MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ ............................................................................................................1
L I NÓI UỜ ĐẦ .....................................................................................................2
PH N I: C S LÝ LU N V KI M TOÁN TI N L NG VÀ CÁC Ầ Ơ Ở Ậ Ề Ể Ề ƯƠ
KHO N TRÍCH THEO L NGẢ ƯƠ ....................................................................3
I. TI N L NG VÀ CÁC KHO N TRÍCH THEO L NGỀ ƯƠ Ả ƯƠ ...................3
II. M C TIÊU KI M TOÁN TI N L NG VÀ CÁC KHO N TRÍCH Ụ Ể Ề ƯƠ Ả
THEO L NGƯƠ .................................................................................................16
III. QUY TRÌNH KI M TOÁN TI N L NG VÀ CÁC KHO N Ể Ề ƯƠ Ả
TRÍCH THEO L NGƯƠ .................................................................................19
PH N II. TH C TR NG QUY TRÌNH KI M TOÁN TI N L NG VÀ Ầ Ự Ạ Ể Ề ƯƠ
CÁC KHO N TRÍCH THEO L NG T I CÔNG TY D CH V TẢ ƯƠ Ạ Ị Ụ V N Ấ
TÀI CHÍNH K TOÁN KI M TOÁN (AASC)Ế Ể ..........................................37
I. KHÁI QUÁT CHUNG V CÔNG TY D CH V TỀ Ị Ụ V N TÀI CHÍNH Ấ
K TOÁN KI M TOÁN (AASC).Ế Ể ..................................................................37
II. KI M TOÁN TI N L NG VÀ CÁC KHO N TRÍCH THEO Ể Ề ƯƠ Ả
L NG T I CÔNG TY D CH V HÀNG KHÔNG ABC DO CÔNG TY ƯƠ Ạ Ị Ụ
KI M TOÁN AASC TH C HI N.Ể Ự Ệ ................................................................43
PH N III. NH N XÉT VÀ M T S Ý KI N NH M HOÀN THI N Ầ Ậ Ộ Ố Ế Ằ Ệ
CÔNG TÁC KI M TOÁN TI N L NG VÀ CÁC KHO N TRÍCH Ể Ề ƯƠ Ả
THEO L NG T I CÔNG TY AASC.ƯƠ Ạ .........................................................64
K T LU NẾ Ậ ........................................................................................................76
M T S KÝ HI U VI T T T Ã S D NGỘ Ố Ệ Ế Ắ Đ Ử Ụ .............................................77
DANH M C TÀI LI U THAM KH O Ã S D NG.Ụ Ệ Ả Đ Ự Ụ .............................78
LỜI NÓI ĐẦU
Trên thế giới, ngành kiểm toán đã ra đời từ lâu, đã hoà mình vào dòng phát
triển của nền kinh tế thị trờng, đảm nhiệm vai trò quan trọng trong sự phân
công lao động xã hội của nhân loại. Đó là mang lại những thông tin kế toán có
độ tin cậy, đầy đủ, khách quan và hợp lý. Nhng ở Việt Nam thì hoạt động
kiểm toán mới chỉ ra đời vào những năm 90, với sự ra đời của hàng loạt Công
ty kiểm toán trong và ngoài nớc hoạt động trong môi trờng còn mới mẻ cả về
là giáo viên hớng dẫn Trần Mạnh Dũng đã tận tình giúp đỡ, đóng góp những
ý kiến quý báu cũng nh mang đến cho em một cái nhìn cụ thể hơn về đối tợng
thực hiện bài viết của em. Em xin chân thành cảm ơn các anh, các chị ở Công
ty AASC, đặc biệt là các anh chị phòng Thơng mại Dịch vụ đã giúp đỡ em
nhiệt tình đối với công tác tra cứu tài liệu, cũng nh tạo điều kiện cho em đợc
đi thực tế.
Tuy nhiên với một thời gian thực tế (14 tuần) cha đủ để cho em có một cái
nhìn toàn diện vừa mang tính tổng hơp và chi tiết về diện mạo của hoạt động
kiểm toán tại AASC, cho nên em không thể tránh khỏi những sai sót trong
quá trình thực hiện bài viết của mình. Rât mong đợc sự đóng góp và những lời
khuyên từ phía ngời đọc. Em xin chân thành cám ơn.
