Lời mở đầu
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trờng, bất kỳ một doanh
nghiệp, cá nhân hoạt động kinh doanh đều phải quan tâm tới tình hình tài chính
của mình. Những thông tin này có vai trò quan trọng không chỉ đối với chính
doanh nghiệp mà còn đối với những ngời quan tâm tới tình hình tài chính của
doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, không phải bất kỳ thông tin nào của doanh nghiệp
cũng đợc phản ánh trung thực, hợp lý, khách quan. Do đó cần phải đợc kiểm toán.
Nh vậy kiểm toán là hoạt động tất yếu để duy trì sự công bằng và tạo niềm tin cậy
trong các quan hệ kinh tế - xã hội trong điều kiện cạnh tranh.
Kinh tế thị trờng tạo ra nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp, song nó cũng
gây ra nhiều mặt trái .Trong điều kiện cạnh tranh đó, các doanh nghiệp luôn phải
nỗ lực không ngừng để giành giật thị trờng, tạo thế đứng trong xã hội. Cạnh tranh
tất yếu dẫn đế kẻ thua, ngời thắng. Trong thơng trờng không biết lúc nào mình sẽ
thành kẻ thua, lúc nào sẽ trở thành giàu có. Đối với các doanh nghiệp khi kinh
doanh, tổn thất có thể xảy ra là không thể tránh khỏi. Kinh tế thị trờng có thể làm
cho doanh nghiệp phát triển nhng nó cũng làm cho chính doanh nghiệp đó bị thua
lỗ. Để đảm bảo cho tình hình tài chính đợc ổn định đồng thời để có thể bù đắp
cho khoản tổn thất có thể xảy ra, doanh nghiệp sẽ dự trù một khoản dự tính trớc để
cho vào chi phí. Đó là khoản dự phòng: dự phòng cho các khoản đầu t tài chính,
cho nợ phải thu khó đòi, cho giảm giá hàng tồn kho.
Các khoản dự phòng này đợc coi nh một phần chi phí và đợc trừ vào kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Việc làm này một mặt giúp doanh nghiệp có thể
tránh khỏi những khoản tổn thất nhng một mặt nó cũng tạo ra một kẽ hở cho chính
doanh nghiệp đó trong việc cố tình ghi tăng các khoản dự phòng để làm tăng chi
phí, từ đó lợi nhuận sẽ giảm và thuế thu nhập phải nộp Nhà nớc cũng giảm theo.
Nhà nớc tạo một quy chế giúp doanh nghiệp có thể thoát khỏi tình trạng tài chính
xấu nhng đồng thời cũng tạo giúp doanh nghiệp có đợc chỗ lách để trốn thuế.
Nh vậy đây là khoản mục rất dễ xảy ra các sai phạm. Các khoản dự phòng
luôn là đối tợng quan tâm đặc biệt của kế toán và kiểm toán bởi tính trọng yếu của
nó cũng nh mối liên hệ của nó tới các chỉ tiêu khác trên Báo cáo tài chính. Việc đa
ra những đánh giá nhận xét đối với các chỉ tiêu trên Báo các tài chính cũng phụ
có sử dụng việc trích lập các khoản dự phòng. Các khoản dự phòng bao gồm : dự
phòng giảm giá chứng khoán đầu t trong hoạt động tài chính (ngắn hạn, dài hạn),
dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Các thuật ngữ này đợc hiểu nh sau:
Dự phòng giảm giá chứng khoán đầu t trong hoạt động tài chính: là dự
phòng phần giá trị bị tổn thất do giảm giá các loại chứng khoán của doanh nghiệp
có thể xảy ra trong năm kế hoạch.
Nếu căn cứ vào mục đích và thời hạn, dự phòng giảm giá chứng khoán đợc
chia ra làm hai loại: dự phòng giảm giá đầu t ngắn hạn và dự phòng giảm giá đầu
t dài hạn. Cả hai khoản này đợc lập để ghi nhận các khoản lỗ có thể phát sinh do
sự giảm giá của các chứng khoán đầu t ngắn hạn và đầu t dài hạn.
Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của
các khoản nợ phải thu, có thể không đòi đợc do đơn vị nợ hoặc ngời nợ không có
khả năng thanh toán trong năm kế hoạch.
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do
giảm giá vật t, thành phẩm, hàng tồn kho có thể xảy ra trong năm kế hoạch.
Việc trích lập và sử dụng các khoản dự phòng tại mỗi doanh nghiệp đều
phải tuân theo các quy định chung của Nhà nớc cũng nh của Bộ Tài chính. Do vậy
tìm hiểu về các khoản dự phòng cần có những hiểu biết về việc sử dụng và trích
lập đó.
