắn, một hậu quả với những tình huống không thể lường trước được, nó có
thể xảy ra, nếu xảy ra có thể không như chúng ta mong đợi, hoặc mang lại kết quả
không tốt đẹp. Rủi ro ứng với sai lệch giữa dự kiến và thực tế. Trong lịch sử đã có nhiều
quan điểm tranh luận về rủi ro. Theo quan điểm về rủi ro của Pháp, người ta đơn thuần
coi rủi ro chỉ liên quan đến các thiệt hại – rủi ro không đối xứng. Quan điểm của Mỹ thì
cho rằng rủi ro liên quan đến cả thiệt hại và may mắn – rủi ro đối xứng. Còn sau đây là
một số quan điểm được chọn lọc từ cuốn sách “Bảo hiểm quốc tế, nguyên tắc và thực
hành” do Học viện Hoàng gia Anh xuất bản năm 1993:

tỷ giá gây ra.
Rủi ro đầu tư là rủi ro khi tiến hành hoạt động đầu tư (như đầu tư vào thị trường
chứng khoán, đầu tư vào nhà đất… ). Rủi ro đầu tư là cao nếu các nhà đầu tư không
lường trước được các khả năng có thể xảy ra và các nhân tố tác động.
Rủi ro kinh doanh là các khả năng có thể xảy ra khi tiến hành hoạt động kinh
doanh. Bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào cũng có thể xảy ra rủi ro.
Trong lĩnh vực kiểm toán, có khá nhiều loại rủi ro được đề cập như: rủi ro kinh
doanh, rủi ro kiểm toán, rủi ro chọn mẫu và rủi ro không chọn mẫu… Rủi ro kiểm toán
là rủi ro mà KTV sẽ kết luận là các BCTC được trình bày trung thực và hợp hợp lý trên
các khía cạnh trọng yếu, và do đó một ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần sẽ được
công bố, trong khi, trên thực tế chúng bị sai sót trọng yếu. Rủi ro chọn mẫu và rủi ro
không chọn mẫu là hai loại rủi ro có thể ảnh hưởng đến các bộ phận của rủi ro kiểm
toán. Rủi ro kinh doanh là rủi ro mà KTV (hoặc công ty kiểm toán) sẽ phải chịu thiệt hại
vì mối quan hệ với khách hàng, cho dù báo cáo kiểm toán cung cấp cho khách hàng đó
là đúng. Sự kiểm soát chặt chẽ rủi ro kiểm toán là yếu tố chủ yếu của quá trình kiểm
soát rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán. Do đó, trong các loại rủi ro trên thì rủi ro
kiểm toán (Audit Risk) là rủi ro được đề cập đến nhiều nhất và quan trọng nhất.
Theo IAG 25 về “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán” thì rủi ro kiểm toán được định
nghĩa : “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc phải khi đưa ra những
nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng. Ví
dụ KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ về một BCTC mà không biết rằng các
báo cáo này có những sai phạm nghiêm trọng”.
Nguyễn Thu Hảo - Kiểm toán 44 7
Luận văn tốt nghiệp đại học
Theo VSA 400 “ Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” và ISA 400: “ Rủi ro kiểm
toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi
BCTC đã được kiểm toán vẫn còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm
ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, và rủi ro phát hiện”.
Rủi ro kiểm toán xuất phát từ các sai lệch tiểm ẩn trong BCTC đã vượt qua hệ
thống kiểm soát nội bộ của đơn vị và không bị các thử nghiệm cơ bản trong quá trình

đến rủi ro kiểm toán.
Đối tượng kiểm toán là những thông tin được phát sinh và được thu thập qua
nhiều giai đoạn khác nhau, do đó rủi ro kiểm toán được xác định tương ứng với đối
tượng phát sinh trong từng giai đoạn và hình thành các khái niệm tương ứng: rủi ro tiềm
tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện.
Rủi ro tiềm tàng(Inherent Risk- IR)
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản thân các đối
tượng kiểm toán (chưa tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm toán nào kể cả
kiểm soát nội bộ). Tức là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC chứa
đựng những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mặc dù có hay không có hệ
thống kiểm soát nội bộ.