Hà Nội 4-2003
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
I. TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
1. Khái niệm và bản chất của tiền lương và các khoản trích theo lương
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cũng là quá trình tiêu hao
các yếu tố cơ bản (lao động, đối tợng lao động và t liệu lao động). Trong đó
lao động với t cách là lao động chân tay và trí óc của con ngời sử dụng các t
liệu lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tợng lao động thành các vật
phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình. Để đảm bảo liên tục
quá trình tái sản xuất, trớc hết phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, nghĩa
là sức lao động mà con ngời bỏ ra phải đợc bồi hoàn dới dạng thù lao lao
động. Tiền lương (tiền công) chính là phần thù lao lao động căn cứ vào thời
gian, khối lợng và chất lợng của công việc của họ. Về bản chất tiền lương
chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động. Mặt khác, tiền lương còn
là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng hái lao động đến kết quả
công việc của họ. Nói cách khác, tiền lương chính là một nhân tố thúc đẩy
năng suất lao động. Trên thực tế, thờng áp dụng các hình thức lương theo thời
gian, lương theo sản phẩm và tiền lương khoán.
Thứ hai, Trong các cuộc kiểm toán mà tiền lương là một bộ phận đáng kể
của hàng tồn kho tại các công ty sản xuất và chế biến và công ty xây dựng…,
việc phân loại không đúng đắn tài khoản tiền lương có thể ảnh hởng đáng kể
đến quá trình đánh giá tài sản của một số tài khoản nh sản phẩm đang chế tạo,
thành phẩm hoặc các công trình đang xây dựng dở dang. Thí dụ, chi phí sản
xuất chung phân bổ cho hàng tồn kho vào ngày lập bảng cân đối tài sản có thể
bị báo cáo d nếu tiền lương của nhân viên quản lý hành chính vô tình phân bổ
vào chi phí sản xuât chung. Tơng tự, quá trình đánh giá hàng tồn kho bị ảnh
hởng nếu chi phí lao động trực tiếp của các cá nhân, nhân viên không phân bổ
cho đúng công việc hoặc đúng quá trình sản xuất. Khi một số công việc đợc
tính hoá đơn theo phơng pháp cộng chi phí, thu nhập và giá trị của hàng tồn
kho đều bị ảnh hởng bởi việc phân bổ chi phí lao động không đúng công việc.
Khi chi phí lao động là một yếu tố trọng yếu trong quá trình đánh giá hàng
tồn kho thì phải có một sự chú trọng đặc biệt vào việc khảo sát các quá trình
kiểm soát nội, bộ cách phân loại đúng đắn các nghiệp vụ tiền lương. Tính chất
nhất quán từ kỳ này qua kỳ khác, một tính chất cơ bản của cách phân loại, có
thể đợc khảo sát bằng việc xem xét lại sơ đồ tài khoản và các thể thức thủ
công. Điều cũng nên làm là đối chiếu các phiếu công việc hoặc bằng chứng
khác về sự có làm việc của nhân viên trong một công việc hoặc quá trình sản
xuất cá biệt với sổ sách kế toán mà có ảnh hởng đến quá trình đánh giá hàng
tồn kho.
Thứ ba, tiền lương là một trong các khoản mục có thể xảy ra các hình
thức gian lận của nhân viên làm cho một lợng tiền lớn của công ty bị sử dụng
kém hiệu quả hoặc bị thất thoát. Với những lý do trên nên kiểm toán tiền
lương và các khoản trích theo lương thờng đợc kiểm toán viên chú trọng trong
các cuộc kiểm toán tài chính.
3. Chức năng của tiền lương và các khoản trích theo lương
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà
doanh nghiệp trả cho ngời lao động theo thời gian hoặc theo khối lợng công
việc, lao vụ mà ngời lao động đã đóng góp cho doanh nghiệp. Tiền lương của
xảy ra khi các nhân viên đợc thăng chức, thuyên chuyển công tác hoặc tăng
bậc tay nghề v.v…Khi đó, các nhà quản đốc hoặc đốc cống sẽ đề xuất với
Ban quản trị về sự thay đổi mức lương hoặc bậc lương cho cấp dới của họ.