1.2 Đặc điểm và quy định chung về các khoản dự phòng
1.2.1 Đối t ợng trích lập dự phòng
Các đối tợng trích lập dự phòng bao gồm:
-Nguyên vật liệu, dụng cụ dùng cho sản xuất, vật t hàng hoá, thành phẩm
tồn kho, mà giá trên thị trờng thấp hơn giá đang hạch toán trên sổ sách.
-Các chứng khoán do doanh nghiệp đầu t bị giảm giá so với giá đang hạch
toán trên sổ sách.
-Các khoản nợ phải thu khó đòi.
1.2.2 Điều kiện lập dự phòng
Đối với các loại chứng khoán giảm giá:
mặt bằng chung trên thị trờng .
-Trờng hợp vật t hàng hoá tồn kho có giá trị bị giảm so với giá gốc nhng giá
bán sản phẩm dịch vụ đợc sản xuất từ vật t hàng hoá này không bị giảm giá thì
không đợc trích lập dự phòng giảm giá vật t hàng hoá vật t hàng hoá tồn kh
1.2.3 Thời điểm lập và hoàn nhập các khoản dự phòng
-Việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá chứng khoán đầu
t trong hoạt động tài chính,dự phòng giảm giá hàng tồn kho,dự phòng nợ phải thu
khó đòi đều đợc thực hiện ở thời điểm khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính
năm.
-Trờng hợp doanh nghiệp đợc Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng năm tài
chính khác với năm dơng lịch ( bắt đầu từ ngày1/1 và kết thúc 31/12 hàng năm) thì
thời điểm lập dự phòng là ngày cuối cùng của năm tài chính.
1.2.4 Ph ơng pháp lập các khoản dự phòng
a>Lập phòng giảm giá các loại chứng khoán đầu t
Doanh nghiệp lập dự phòng cho loại chứng khoán bị giảm giá , có biến
động giảm giá tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm của năm báo cáo và đợc
tổng hợp và bảng kê chi tiết dự phòng giảm giá chứng khoán đầu t làm căn cứ
hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Công thức:
Mức dự Số lợng chứng Giá Giá
phòng giảm khoán bị giảm chứng khoán chứng khoán
giá đầu t = giá tại thời điểm x hạch toán - thực tế
chứng khoán lập báo cáo tài trên sổ trên thị
cho năm kế hoạch chính năm kế toán trờng
b>Lập dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi
Trên cơ sở những đối tợng và điều kiện lập dự phòng nợ phải thu khó đòi,
doanh nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra trong năm kế hoạch của các
khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi kèm theo
các chứng cứ chứng minh các khoản nợ khó đòi trên.
Sau khi lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi,doanh nghiệp
nhập , cụ thể nh sau:
a>Đối với khoản dự phòng giảm giá chứng khoán đầu t
Cuối năm, doanh nghiệp có chứng khoán bị giảm giá so với giá trị ghi trên
sổ sách kế toán thì cần trích lập dự phòng:
Nếu số dự phòng giảm giá trích lập cho năm kế hoạch bằng số dự phòng
giảm giá chứng khoán đã trích thì doanh nghiệp không phải trích lập khoản dự
phòng giảm giá chứng khoán đầu t.
Trờng hợp số dự phòng giảm giá phải trích lập cao hơn số d khoản dự
phòng giảm giá chứng khoán đã trích lập năm trớc thì doanh nghiệp trích thêm vào
chi phí hoạt động tài chính phần chênh lệch giữa số phải trích lập cho năm kế
hoạch với số d khoản dự phòng khoản dự phòng đã trích lập năm trớc, ghi:
Nợ TK 635 Chi phí hoạt động tài chính (chi tiết từng loại chứng khoán)
Có TK 129, 229 Dự phòng giảm giá đầu t ngắn hạn, đầu t dài hạn.
Ngợc lại, nếu số dự phòng phải trích cho năm kế hoạch thấp hơn số d
khoản dự phòng giảm giá chứng khoán đầu t đã trích lập năm trớc thì doanh
nghiệp ghi giảm chi phí phần chênh lệch, ghi:
Nợ TK 129, 229 Dự phòng giảm giá đầu t ngắn hạn, đầu t dài hạn.
Có TK 635 Chi phí hoạt động tài chính( chi tiết từng loại chứng
khoán)
b>Đối với khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi
Khi các khoản nợ phải thu đợc xác định khó đòi doanh nghiệp phải trích
lập dự phòng nợ phải thu khó đòi. Nếu dự phòng phải trích lập cho năm kế hoạch
bằng số d dự phòng nợ phải thu khó đòi thì doanh nghiệp không phải trích lập.