Theo IAG 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán” thì: “Rủi ro tiềm tàng là những yếu
điểm của số dư tài khoản hoặc của một loại nghiệp vụ đối với những sai sót có thể là
nghiêm trọng, những sai sót này có thể đơn lẻ hoặc có thể kết hợp với các sai sót ở
những số dư, các nghiệp vụ khác, (ở đây giả định là không có các quy chế kiểm soát nội
bộ có liên quan). Rủi ro tiềm tàng nằm trong chức năng hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh cũng như nằm trong bản chất của số dư tài
khoản hoặc các loại nghiệp vụ”. VSA 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” quy
định: “Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng
khoản mục trong BCTC chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mặc
dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ”.
Như vậy, về bản chất, rủi ro tiềm tàng là mức độ mà KTV ước tính là có một sai
số cao hơn mức có thể chấp nhận trong một bộ phận trước khi xét đến tính hiệu quả của
các quá trình kiểm soát nội bộ về kế toán. Mức độ rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc
điểm tình hình kinh doanh của khách thể kiểm toán, loại hình kinh doanh và năng lực
nhân viên của khách thể kiểm toán. Mức rủi ro này còn tùy thuộc vào đặc điểm từng loại
tài sản, nghiệp vụ. Chẳng hạn khoản mục tiền mặt thường có khả năng sai sót cao do
tiền là loại tài sản nhạy cảm với gian lận.
KTV không tạo ra, cũng không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng mà họ chỉ có thể
đánh giá chúng. Rủi ro tiềm tàng có quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng chứng kiểm

mà không được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ và cũng không
được KTV phát hiện trong quá trình kiểm toán.
Theo IAG 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán”: “Rủi ro phát hiện là những rủi ro
mà KTV không phát hiện ra các sai sót có trong các số dư tài khoản hoặc và loại
nghiệp vụ. Những sai sót này có thể là nghiêm trọng xảy ra đơn lẻ hoặc kết hợp với các
sai sót trong số dư, các loại nghiệp vụ khác. Mức độ rủi ro phát hiện có quan hệ trực
tiếp với phương pháp kiểm toán của KTV ”.
VSA 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” : “Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra
các sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC khi tính riêng
rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán không phát
hiện được”.
Rủi ro phát hiện là mức độ mà KTV sẵn sàng chấp nhận là bằng chứng kiểm toán
phải thu thập cho một bộ phận sẽ không phát hiện ra các sai số cao hơn có thể chấp
nhận, nếu những sai sót đó tồn tại. Như vậy, rủi ro phát hiện có nguyên nhân bắt nguồn
trực tiếp từ nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm do KTV thực hiện. Mức
rủi ro phát hiện sẽ giảm xuống nếu KTV tăng các thử nghiệm chi tiết trên số dư hoặc
nghiệp vụ, mở rộng phạm vi kiểm tra hoặc tăng cường cỡ mẫu của các thử nghiệm. Do
đó, ngược lại với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV phải có trách nhiệm thực
hiện các thủ tục thu thập bằng chứng kiểm toán nhằm quản lý và rủi ro phát hiện. Một
Nguyễn Thu Hảo - Kiểm toán 44 10
Luận văn tốt nghiệp đại học
số rủi ro phát hiện sẽ thường vẫn xảy ra cho dù có kiểm tra 100% các số dư và các loại
nghiệp vụ vì KTV có thể lựa chọn và áp dụng các phương pháp kiểm toán không phù
hợp, áp dụng sai các phương pháp kiểm toán thích hợp, hoặc giải thích sai hay nhận
định sai các kết quả kiểm toán.
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC:
Do tồn tại độc lập, khách quan với các thông tin tài chính, với các thử nghiệm của
KTV nên rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khác biệt với rủi ro phát hiện. Nói cách khác,
cho dù có tiến hành kiểm toán hay không, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát vẫn tồn tại
trong hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị cũng như nằm trong bản chất của

Trong thực tiễn công tác kiểm toán, mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán
được biểu diễn qua hai mô hình rủi ro sau:
AR = IR * CR * DR (1) DR = AR / (IR * CR) (2)
Tuy được biểu thị bằng công thức nhưng đây không phải là công thức toán học
thuần túy. Hai công thức này chỉ được sử dụng để giúp KTV đánh giá và xác định mức
độ sai sót có thể chấp nhận được làm cơ sở thiết kế các thủ tục và điều hành cuộc kiểm
toán.
