Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
MỤC LỤC
3.1. Quy hoạch phát triển điện lực Quận Thanh Xuân đến năm 2015 có
xét đến năm 2020 86
3.1. Quy hoạch phát triển điện lực Quận Thanh Xuân đến năm 2015 có xét
đến năm 2020 86
3.1.1. Cơ sở pháp lý để tính nhu cầu điện Quận Thanh Xuân 86
3.1.2. Dự báo nhu cầu điện năng Quận Thanh Xuân – TP,Hà Nội đến
năm 2015 có xét đến năm 2020 87
3.2. Về khối lượng xây dựng và vốn đầu tư 2010-2015 89
3.2. Về khối lượng xây dựng và vốn đầu tư 2010-2015 89
III.2.1Nhóm giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư hợp lý để hoạt động đầu
tư có hiệu quả 97
III.2.1Nhóm giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư hợp lý để hoạt động đầu tư
có hiệu quả 97
a). Căn cứ của giải pháp: 97
a). Căn cứ của giải pháp: 97
Nhìn chung việc bố trí kế hoạch hàng năm của Công ty còn bộc lộ một số
nhược điểm như: Thiếu kế hoạch đầu tư XDCB tổng quát; hàng năm
việc phân phối vốn thường mang tính phân bổ dẫn đến bố trí kế hoạch
phân tán, không theo tiến độ thực hiện dự án được phê duyệt vì vậy cần
phải xây dựng các kế hoạch đầu tư dài hạn và ngắn hạn 97
Xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn (kế hoạch 5 năm). Trên cơ sở đó bố trí
thích đáng vốn đầu tư cho công tác chuẩn bị đầu tư, đảm bảo công tác
này đi trước một bước để làm cơ sở cho kế hoạch đầu tư hàng năm 97
III.2.2 Nhóm giải pháp xây dựng lập thủ tục đầu tư hợp lý để hoạt động
đầu tư có hiệu quả 98
7
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
III.2.2 Nhóm giải pháp xây dựng lập thủ tục đầu tư hợp lý để hoạt động đầu
tư có hiệu quả 98
QL ĐTXD : Quản lý đầu tư xây dựng;
TCKT : Tài chính kế toán;
ĐVQL : Đơn vị quản lý;
B04 : Ban kỹ thuật Tổng Công ty Điện lực thành phố Hà Nội;
B02 : Ban kế hoạch Tổng Công ty Điện lực thành phố Hà Nội;
9
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
B05 : Ban vật tư Tổng Công ty Điện lực thành phố Hà Nội;
PAKT : Phương án kỹ thuật;
ĐVTV : Đơn vị tư vấn;
VTTB : Vật tư thiết bị;
TSCĐ : Tài sản cố định;
SXKD : Sản xuất kinh doanh;
CBĐT : Chuẩn bị đầu tư;
HSMT : Hồ sơ mời thầu;
UBND : Ủy ban nhân dân;
BCNCKT : Báo cáo nghiên cứu khả thi;
TKKT : Thiết kế kỹ thuật;
TKKTTC : Thiết kế kỹ thuật thi công;
HSMT : Hồ sơ mời thầu;
DT : Dự toán;
PAKT : Phương án kỹ thuật;
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước;
Lv. Ths. : Luận văn thạc sĩ.
10
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
MỞ ĐẦU
A. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngành điện là một ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn, có vai trò vô cùng quan
trọng trong nền kinh tế. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình,
nguyên nhân, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp điều chỉnh là nội dung cơ
bản của đề tài "Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện
lực Thanh Xuân"
B. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống hoá các cơ sở lý luận về đầu tư xây dựng cơ bản và phân tích tài
chính về phương diện lý luận và trên cơ sở đó phân tích thực trạng tài chính trong
đầu tư xây dựng cơ bản của Công ty Điện lực Thanh Xuân và đề xuất một giải pháp
cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Điện lực Thanh Xuân.
C. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tài chính trong đầu tư xây dựng cơ bản ở
Công ty Điện Lực Thanh Xuân
Phạm vi nghiên cứu là thực trạng công tác tài chính trong đầu tư xây dựng
bản từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 8 năm 2011.
D. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Luận văn được hoàn thành dựa trên việc kết hợp hợp sử dụng các phương
pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, sử
dụng các phương pháp của khoa học thống kê: khảo sát thực tế để nghiên cứu.
E. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đầu tư xây dựng cơ bản và tài chính
trong đầu tư xây dựng.
Trình bày các khái niệm về lưới điện, hoạt động đầu tư ở ngành điện và vai
trò của việc phân tích tài chính trong đầu tư xây dựng cơ bản ở ngành điện.
Phân tích thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản và vấn đề tài chính trong đầu tư
xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
Đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Điện lực
Thanh Xuân.
12
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
F. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Tên đề tài : “Nghiên cứu tài chính trong Công tác Đầu tư xây dựng tai
Xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung nên đầu tư
XDCB có đầy đủ các đặc điểm và các tính chất của hoạt động đầu tư. Trong đó nổi
lên các đặc điểm cơ bản là đặc thù của hoạt động đầu tư XDCB đó là:
Thứ nhất, sản phẩm của đầu tư XDCB có tính cố định, nơi sản xuất cũng là
nơi tiêu thụ sản phẩm. Từ đặc điểm đó chúng ta thấy sự phát huy tác dụng sau này
của tài sản cố định sẽ chịu tác động rất lớn môi trường kinh tế xã hội nơi tạo ra nó.