Nếu số dự phòng phải trích lập cao hơn số d khoản dự phòng nợ phải thu
khó đòi đã trích lập năm trớc thì số chênh lệch đợc trích thêm, ghi:
Nợ TK 642 Chi phí quản lý doanh nghiệp ( Chi tiết từng công nợ )
Có TK 139 Dự phòng nợ phải thu khó đòi.
Trờng hợp số dự phòng phải trích cho năm kế hoạch thấp hơn số d khoản
dự phòng nợ phải thu khó đòi thì phải ghi giảm chi phí phần chênh lệch, ghi:
Nợ TK 139 Dự phòng nợ phải thu khó đòi.
Cuối kì kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện đợc của hàng tồn
kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho .Số dự phòng
giảm giá hàng tồn kho đợc lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn
hơn giá trị thuần có thể thực hiện đợc của chúng.
Trờng hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối kỳ kế
toán năm nay lớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trích lập ở cuối
kỳ kế toán năm trớc thì số chênh lệch lớn hơn đợc lập thêm, ghi:
Nợ TK 632 Giá vốn hàng bán ( chi tiết dự phòng giảm giá hàng tồn kho )
Có TK 159 Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Trờng hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối kỳ kế
toán năm nay nhỏ hơn khoản sự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế
toán năm trớc thì số chênh lệch đợc , ghi:
Nợ TK 159 Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Có TK 632 Giá vốn hàng bán (chi tiết dự phòng giảm giá HTK)
Trên cơ sở hiểu biết về các quy định chung đối với việc trích lập và xử lý
các khoản dự phòng, nhiệm vụ và mục tiêu kiểm toán sẽ đợc đề ra tơng ứng với
các khoản dự phòng đó.
II> Kiểm toán các khoản dự phòng
2.1 Nhiệm vụ kiểm toán
Do đặc điểm và những quy định chung trong việc trích lập và xử lý các
khoản dự phòng nên khi kiểm toán các khoản dự phòng cần kiểm toán một cách
chặt chẽ, dựa trên các chính sách, thủ tục, quy trình kiểm toán để kiểm tra và đánh
giá; kiểm toán các chứng từ, sổ sách có liên quan đến việc trích lập dự phòng:
Đối với dự phòng nợ phải thu khó đòi phải xét trong mối quan hệ với
các khoản nợ phải thu khó đòi.
Đối với dự phòng giảm giá chứng khoán đầu t cần liên hệ với việc
kiểm toán các khoản đầu t ngắn hạn và dài hạn.
Đối với dự phòng giảm giá hàng tồn kho kiểm toán gắn liền với kiểm
toán khoản mục hàng tồn kho.
2.2 Mục tiêu kiểm toán
cổ phần, thu nhập, chi phí trên Bảng.
Xác nhận về sự phân loại và trình bày: Là sự cam kết về sự phù hợp giữa
việc phân loại và trình bày các phần hợp thành của Báo cáo tài chính với những
quy định đang có hiệu lực về sự phân loại và thuyết trình các bộ phận nài
Mục tiêu chính xác cơ học: là hớng xác minh về sự đúng đắn tuyệt đối
qua các con số cộng sổ và chuyển sổ: các chi tiết trong số d ( cộng số phát sinh)
của tài khoản cần nhất trí với các con số ghi trên các sổ phụ tơng ứng; số cộng gộp
của các tài khoản trùng hợp với số tổng cộng trên các sổ phụ có liên quan; các con
số chuyển sổ , sang trang phải thống nhất.
Từ các mục tiêu chung và hiểu đợc các mục tiêu đó, công việc tiếp theo là
cụ thể hoá các mục tiêu chung vào các khoản mục và phần hành cụ thể.
2.2.2 Mục tiêu kiểm toán đặc thù
Mục tiêu kiểm toán đặc thù đợc xác định trên cơ sở mục tiêu kiểm toán
chung và đặc điểm của các khoản mục hay phần hành (đối tợng kiểm toán cụ thể)
cùng cách theo dõi chúng trong hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ.
Mục tiêu kiểm toán đặc thù đợc mô tả trong Bảng mục tiêu kiểm toán đặc thù
( trang 14).
2.3 Các rủi ro th ờng gặp trong kiểm toán các khoản dự phòng.
Trong kiểm toán, rủi ro kiểm toán là một điều không thể tránh khỏi. Trong
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ rủi
ro kiểm toán đợc hiểu là rủi ro do Công ty kiểm toán và kiểm toán viên đa ra ý
kiến nhận xét không thích hợp khi Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán còn
những sai sót trọng yếu .