Cả hai mô hình rủi ro kiểm toán cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa rủi ro tiềm
tàng và rủi ro kiểm soát. Khi rủi ro tiềm tàng là 30%, rủi ro kiểm soát là 70% sẽ có ảnh
hưởng đến rủi ro phát hiện và bằng chứng thu thập như khi rủi ro tiềm tàng là 70% và
rủi ro kiểm soát là 30%. Sự kết hợp giữa rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát chính là sự
ước tính các sai số sau khi xem xét tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ. Rủi ro tiềm
tàng là sự ước tính sai số trước khi xem xét ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ.
1.3. Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán và ảnh hưởng của nó
đến phương pháp kiểm toán trong kiểm toán BCTC
Trọng yếu và rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. VSA 320 “Tính trọng yếu
trong kiểm toán” đã quy định: “Khi tiến hành một cuộc kiểm toán, KTV phải quan tâm
đến tính trọng yếu của thông tin và mối quan hệ của nó với rủi ro kiểm toán”.
Trong một cuộc kiểm toán, mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ
nghịch với nhau: mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại.
Mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng phải thấp xuống vì khi giá trị của sai
sót càng cao, mức độ ảnh hưởng càng lớn thì khả năng bỏ qua sai sót đó phải giảm
xuống, do đó rủi ro kiểm toán sẽ thấp. Còn khi mức trọng yếu không cao, KTV có thể
chấp nhận một mức rủi ro kiểm toán cao hơn mà không gây ra những ảnh hưởng lớn.
Mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung, phạm vi, thời gian
của các thủ tục kiểm toán thích hợp.
Khi lập kế hoạch kiểm toán, nếu KTV xác định mức trọng yếu chấp nhận được là
thấp thì rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên. Khi đó, KTV có thể:
- Giảm mức độ rủi ro kiểm soát đã được đánh giá bằng cách mở rộng hoặc thực
hiện thêm thử nghiệm kiểm soát để chứng minh cho việc giảm rủi ro kiểm soát; hoặc

kiểm toán, đánh giá ảnh hưởng của những sai phạm đối với việc tính toán, phân loại các
tài khoản, xác định tính hợp lý của việc trình bày và độ tin cậy của các thông tin tài
chính.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV phải đánh giá mức độ trọng yếu để
ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được, xác định phạm vi của cuộc
kiểm toán và đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC để từ đó xác định bản chất,
thời gian và phạm vi thực hiện các thử nghiệm kiểm toán.
IAS 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán” quy định: “Khi lập kế hoạch kiểm toán,
KTV phải xem xét đến các nhân tố có thể làm phát sinh những sai sót trọng yếu trong
BCTC. Đánh giá của KTV về mức trọng yếu liên quan đến số dư các tài khoản và các
loại giao dịch chủ yếu sẽ giúp KTV xác định được các khoản mục cần được kiểm tra và
quyết định nên áp dụng thủ tục chọn mẫu hay thủ tục phân tích. Việc đánh giá mức
trọng yếu liên quan đến số dư các tài khoản và các loại giao dịch chủ yếu sẽ giúp KTV
lựa chọn được những thủ tục kiểm toán thích hợp và việc kết hợp các thủ tục kiểm toán
thích hợp đó với nhau sẽ làm giảm được rủi ro kiểm toán tới mức có thể chấp nhận
được”.
Nguyễn Thu Hảo - Kiểm toán 44 13
Luận văn tốt nghiệp đại học
VSA 300 “Lập kế hoạch kiểm toán” cũng quy định trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán tổng thể, KTV phải “xác định những vùng kiểm toán trọng yếu và xác định
mức độ trọng yếu cho từng mục tiêu kiểm toán”.
Ở thời điểm lập kế hoạch kiểm toán ban đầu, kết quả đánh giá mức trọng yếu và
rủi ro kiểm toán của KTV có thể khác với kết quả đánh giá ở các thời điểm khác nhau
trong quá trình kiểm toán. Sự khác nhau này là do sự thay đổi tình hình thực tế hoặc sự
thay đổi về sự hiểu biết của KTV về đơn vị được kiểm toán dựa trên kết quả kiểm toán
đã thu thập được, như: trường hợp lập kế hoạch kiểm toán trước khi kết thúc năm tài
chính, KTV đã đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán căn cứ trên dự tính trước kết
quả hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu tình hình tài chính thực tế
và kết quả hoạt động của doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể so với dự tính, thì việc
đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán sẽ có những thay đổi.