Tuy nhiên, tất cả các sự thay đổi đó đều phải đợc ký duyệt bởi phòng nhân sự
hoặc ngời có thẩm quyền trớc khi ghi vào sổ nhân sự. Việc kiểm soát đối với
những thay đổi này nhằm đảm bảo tính chính xác về các khoản thanh toán
tiền lương.
Bộ phận nhân sự cũng cần phải công bố những trờng hợp đã mãn hạn hợp
đồng hoặc bị đuổi việc hoặc thôi việc nhằm tránh tình trạng những nhân viên
đã rời khỏi công ty rồi nhng vẫn đợc tính lương.
- Theo dõi, tính toán thời gian lao động và khối lợng công việc, sản phẩm
hoặc lao vụ hoàn thành: Việc ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác số ngày
công, giờ công làm việc thực tế hoặc ngừng sản xuất, nghỉ việc và số lợng
công việc/lao vụ hoàn thành của ngời lao động, từng đơn vị sản xuất, từng
phòng ban trong doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn trong quản lý lao động tiền
lương. Đây chính là căn cứ tính lương, tính thởng và các khoản trích trên tiền
lương cho các nhân viên.
Đối với các doanh nghiệp áp dụng chứng từ kế toán Việt Nam thì chứng từ
ban đầu sử dụng để hạch toán thời gian lao động và khối lợng công việc/lao
vụ dịch vụ hoàn thành là Bảng chấm công (Mẫu số 02- LĐTL- Chế độ chứng
từ kế toán) và phiếu xác nhận sản phẩm hoặc lao vụ, dịch vụ hoàn thành (mẫu
số 06-LĐTL-Chế độ chứng từ kế toán). Ngoài ra, doanh nghiệp còn sử dụng
các chứng từ khác có liên quan nh thẻ thời gian, Giấy chứng nhận nghỉ ốm,
thai sản, hoặc nghỉ phép.v.v… để làm căn cứ tính lương và các khoản trích
theo lương.
Thông thờng, Bảng chấm công đợc lập riêng cho từng bộ phận (sản xuất,
phòng, ban, tổ, nhóm .v.v…) và dùng cho một kỳ thanh toán (thờng là một
tháng). Mọi thời gian thực tế làm việc, nghỉ việc, vắng mặt ngời lao động đều
đợc ghi chép hằng ngày vào Bảng chấm công. Ngời giám sát (đốc công, quản
đốc, đội trởng…) của bộ phận thực hiện công tác chấm công cho nhân viên
quy định của pháp luật hiện hành hoặc thoả thuận giữa ngời sử dụng lao động
hoặc ngời lao động.
Sau khi tính toán xong thì kế toán phải lập thành các Bảng thanh toán tiền
lương, Bảng thanh toán tiền thởng ( Theo các mẫu số 02 và 03-LĐ tiền lương-
Chế độ chứng từ kế toán) để làm căn cứ thanh toán tiền lương, phụ cấp và th-
ởng cho ngời lao động. Bên cạnh đó kế toán cũng phải lập Bảng khai các tài
khoản phải nộp phải trả về các khoản phải trích theo lương. Đồng thời nó
cũng chính là cơ sở để kiểm tra việc thanh toán lương cho ngời lao động và
thanh toán các nghĩa vụ với các cơ quan chức năng.
Trong quá trình lập các bảng thanh toán tiền lương, tiền thởng cho ngời lao
động thì kế toán phải tiến hành phân loại các loại tiền lương, tiền thởng phải
trả cho từng nhóm ngời lao động theo bộ phận sử dụng lao động và chức năng
của ngời lao động nh lao động trực tiếp, lao động phục vụ quản lý ở bộ phận
sản xuất, lao động phục vụ bán hàng, hay lao động phòng ban để làm căn cứ
phân loại tiền lương, thởng vào chi phí một cách hợp lý và đúng đắn.
- Ghi chép sổ sách tiền lương: Trên cơ sở các bảng thanh toán tiền lương,
thởng và các chứng từ gốc đính kèm kế toán tiến hành vào sổ nhật ký tiền
lương. Định kỳ, Sổ nhật ký tiền lương sẽ đợc kết chuyển sang Sổ cái. Đồng
thời với việc vào sổ, kế toán tiền lương viết các phiếu chi hoặc séc chi kèm
theo Bảng thanh toán tiền lương cho thủ quỹ sau khi đã đợc phê duyệt bởi ng-
ời có thẩm quyền ( Kế toán trởng, giám đốc tài chính…).