Khi kiểm toán các khoản dự phòng, rủi ro kiểm toán đối với các khoản này
thờng cao.
Các rủi ro thờng gặp có thể là:
Đối với các khoản dự phòng giảm giá chứng khoán đầu t: Rủi ro kiểm
toán là việc không phản ánh chính xác giá trị giảm giá chứng khoán đầu t do
không đợc ghi giảm giá theo giá thị trờng hoặc do doanh nghiệp cố tình trích tăng
Định giá và phân bổ
Việc trích lập và xử lý các khoản dự phòng phải
tuân thủ theo các quy định chung và phản ánh
đúng giá trị.
Chính xác cơ học
Số tổng cộng các khoản dự phòng phải thống
nhất giữa sổ phụ và sổ tổng hợp
Phân loại và trình bày
Phân loại đúng các khoản dự phòng theo từng
đối tợng chứng khoán giảm giá, giảm giá hàng
tồn kho, nợ phải thu khó đòi.
2.4 Kiểm toán các khoản dự phòng.
Kiểm toán các khoản dự phòng thực chất là thực hiện kiểm toán các khoản
mục trong kiểm toán báo cáo tài chính. Do đó khi thực hiện kiểm toán các khoản
này, kiểm toán cũng tuân theo quy trình kiểm toán chung gồm các bớc: lập kế
hoạch kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, kết thúc kiểm toán.
2.4.1 Lập kế hoạch kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cần
thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 quy định: Kế hoạch kiểm
toán phải đợc lập cho mọi cuộc kiểm toán, trong đó mô tả phạm vi dự kiến và
cách thức tiến hành công việc kiểm toán. Việc lập kế hoạch cho cuộc kiểm toán
giúp bao quát đợc các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, phát hiện gian lận
và những vấn đề tiềm ẩn, đảm bảo cho cuộc kiểm toán hoàn thành đúng thời hạn
quy định.
Chuẩn mực kiểm toán đầu tiên về thực hành đợc thừa nhận rộng rãi cũng
đòi hỏi quá trình lập kế hoạch phải đầy đủ: Công việc phải đ ợc lập kế hoạch đầy
đủ và các trợ lý, nếu có, phải đợc giám sát đúng đắn. Lập kế hoạch kiểm toán
chính là việc cân đối tích cực giữa nhu cầu và nguồn lực đã có, là việc cụ thể hoá
những mục tiêu và phạm vi kiểm toán, đồng thời lợng hoá quy mô từng việc, xác
kiểm toán chỉ đạo và công việc kiểm toán cần đợc giao cho các nhân viên có trình
độ chuyên môn và năng lực tốt.
Sau khi chuẩn bị các điều kiện để có thể tiến hành cuộc kiểm toán, kiểm
toán viên bắt đầu vào việc thu thập thông tin cơ sở.
b) Thu thập thông tin cơ sở.
Công việc này bao gồm:
Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng: Chuẩn
mực kiểm toán Quốc tế 310 về tìm hiểu hoạt động kinh doanh của đơn vị cũng nh
chuẩn mực kiểm toán của Việt Nam có quy định: Để thực hiện công tác kiểm
toán Báo cáo tài chính, KTV phải có hiểu biết đầy đủ về tình hình kinh doanh
để xác định và hiểu các sự kiện, nghiệp vụ thông lệ của đơn vị . KTV có thể
có đợc hiểu biết này bằng nhiều cách nhng cách thông lệ nhất là trao đổi với các
kiểm toán viên tiền nhiệm, hoặc trao đổi trực tiếp với nhân viên, với Ban Giám đốc
công ty. khách hàng.
Xem xét lại kết quả kiểm toán năm trớc và hồ sơ kiểm toán chung: qua
đây kiểm toán viên sẽ thấy đợc thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của
khách hàng.
Tham quan nhà xởng: tham quan nhà xởng, quan sát trực tiếp hoạt động
kinh doanh của khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy
tai nghe về quy trình sản xuất của khách hàng, đồng thời cho phép kiểm toán viên
gặp những nhân vật chủ chốt , tạo điều kiện để phát hiện những vấn đề quan tâm.
Nhận diện các bên hữu quan: các bên hữu quan và các nghiệp vụ giữa các
bên hữu quan có ảnh hởng lớn tới nhận định của ngời sử dụng Báo cáo tài chính.