cả quy mô (mặt lượng) và tính hệ trọng (mặt chất) của sai phạm.
Về quy mô, tính trọng yếu được xem xét trên hai góc độ: Quy mô tuyệt đối và quy
mô tương đối. Quy mô tuyệt đối là một con số tuyệt đối thể hiện độ lớn đủ mức mà
không cần nhắc thêm bất cứ một yếu tố nào khác. Trong thực tế rất khó ấn định một con
số cụ thể cho những nội dung kiểm toán, nhất là khi nội dung đó có yếu tố sai phạm
tiềm ẩn. Có thể quan niệm “Một triệu USD hoặc một con số lớn hơn thì luôn coi là con
số trọng yếu mà không cần quan tâm tới yếu tố nào khác”. Tuy nhiên, một sai số quy mô
nhất định có thể là trọng yếu đối với một công ty nhỏ, trong khi cũng cùng sai số đó sẽ
không trọng yếu đối với một công ty lớn hơn. Vì thế, quy mô tuyệt đối thường chỉ sử
dụng trong quá trình xem xét, phát hiện, ít được sử dụng trong đánh giá. Quy mô tương
đối là mối tương quan giữa đối tượng cần đánh giá với một số gốc. Số gốc được xác
định tùy thuộc vào những tình huống cụ thể. Trong kiểm toán BCTC, số gốc có thể là
lợi nhuận trước thuế, doanh thu thuần …(đối với bảng kết quả hoạt động kinh doanh)
hoặc tổng tài sản hay giá trị tài sản lưu động ... (đối với bảng cân đối kế toán). Căn cứ
vào các chỉ tiêu trên, các công ty kiểm toán đưa ra các con số hướng dẫn các định mức
trọng yếu và mức không trọng yếu. Một số công ty kiểm toán cho rằng sai lệch tổng hợp
của bảng cân đối kế toán nếu lớn hơn 10% giá trị tài sản lưu động hoặc 6% tổng tài sản
được xem là trọng yếu; Sai lệch đó nhỏ hơn 5% giá trị tài sản lưu động hoặc 3% tổng tài
sản và không có các yếu tố định tính đi kèm được xem là không trọng yếu; Sai lệch nằm
trong khoảng 3% đến 6% tổng tài sản hoặc 5% đến 10% giá trị tài sản lưu động có thể
trọng yếu, đồng thời cần phải vận dụng sự xét đoán nghề nghiệp để xác lập mức trọng
yếu.
Bên cạnh việc xem xét riêng biệt quy mô tuyệt đối và quy mô tương đối còn phải
cân nhắc cả ảnh hưởng lũy kế của đối tượng đang xem xét: Có những sai phạm nếu xét
riêng biệt, chúng không đủ mức trọng yếu do quy mô nhỏ. Tuy nhiên, nếu cộng dồn tất
cả những sai phạm đó sẽ thấy sự liên quan và tính hệ thống của sai phạm, khi đó sẽ thấy
rõ tính trọng yếu của chúng. Quy mô trọng yếu được xác định tùy thuộc vào đối tượng
kiểm toán cụ thể (Báo cáo tài chính hay từng loại khoản mục, chu trình) và khách thể
kiểm toán (có quy mô khác nhau)…khi đó quy mô của các khoản mục, nghiệp vụ không
chỉ được đánh giá bằng con số tuyệt đối mà phải đặt trong tương quan với toàn bộ đối

không dự tính trước hoặc có dự tính trước nhưng có ít khả năng xảy ra. Các nghiệp vụ
này ít xảy ra nhưng nó lại có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Do đó KTV cần phải xem xét mức độ nghiêm trọng của các nghiệp vụ đó và
ảnh hưởng của chúng đến kết quả chung của doanh nghiệp;
+ Các nghiệp vụ phân chia quyền lợi: các nghiệp vụ liên quan đến quyền lợi bao
giờ cũng chứa đựng khả năng gian lận cao vì hầu như bất cứ ai cũng muốn thu lợi cho
bản thân mình;
+ Các nghiệp vụ cố ý bỏ ngoài sổ sách: đây là nghiệp vụ biểu hiện của hành vi
gian lận;