- Thanh toán tiền lương và bảo đảm những khoản lương cha thanh toán:
khi thủ quỹ nhận đợc phiếu chi hoặc séc chi lương kèm theo bảng thanh toán
tiền lương, tiền thởng thì thủ quỹ phải kiểm tra đối chiếu tên và số tiền đợc
nhận giữa phiếu chi hoặc séc chi lương với danh sách thanh toán trên bảng
tiền lương, thởng. Các phiếu chi hoặc séc chi phải đợc ký duyệt bởi ngời mà
không trực tiếp tính toán tiền lương hay vào sổ sách kế toán tiền lương. Sau
khi thủ quỹ đã kiểm tra xong phiếu chi hoặc séc chi lương thì tiến hành chi
lương cho nhân viên và yêu cầu ngời nhận ký vào phiếu chi hoặc séc chi đồng
thời thủ quỹ phải ký vào phiếu và đóng dấu “Đã chi tiền”. Các phiếu chi hoặc
Chức năng là tuyển dụng và thuê
mớn
tuyển chọn thuê mớn
lập báo cáo tình hình nhân sự
lập sổ nhân sự
lập hồ sơ nhân sự
BỘ PHẬN KẾ TOÁN TIỀN
LƯƠNG
Tính lương, thởng và lập bảng thanh
toán lương, thởng và các khoản phải trả
phải nộp
Ghi chép sổ sách kế toán
Thanh toán lương thởng và các khoản
liên quan.
cho quản lý, đòi hỏi hạch toán lao động và tiền lương phải quán triệt các
nguyên tắc sau:
a. Phân loại lao động hợp lý
Do lao động trong doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau nên để thuận lợi
cho việc quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại. Phân loại lao
động là việc sắp xếp lao động vào các nhóm khác nhau theo những đặc trng
nhất định. Về mặt quản lý và hạch toán, lao động thờng đợc phân theo các
tiêu thức sau:
- Phân theo thời gian lao động
Theo thời gian lao động, toàn bộ lao động có thể chia thành lao động th-
ờng xuyên, trong danh sách (gồm cả số hợp đồng ngắn hạn và dài hạn) và lao
động tạm thời, mang tính thời vụ. Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp
nắm đợc tổng số lao động của mình, từ đó có kế hoạch sử dụng, bồi dỡng,
tuyển dụng và huy động khi cần thiết. Đồng thời, xác định các khoản nghĩa vụ
với ngời lao động và với nhà nớc đợc chính xác.
- Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất
nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính…
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho việc tập hợp chi phí lao động đợc
kịp thời, chính xác, phân định đợc chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.
b. Phân loại tiền lương một cách phù hợp
Do tiền lương có nhiều loại với tính chất khác nhau, chi trả cho các đối t-
ợng khác nhau nên cần phân loại tiền lương theo tiêu thức phù hợp. Trên thực
tế có rất nhiều cách phân loại tiền lương nh phân loại tiền lương theo cách
thức trả lương (lương sản phẩm, lương thời gian), phân loại tiền lương theo
đối tợng trả lương (lương gián tiếp, lương trực tiếp), phân loại theo chức năng
tiền lương (lương sản xuất, lương bán hàng, lương quản lý)…Mỗi cách phân
loại đều có một tác dụng nhất định trong quản lý. Tuy nhiên, để thuận lợi cho
công tác hạch toán nói riêng và quản lý nói chung, xét về mặt hiệu quả, tiền
lương đợc chia làm hai loại là tiền lương chính và tiền lương phụ. Trong đó,
tiền lương chính là bộ phận tiền lương trả cho ngời lao động trong thời gian
thực tế có làm việc bao gồm cả tiền lương cấp bậc, tiền thởng và các khoản
phụ cấp có tính chất tiền lương. Ngợc lại, tiền lương phụ là bộ phận tiền
lương trả cho ngời lao động trong thời gian thực tế không làm việc nhng đợc
chế độ quy định nh nghỉ phép, hội họp, học tập, lễ tết, ngừng sản xuất… Cách
phân loại này không những giúp cho việc tính toán, phân bổ chi phí tiền
lương đợc chính xác mà còn cung cấp thông tin cho việc phân tích chi phí tiền
lương.