Công việc này có thể thực hiện thông qua phỏng vấn Ban Giám đốc, xem sổ theo
dõi đốc công, theo dõi khách hàng
c) Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng.
Các thông tin cơ sở đã cho phép KTV hiểu đợc các mặt hoạt động kinh
doanh của khách hàng. Tuy nhiên, các thông tin về nghĩa vụ pháp lý còn giúp
kiểm toán viên nắm bắt đợc quy trình mang tính pháp lý có ảnh hởng tới các mặt
hoạt động kinh doanh này.
và phân bổ mức đánh giá trọng yếu cho từng khoản mục trên Báo cáo tài chính.
Ước lợng ban đầu về tính trọng yếu: là lợng tối đa mà kiểm toán viên tin
rằng ở mức đó các Báo cáo tài chính có thể bị sai lệch nhng vẫn cha ảnh hởng đến
các quyết định của ngời sử dụng thông tin tài chính. Đây là một việc làm mang
tính xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên.
Việc ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kế
hoạch thu thập bằng chứng thích hợp. Cụ thể, nếu các kiểm toán viên ớc lợng mức
độ trọng yếu càng thấp, nghĩa là độ chính xác của các thông tin càng cao, thì số l-
ợng bằng chứng thu thập càng nhiều và ngợc lại.
Phân bổ ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục: Các
khoản dự phòng giảm giá chứng khoán ngắn hạn, dài hạn; dự phòng giảm giá hàng
tồn kho; dự phòng nợ phải thu khó đòi sẽ đợc phân phối ớc lợng ban đầu về tính
trọng yếu. Việc phân bố đợc thực hiện theo cả hai chiều hớng là tình trạng khai
khống và khai thiếu.
Tính trọng yếu không chỉ đợc xem xét trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán mà đợc thực hiện trong suốt quá trình kiểm toán.
Đánh giá rủi ro:
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định rủi
ro kiểm toán mong muốn (AR). Mức rủi ro này phụ thuộc vào mức độ mà theo đó
ngời sử dụng tin tởng vào Báo cáo tài chính và khả năng khách hàng sẽ gặp khó
khăn về tài chính sau khi Báo cáo kiểm toán đợc công bố. Rủi ro kiểm toán đợc
chia thành ba mức:
Rủi ro tiềm tàng (IR) : là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu trong
từng nghiệp vụ, từng khoản mục cho dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội
bộ.
ơng trình đã ấn định nhằm đa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực của
thông tin tài chính trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy.
Tại bớc này kiểm toán viên sẽ thực hiện kiểm toán từng khoản mục theo các
thủ tục kiểm toán đã thiết kế. Đối với các khoản dự phòng, mỗi khoản dự phòng
có cách tiếp cận khác nhau, cụ thể:
A >Kiểm toán dự phòng đầu t tài chính.
a) Đạt đợc sự hiểu biết về hệ HTKSNB đối với việc trích lập dự phòng
đầu t tài chính ngắn hạn, dài hạn.
Để hiểu biết về HTKSNB đối với dự phòng đầu t tài chính, KTV cần tìm
hiểu và xem xét các thủ tục, quá trình lập các khoản dự phòng, đồng thời tìm hiểu
hệ thống kế toán của đơn vị khách hàng trong việc lập dự phòng giảm giá đầu t tài
chính ngắn hạn, dài hạn.
Các vấn đề cần tìm hiểu đối với dự phòng giảm giá đầu t tài chính mà
KTV có thể tiến hành qua các câu hỏi nh:
Hạch toán dự phòng đầu t tài chính ngắn hạn có đợc theo dõi chi tiết theo
từng loại chứng khoán không?
Có mở sổ phụ theo dõi không, có khớp với sổ cái không ?
Các khoản dự phòng đầu t dài hạn, ngắn hạn có thực sự tồn tại tại ngày
31/12 không?
Việc trích lập có tuân thủ theo quy định hiện hành không?
Giá trị thị trờng của từng loại đầu t chứng khoán có đợc theo dõi để đảm
bảo việc đa ra các quyết định về chúng một cách kịp thời không?
Có phản ánh đúng giá gốc của các chứng khoán không?
Có đầy đủ các thủ tục phê duyệt không?
Bằng việc đa ra các câu hỏi này, KTV có thể xác định đợc HTKSNB đối với
việc trích lập dự phòng giảm giá đầu t tài chính ngắn hạn, dài hạn hoạt động có
hiệu quả không.
Ngoài ra KTV có thể xem các quyết định chung đợc xác định trong điều lệ
của Công ty khách hàng hoặc phỏng vấn trực tiếp Ban Giám đốc về phơng thức