+ Các nghiệp vụ xảy ra vào cuối kỳ quyết toán hoặc thuộc loại nghiệp vụ mới phát
sinh: thông thường vào cuối kỳ quyết toán, để kết quả hoạt động kinh doanh được như
kế hoạch đã đề ra hoặc để điều chỉnh một số chênh lệch thừa, thiếu, kế toán thường đưa
thêm vào một số bút toán hạch toán. Do đó các nghiệp vụ xảy ra vào cuối kỳ quyết toán
thường trọng yếu. Đối với các nghiệp vụ mới phát sinh thì KTV cần tự đặt câu hỏi tại
sao những nghiệp vụ đó từ trước đến giờ mới phát sinh, liệu kế toán đã xử lý đúng chưa
và từ đó đi tìm bằng chứng chứng minh;
+ Các chứng từ có sửa chữa: các khoản mục chứng từ này được xếp vào loại chứa
đựng gian lận cao hơn do sửa chữa có thể làm giảm sai lệch BCTC;
+ Các nghiệp vụ vi phạm nguyên tắc kế toán và pháp lý nói chung: các loại nghiệp
vụ này thường được xem là trọng yếu vì chúng có ảnh hưởng đến sự trung thực và độ
tin cậy của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng như các cá nhân có liên quan;
- Thứ hai, các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót nghiêm trọng
Nguyễn Thu Hảo - Kiểm toán 44 16
Luận văn tốt nghiệp đại học
+ Các khoản mục, nghiệp vụ phát hiện có sai sót ở quy mô lớn hoặc có chênh
lệch lớn so với kỳ trước hoặc giữa các nguồn thông tin liên quan;
+ Các nghiệp vụ vi phạm quy tắc kế toán và pháp lý nói chung;
+ Các nghiệp vụ, khoản mục có sai sót lặp lại nhiều lần: Các sai sót lặp đi lặp lại
nhiều lần thì được coi là trọng yếu. KTV cần phải đề nghị khách hàng điều chỉnh nhằm
tránh trường hợp các sai sót sẽ lặp lại. Sai sót có thể có quy mô nhỏ được lặp lại nhiều

nhưng các báo cáo nói chung vẫn được trình bày trung thực, do đó vẫn có ích. Thí dụ,
sự nhận biết về một sai phạm lớn của hàng tồn kho có thể ảnh hưởng đến ý muốn cho
vay tiền của người sử dụng đối với công ty nếu hàng tồn kho là vật thế chấp. Sai phạm
về hàng tồn kho không có nghĩa là các khoản mục khác như tiền, các khoản mục phải
Nguyễn Thu Hảo - Kiểm toán 44 17
Luận văn tốt nghiệp đại học
thu, các yếu tố khác của báo cáo nói chung đều có sai sót nghiêm trọng nhưng không
làm lu mờ các BCTC nói chung. BCTC thích hợp sẽ là báo cáo chấp nhận có ngoại trừ.
Việc loại trừ, sử dụng thuật ngữ “ngoại trừ đối với”, sẽ được phản ánh trên phần nhận
xét của báo cáo.
- Số tiền sai phạm nghiêm trọng đến nỗi toàn bộ tính trung thực của các báo cáo
phải bị nghi ngờ một cách thận trọng. Mức độ cao nhất này tồn tại khi người sử dụng có
khả năng đưa ra các quyết định sai nếu họ dựa vào các BCTC nói chung. Trở lại ví dụ
trên, nếu hàng tồn kho có số dư lớn nhất trên BCTC, một sự sai phạm lớn chắc chắn sẽ
nghiêm trọng đến nỗi báo cáo của KTV sẽ phải kết luận rằng BCTC nói chung không
thể được xem là đã trình bày trung thực. Khi mức cao nhất của tính nghiêm trọng tồn
tại, KTV phải công bố hoặc báo cáo từ chối không đưa ra ý kiến hoặc báo cáo không
chấp nhận hay tùy thuộc vào điều kiện hiện hữu. Điều này sẽ giúp KTV giảm được rủi
ro cuộc kiểm toán xuống và cùng với nó là rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán
cũng được giảm xuống.