4.2. Các chế độ tiền lương
Việc tính lương và trả chi phí lao động có thể thực hiện theo nhiều hình
thức khác nhau, tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc
và trình độ quản lý của doanh nghiệp. Mục đích của chế độ tiền lương là
nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động. Trên thực tế, thờng áp
dụng các hình thức (chế độ) tiền lương theo thời gian, tiền lương theo sản
phẩm và tiền lương khoán.
a. Tiền lương theo thời gian
Thờng áp dụng cho các lao động làm công tác văn phòng nh hành chính
lao động, hàng tháng kế toán doanh nghiệp phải lập “Bảng thanh toán tiền
lương” cho từng tổ, đội, phân xởng sản xuất và các phòng ban căn cứ vào kết
quả tính lương cho từng ngời. Trên bảng tính lương cần ghi rõ từng khoản
tiền lương (lương sản phẩm, lương thời gian), các khoản phụ cấp, trợ cấp, các
khoản khấu trừ và số tiền ngời lao động còn đợc lĩnh. Khoản thanh toán về trợ
cấp BHXH cũng đợc lập tơng tự. Sau khi kế toán trởng kiểm tra, xác nhận và
ký, giám đốc duyệt y, “Bảng thanh toán tiền lương và BHXH” sẽ đợc làm căn
cứ để thanh toán tiền lương và BHXH cho ngời lao động. Thông thờng, tại
các doanh nghiệp, việc thanh toán lương và các khoản khác cho ngời lao động
đợc chia làm hai kỳ: Kỳ 1 tạm ứng và kỳ 2 sẽ nhận số còn lại sau khi đã trừ đi
các khoản khấu trừ và thu nhập. Các khoản thanh toán lương, thanh toán
BHXH, bảng kê danh sách những ngời cha lĩnh lương cùng với các chứng từ
và báo cáo thu, chi tiền mặt phải chuyển kịp thời cho phòng kế toán để kiểm
tra, ghi sổ.
5.2. Tài khoản hạch toán
Để hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử dụng tài
khoản sau:
Tài khoản 334 “Phải trả công nhân viên”
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản thanh toán với công nhân viên
của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, phụ cấp, BHXH, tiền thởng và các
khoản thuộc về thu nhập của họ.
Tài khoản 338 “Phải trả phải nộp khác”
Dùng để phản ánh các khoản phải trả và phải nộp cho cơ quan pháp luật,
cho các tổ chức, đoàn thể xã hội, cho cấp trên về kinh phí công đoàn, BHXH,
BHYT; doanh thu nhận trớc của khách hàng; các khoản khấu trừ lương theo
quyết định của toà án; giá trị tài sản thừa chờ xử lý; các khoản vay mợn tạm
thời; các khoản nhận ký quỹ, ký cợc ngắn hạn của phía đối tác; các khoản thu
hộ, giữ hộ, các khoản vay mợn tạm thời…
5.3. Phơng pháp hạch toán
Hàng tháng, tính ra tổng số tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính
Thanh toán lương, thởng
BHXH, khoản # cho NV TK 3383
BHXH phải trả trực tiếp
Sơ đồ5.3b. Hạch toán thanh toán BHXH, BHYT, KPCĐ
TK 334 TK338 TK622, 627,641, 642
Số BHXH phải trả Trích KPCĐ, BHYT
trực tiếp cho CNV theo tỷ lệ quy định
tính vào CF kinh doanh
TK 334
TK 111,112… Trích BHYT trừ vào
Nộp KPCĐ, BHXH, thu nhập của CNV
BHYT cho cơ quan
quan lý TK111,112…
Chi tiêu KPCĐ tại Số BHXH, KPCĐ
cơ sở chi vợt đợc cấp
II. MỤC TIÊU KIỂM TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO
LƯƠNG
1. Mục tiêu chung
1.1. Mục tiêu kiểm toán chung
Là một loại hình kiểm toán, kiểm toán tài chính cũng thực hiện chức năng
xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tợng kiểm toán. Đối tợng kiểm toán nói
chung và đối tợng kiểm toán tài chính nói riêng luôn chứa đựng nhiều mối
quan hệ về kinh tế và pháp lý phong phú và đa dạng. Do đó nên chức năng
xác minh và bày tỏ ý kiến cần đợc xác định thật khoa học. Hơn nữa, trong
kiểm toán tài chính, ý kiến hay kết luận kiểm toán không phải phục vụ cho
bản thân ngời lập hay ngời xác minh mà phục vụ cho ngời quan tâm đến tính
trung thực và hợp pháp của báo cáo tài chính. Do đó kết luận này phải dựa
theo phơng diện toán học hay không.