1.4.2. Bản chất đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC
Cùng với trọng yếu, rủi ro kiểm toán chủ yếu được KTV xác định trong giai đoạn
lập kế hoạch kiểm toán. Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 “Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ” đã quy định: “ rủi ro kiểm toán được xác định trước khi lập kế hoạch
kiểm toán và trước khi thực hiện kiểm toán”.
Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần đánh giá tổng thể rủi ro kiểm
toán căn cứ vào hiểu biết của KTV về đặc điểm kinh doanh của khách hàng cũng như
tìm hiểu về ngành nghề, quản lý môi trường kiểm soát và hoạt động. Sự đánh giá như
vậy cung cấp thông tin sơ bộ về chiến lược chung đối với hợp đồng kiểm toán, nhân sự
cần thiết cho nhóm kiểm toán, thời gian kiểm toán và khuôn khổ đánh giá rủi ro kiểm

Bảng 1.1: Mối quan hệ về mức đánh giá giữa rủi ro phát hiện với rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
Đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát
Cao Trung bình Thấp
Đánh giá của KTV
về rủi ro tiềm tàng
Cao Thấp nhất Thấp Trung bình
Trung bình Thấp Trung bình Cao
Thấp Trung bình Cao Cao nhất
Trong bảng 1.1 rủi ro phát hiện (in nghiêng và đậm) được xác định căn cứ vào
mức rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát tương ứng. Mỗi loại rủi ro rủi ro và rủi ro kiểm
soát đều được chia thành 3 mức : Cao, trung bình và thấp. Rủi ro phát hiện được chia
thành 5 mức: Cao nhất, cao, trung bình, thấp và thấp nhất.
Trong cả hai mô hình ta thấy rủi ro phát hiện luôn tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát.
Từ những phân tích trên, mối quan hệ của các loại rủi ro với bằng chứng phải thu
thập được minh họa trong bảng 1.2 dưới đây:
Bảng 1.2: Mối quan hệ giữa mức đánh giá các loại rủi ro với bằng chứng cần
phải thu thập
Trường
hợp
Rủi ro kiểm
toán
Rủi ro tiềm
tàng
Rủi ro kiểm
soát
Rủi ro phát
hiện
Số lượng bằng

quản lý. Điều đó có nghĩa là KTV cần lựa chọn, xác định các đối tượng trọng yếu để
kiểm toán trong cuộc kiểm toán, cân nhắc trong mối quan hệ với phí kiểm toán.
VSA số 300 “Lập kế hoạch kiểm toán” cho thấy rõ vai trò của việc xác định trọng
yếu và rủi ro kiểm toán trong quá trình lập kế hoạch: “Kế hoạch kiểm toán phải được
lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc
kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc kiểm
toán được hoàn thành đúng thời hạn” và “khi xây dựng chương trình kiểm toán, KTV
phải xem xét các đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, cũng như mức độ đảm
bảo phải đạt được thông qua thử nghiệm cơ bản”.
ISA số 320 cũng quy định: “Khi lập kế hoạch kiểm toán, chuyên gia kiểm toán
phải cân nhắc xem những nhân tố có thể làm phát sinh những sai sót trọng yếu trong
BCTC. Đánh giá của chuyên gia kiểm toán về mức độ trọng yếu, liên quan đến số dư tài
khoản cụ thể và các loại nghiệp vụ giúp họ xác định được khoản mục nào cần kiểm tra
và nên sử dụng phương pháp chọn mẫu hay áp dụng các thủ tục phân tích. Điều này
giúp chuyên gia kiểm toán lựa chọn những thủ tục kiểm toán; kết hợp những thủ tục
kiểm toán đó lại với nhau có thể sẽ giảm được rủi ro kiểm toán tới một mức có thể chấp
nhận được”.
Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, mức trọng yếu được KTV dùng làm cơ sở
nhằm xác định mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên BCTC và đánh giá ảnh
hưởng của các sai sót đến BCTC để đưa ra ý kiến, kết luận cho phù hợp, đồng thời dựa
vào đó để xác định cỡ mẫu chọn cho từng khoản mục.