Mục tiêu phân loại: Là hớng xem xét lại việc xác định các bộ phận, nghiệp
vụ đợc đa vào tài khoản cùng việc sắp xếp các tài khoản trong các Báo cáo tài
chính theo bản chất kinh tế của chúng đợc thể hiện bằng các văn bản pháp lý
cụ thể đang có hiệu lực. Trong các văn bản này hệ thống tài khoản là cơ sở
ban đầu để thẩm tra, phân loại tài sản, nghiệp vụ và vốn của khách hàng.
Đồng thời giới hạn về thời gian, đặc biệt là những nghiệp vụ xảy ra cuối kỳ kế
toán cũng là một trọng tâm rà soát việc ghi chép vào các tài khoản. Với nội
dung trên, mục tiêu này là sự bổ sung cần thiết vào cam kết về phân loại và
trình bày.
Mục tiêu chính xác cơ học: Là hớng xác minh về sự đúng đắn tuyệt đối qua
các con số cộng sổ và chuyển sổ; các chi tiết trong số d (cộng số phát sinh)
của tài khoản cần nhất trí với các con số trên các sổ phụ tơng đơng; số cộng
gộp của tài khoản trùng hợp với số tổng cộng trên các sổ phụ có liên quan;
các con số chuyển sổ sang trang phải thống nhất.
Bảng 2.2. Mối quan hệ giữa mục tiêu chung và mục tiêu đặc thù
Mục tiêu chung Mục tiêu đặc thù
Mục tiêu về sự hiện hữu và có
thực
Các nghiệp vụ tiền lương đã đợc ghi chép
thì thực sự đã xảy ra.
Các khoản chi phí tiền lương và các khoản
tiền lương cha thanh toán thực sự tồn tại
Mục tiêu trọn vẹn
Tất cả các nghiệp vụ xảy ra thì đều đợc ghi
chép đầy đủ và đúng với thực tế
Mục tiêu về quyền và nghĩa vụ
Doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán
lương và các khoản trích theo lương
Mục tiêu đo lờng và đánh giá
bộ phận cấu thành: Kế hoạch chiến lợc; Kế hoạch kiểm toán tổng thể; Chơng
trình kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán tiền lương gồm các bớc công việc nh sau:
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của
khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích
Đánh giá trọng yếu rủi ro kiểm soát
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá
rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo
chơng trình kiểm toán
1.1. Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Quy trình bắt đầu khi Công ty kiểm toán tiếp nhận một khách hàng. Thu
nhận khách hàng là quá trình gồm hai bớc: thứ nhất, phải có sự liên hệ giữa
Công ty kiểm toán và khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu cầu đợc
kiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có
chấp nhận yêu cầu đó hay không. Còn đối với những khách hàng hiện tại,
kiểm toán viên phải quyết định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không? Trên cơ
sở xác định đợc đối tợng khách hàng có thể phục vụ trong tơng lai, công ty
kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để tiến hành lập kế hoạch kiểm
toán, bao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do
kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và kí kết hợp đồng kiểm
toán.
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Kiểm toán viên phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng mới
hay tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt
động của kiểm toán viên hay làm hại đến uy tín của Công ty kiểm toán hay
không? Để làm đợc điều đó, kiểm toán viến phải tiến hành các công việc nh
sau:
kinh doanh của khách hàng. Những thông tin này đợc thu thập trong quá trình
tiếp xúc với Ban giám đốc Công ty khách hàng bao gồm những loại sau:
Giấy phép thành lập và điều lệ công ty
Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm
hiện hành hay trong vài năm trớc.
Biên bản các cuộc họp cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc
Các hợp đồng và các cam kết quan trọng
Đối với kiểm toán tiền lương và nhân viên thì kiểm toán viên cần thu thập
tìm hiểu về hợp đồng, khế ớc, định mức lao động và các văn bản liên quan
đến thanh toán tiền lương, các quy định của pháp luật, các chính sách tài
chính liên quan đến tiền lương và nhân viên, quy chế nhân viên…
1.4. Thực hiện thủ tục phân tích
Theo chuẩn mực kiểm toán hiện hành các thủ tục phẩn tích đợc áp dụng
cho tất cả các cuộc kiểm toán và chúng thờng đợc thực hiện trong tất cả các
giai đoạn của cuộc kiểm toán.