Nguyễn Thu Hảo - Kiểm toán 44 20
Luận văn tốt nghiệp đại học
VSA 530 “Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác” quy định về cỡ mẫu
như sau: “Kiểm toán phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu
giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu. Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng
bởi mức rủi ro kiểm toán. Rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được càng thấp, thì cỡ
mẫu cần thiết sẽ càng lớn”. Như vậy, rủi ro kiểm toán có ảnh hưởng một cách trực tiếp
đến cỡ mẫu đồng thời ảnh hưởng tới quá trình thu thập bằng chứng, cũng như ảnh
hưởng trực tiếp tới hiệu quả của cuộc kiểm toán. Trong quá trình thu thập bằng chứng

Những hiểu biết chung về nền kinh tế như: thực trạng nền kinh tế (ví dụ: suy
thoái, tăng trưởng...), mức độ lạm phát, tỷ giá các loại tiền tệ, các tỷ lệ lãi suất, các
Nguyễn Thu Hảo - Kiểm toán 44 21
Luận văn tốt nghiệp đại học
chính sách của chính phủ như chính sách tiền tệ, ngân hàng, chính sách tài chính, chính
sách thuế, chính sách khuyến khích đầu tư…
Những hiểu biết về môi trường và lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm
toán bao gồm: tình hình thị trường và cạnh tranh, các đặc điểm của ngành nghề kinh
doanh, các điều kiện bất lợi, nguồn cung cấp (hàng hóa, dịch vụ, lao động), các chuẩn
mực, chế độ kế toán cũng như các quy định cụ thể khác của luật pháp có liên quan đến
ngành nghề.
Những hiểu biết về các nhân tố nội tại của đơn vị được kiểm toán: bao gồm các
đặc điểm:
- Thứ nhất, những đặc điểm quan trọng về sở hữu và quản lý: Giám đốc và bộ
máy điều hành, loại hình doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân, cổ phần, liên doanh…), tổ
chức bộ máy sản xuất kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức sản xuất, kinh
doanh, các mục tiêu quản lý và kế hoạch chiến lược, các nguồn và biện pháp tài chính,
chức năng và chất lượng hoạt động của bộ phận kiểm toán nội bộ, quan niệm và thái độ
của giám đốc về hệ thống kiểm soát nội bộ…
- Thứ hai, những đặc điểm về tình hình kinh doanh của đơn vị: Đặc điểm về quy
mô hoạt động sản xuất kinh doanh; các điều kiện sản xuất, kho bãi, văn phòng; các vấn
đề về nhân lực (số lượng, chất lượng lao động, sự phân bố nhân lực…); về sản phẩm,
dịch vụ và thị trường; các nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ và lợi thế thương mại; các
khoản chi phí quan trọng; các tài sản, công nợ, hàng tồn kho; tình hình kinh doanh và
khả năng tài chính của đơn vị…
- Thứ ba, những đặc điểm về khả năng tài chính: gồm các nhân tố liên quan đến
tình hình tài chính và khả năng sinh lợi của đơn vị được kiểm toán như: các tỷ suất quan
trọng và số liệu thống kế về hoạt động kinh doanh, xu hướng biến động của kết quả tài
chính…
- Thứ tư, những đặc điểm về môi trường lập báo cáo: các tác động khách quan có

tình hình hoạt động kinh doanh của khách thể kiểm toán, phân tích còn giúp phát hiện
những biến động bất thường qua đó dự đoán những khu vực có rủi ro cao.
Những hiểu biết về tình hình kinh doanh là cơ sở quan trọng để đưa ra các xét
đoán chuyên môn. Việc sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả những hiểu biết thu thập
được trước hết giúp KTV đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, xác định trọng yếu
và đánh giá sự phù hợp của mức trọng yếu trong quá trình kiểm toán. Đồng thời những
thông tin trên cũng là cơ sở xây dựng kế hoạch và chương trình kiểm toán, đánh giá về
sự đầy đủ và tính thích hợp của bằng chứng kiểm toán, đánh giá các ước tính kế toán và
giải trình giám đốc, xác định các tình huống bất thường …
2.2. Đánh giá trọng yếu trong kiểm toán BCTC
Quy trình đánh giá trọng yếu gồm 5 bước có liên quan chặt chẽ với nhau, được thể
hiện trong Sơ đồ 1.3.
Bước1: Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu
Mức ước lượng ban đầu về trọng yếu là giá trị sai lệch tối đa được phép của các
BCTC với ý nghĩa không làm ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng thông
tin tài chính.
Mức ước lượng ban đầu về trọng yếu quyết định số lượng bằng chứng kiểm toán
cần thu thập. Nếu xác định một mức trọng yếu thấp thì bằng chứng kiểm toán cần phải
thu thập nhiều hơn so với khi xác định mức trọng yếu lớn hơn.
Nguyễn Thu Hảo - Kiểm toán 44 23
Luận văn tốt nghiệp đại học
Sơ đồ 1.3: Quy trình đánh giá trọng yếu
Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu sẽ thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán. Việc
xác định ước lượng mới phụ thuộc vào sự thay đổi của một trong các yếu tố được dùng
để xác định mức ước lượng ban đầu hoặc nhận định thay đổi của KTV đối với ước
lượng ban đầu về mức trọng yếu.
Ở bước này, cần phải ước tính toàn bộ sai sót sót có thể chấp nhận được đối với
toàn bộ BCTC để đảm bảo không còn sai lệch trọng yếu trong BCTC sau khi đã kiểm
toán. Mức trọng yếu tổng thể của BCTC được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhân với
một số gốc. Số gốc này có thể được sử dụng như: Tổng tài sản , tài sản cố định và đầu

kế toán cũng có ảnh hưởng như đối với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Đối với
các khoản mục, mức ước lượng trọng yếu chính là sai lệch tối đa đã được phép của
khoản mục.
Trên thực tế, rất khó đoán trước những tài khoản đã có sai số và các sai số đó là sai
số thừa hay sai số thiếu. Mặt khác, chi phí kiểm toán các số dư tài khoản khác nhau
thường không thể xác định được. Do đó, việc phân bổ đánh giá ban đầu về trọng yếu
cho các khoản mục, nghiệp vụ là một phán xét khó khăn mang tính nghiệp vụ. Để trợ
giúp cho công việc đánh giá, một số công ty kiểm toán đã có những hướng dẫn cụ thể để
thực hiện bước công việc này .
Nhìn chung, việc xác lập mức trọng yếu ở cả hai bước trên là vấn đề thuộc về sự
xét đoán nghề nghiệp của KTV. Trong từng trường hợp cụ thể,KTV dựa trên kinh
nghiệm và xét đoán nghề nghiệp của mình để xác định và chịu trách nhiệm về quyết
định của mình. Ngoài ra, KTV còn phải cân nhắc mối quan hệ giữa hiệu quả thu được
và chi phí kiểm toán; Nếu thiết lập một mức trọng yếu thấp hơn sẽ tăng khả năng phát
hiện sai lệch trọng yếu nhưng đồng thời cũng làm cho chi phí kiểm toán tăng lên.
Bước 3: Ước tính tổng số sai sót trong từng khoản mục
Khi tiến hành kiểm toán từng khoản mục, bằng các thủ tục kiểm toán, KTV phát
hiện ra các sai sót trong mẫu đối với từng khoản mục. Dựa trên cơ sở các sai sót được
phát hiện trong mẫu để ước tính sai sót của toàn bộ khoản mục, bộ phận. Sai sót này gọi
là sai sót dự kiến và được dùng để so sánh với sai sót có thể bỏ qua nhằm quyết định
khả năng chấp nhận những thông tin trên khoản mục đó hoặc phải liên tục tiến hành
thêm các thủ tục kiểm toán thích hợp.
Bước 4: Ước tính sai sót kết hợp của BCTC
Trên cơ sở sai sót dự kiến của từng khoản mục, bộ phận kiểm toán tổng hợp sai sót
dự kiến của toàn bộ các khoản mục trên BCTC
Bước 5: So sánh sai sót tổng hợp với ước lượng ban đầu về mức trọng yếu
(hoặc ước lượng ban đầu về trọng yếu đã được điều chỉnh lại)
Sai sót ước tính tổng hợp của toàn bộ BCTC (kết quả của bước 4) được so sánh
với ước lượng ban đầu về mức trọng yếu của toàn bộ BCTC hoặc ước lượng ban đầu về
mức trọng yếu đã được điều chỉnh trong quá trình kiểm toán. Kết quả này cho phép


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status