Thủ tục phân tích, theo đinh nghĩa của chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số
520, “là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó
tìm ra những xu hớng biến động và tìm ra mối quan hệ có mâu thuẫn với các
thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”.
Các thủ tục phân tích đợc kiểm toán viên sử dụng gồm hai loại cơ bản:
- Phân tích ngang (phân tích xu hớng): là việc phân tích dựa trên cơ sở so
sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính.
Các chỉ tiêu đợc sử dụng ngang bao gồm:
So sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trớc hoặc giữa các kỳ với nhau và
qua đó kiểm toán viên thấy đợc những biến động bất thờng và xác định đợc
các lĩnh vực cần quan tâm. Ví dụ, tỷ số thanh toán hiện hành giảm đột ngột
với quy mô lớn cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tình hình tài
chính, khả năng thanh toán công nợ…
So sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán hoặc số liệu ớc tính của kiểm
toán viên.
yếu cho mỗi bộ phận là điều thiết yếu. Hơn nữa, nó giúp cho kiểm toán viên
xác địinh đợc trọng tâm các bộ phận tiến hành và từ đó đa ra mức bằng chứng
hợp lý cần thu thập.
Xác định mức trọng yếu cho khoản mục tiền lương và các khoản trích theo
lương:
Việc xác định mức trọng yếu đối với tiền lương và các khoản trích theo
lương là một yếu tố quan trọng trong tổ chức công tác kiểm toán. Công việc
này không những có ý nghĩa rất lớn đối với tính chính xác và trung thực của
các thông tin trên báo cáo tài chính mà là yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả
của công tác kiểm toán. Tuy nhiên mức trọng yếu đối với tiền lương và các
khoản trích theo lương đợc xây dựng trên nhiều yếu tố khác nhau. Việc đa ra
một mức trọng yếu ban đầu phụ thuộc vào:
Mức độ lớn của tiền lương và các khoản trích theo lương và tỉ trọng của nó
trong sản xuất kinh doanh.
Sự cân nhắc, xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên.
Thông thờng, đối với khoản mục tiền lương và các khoản mục trích theo
lương kiểm toán viên thờng xác định mức trọng yếu với quy mô tơng đối lớn,
tổng thể thờng đợc chọn để xác định mức trọng yếu cho các khoản tiền lương
và các khoản trích theo lương là doanh thu hoặc giá vốn.
1.5.2. Đánh giá rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán là rủi ro do Công ty kiểm toán và kiểm toán viên đa ra
nhận xét không thích hợp khi Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán còn có
những sai sót trọng yếu. Do sự giới hạn của chọn mẫu kiểm toán và việc phát
hiện ra các sai phạm cùng với những gian lận đợc che dấu kỹ là rất khó khăn
nên kiểm toán viên không thể phát hiện ra tất cả các sai sót trọng yếu trên Báo
cáo tài chính. Vì vậy luôn có rủi ro kiểm toán ngay cả khi kiểm toán viên tuân
thủ các chuẩn mực kiểm toán đã đợc chấp nhận chung.
Việc đa ra mức rủi ro kiểm toán mong muốn có ý nghĩa quan trọng đối với
giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán nói riêng và toàn bộ công tác kiểm toán nói
chung.
lại rủi ro kiểm toán đợc đánh giá thấp thì kiểm toán viên có thể dựa vào kiểm
soát nội bộ để giảm các thử nghiệm cơ bản. Do vậy, sự hiểu biết về hệ thống
kiểm soát nội bộ cũng nh sự đánh giá chính xác rủi ro kiểm soát sẽ giúp cho
kiểm toán viên:
Xác định đợc các loại thông tin sai sót nghiêm trọng có thể xảy ra trên báo
cáo tài chính.
Xem xét các nhân tố tác động đến khả năng để xảy ra các sai sót nghiêm
trọng.
Thiết kê phơng pháp thích hợp.
Việc đánh giá rủi ro kiểm soát đợc thực hiện theo các bớc sau:
- Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát.
- Thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm soát.