Như vậy sản xuất di động, tư liệu sản xuất di động, sức lao động di động (vì sản
phẩm cố định tại chỗ nên các yếu tố khác đều phải di động). Từ đó đặt ra đối với
14
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
hoạt động XDCB phương pháp quản lý phức tạp hơn. Và cũng do tính chất này nên
trong hoạt động tìm địa điểm xây dựng công trình chuẩn bị đầu tư là một khâu rất
quan trọng, có những công trình xây dựng tại địa điểm không hợp lý, toàn bộ chi
phí do chuyển địa điểm rất lớn. Tìm địa điểm cho sản phẩm có tính cố định là điều
kiện tiên quyết trước khi tiến hành khởi công xây dựng công trình.
Thứ hai, sản phẩm XDCB có khối lượng lớn nên phải thi công ngoài trời, hoạt
động XDCB chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết. Sản phẩm có khối lượng lớn nên
nguyên vật liệu cũng để ngoài trời, nếu điều kiện khí hậu không tốt gây ra hư hỏng,
tổn thất lớn. Từ đó liên quan đến vấn đề giá thành công trình và thực hiện quản lý ra
sao để chất lượng XDCB được tốt nhất, giảm hư hỏng, mất mát.
Thứ ba, thời gian XDCB và thời gian tồn tại của sản phẩm XDCB lâu.
Từ đặc điểm thời gian xây dựng dài nên ứ đọng vốn đối với hoạt động đầu tư
XDCB lớn, càng ứ đọng vốn càng thiệt hại lớn vì khối lượng vốn lớn, khối lượng
sản phẩm lớn. Hơn nữa do thời gian xây dựng lâu nên chịu ảnh hưởng của các yếu
tố như giá trị đồng tiền, điều kiện thời tiết, tình hình chính trị Thời gian càng dài
các yếu tố khác đó càng thay đổi. Nếu tác động từ các yếu tố đó theo chiều hướng
xấu sẽ dẫn đến tổn thất lớn. Và sản phẩm XDCB tồn tại lâu, nếu tác động từ các yếu
tố trên tốt, chất lượng công trình tốt thì thành quả hoạt động đầu tư XDCB càng
phát huy tác dụng tốt trong thời gian dài, đóng góp lớn cho nền kinh tế, văn hoá xã
hội, có những công trình tồn tại vĩnh viễn và ngược lại.
cầu, nhiệm vụ cơ bản về chính trị, xã hội…
Đầu tư XDCB tạo nên một nền tảng cho việc ứng dụng những công nghệ
mới, góp phần thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách kinh tế Nhà nước phù
hợp với tình hình hiện nay.
1.1.4. Vốn đầu tư XDCB
a). Khái niệm vốn đầu tư XDCB
Nguồn vốn đầu tư nếu phân chia theo theo bản chất bao gồm hai bộ phận
chính đó là vốn đầu tư cơ bản và vốn đầu tư vận hành.
Vốn đầu tư XDCB là nguồn vốn đầu tư dùng để tạo mới hoặc thay thế, đổi
mới tài sản cố định của các lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực phi sản xuất vật chất cho
16
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
nền kinh tế quốc dân. Do đó vốn đầu tư XDCB là thành phần tích cực trong vốn đầu
tư toàn xã hội. Hay nói cách khác vốn đầu tư XDCB là tổng chi phí nhằm đạt được
mục đích đầu tư bao gồm: chi phí cho công tác thăm dò khảo sát và thiết kế; chi phí
cho công tác xây dựng; chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí
khác được ghi trong tổng dự toán.
Vốn đầu tư XDCB đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế,
nó là một trong những yếu tố cần thiết để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền
kinh tế quốc dân. Vốn đầu tư XDCB góp phần đưa các thành tựu khoa học kỹ thuật
vào xây dựng và cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao được năng lực sản xuất
và phục vụ.
Vốn đầu tư XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài
sản cố định cho nền kinh tế. Cần lưu ý có một số khoản mục xét về mặt tính chất lẫn
nội dung là hoạt động đầu tư XDCB nhưng chúng lại không được tính vào vốn đầu
tư XDCB bao gồm các hoạt động sau:
+ Hoạt động sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc (vốn cho hoạt động này lấy từ
trích khấu hao hàng năm).
+ Chi phí khảo sát thăm dò tài nguyên, địa chất nói chung trong nền kinh tế
mà không liên quan trực tiếp đến công trình nào cả.
Vốn đầu tư cho xây dựng và lắp đặt (Vốn cho xây lắp)
Vốn đầu tư mua sắm máy móc thiết bị cho đối tượng xây dựng
Những chi phí XDCB khác (làm tăng và không làm tăng giá trị tài sản cố
định)
Một điều cần chú ý không được tính vào vốn đầu tư xây dựng cơ bản các số
khoản chi phí sau:
Chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định có tính chất sản xuất do vốn khấu hao
sữa chữa lớn đài thọ.
Các chi phí khảo sát thăm dò chung không liên quan trực tiếp đến việc xây
dựng một công trình cụ thể.
Vốn đầu tư XDCB là căn cứ để xác định giá trị tài sản cố định. Qui mô và
tốc độ của nó quyết định đến qui mô của TSCĐ trong nền kinh tế quốc dân. Thực
18
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
hiện vốn đầu tư XDCB sẽ làm tăng qui mô tài sản cố định cho nền kinh tế quốc
dân, là yếu tố quyết định cho việc tăng năng lực sản xuất và tăng năng suất lao
động xã hội.
1.2. Đầu tư xây dựng cơ bản ngành điện
1.2.1. Một số khái niệm
a). Hệ thống điện và đầu tư phát triển ngành Điện
Hệ thống điện là một phần của hệ thống năng lượng, bao gồm các nhà máy
điện, mạng điện và các hộ tiêu thụ (các doanh nghiệp, các xí nghiệp, các cơ sở sản
xuất, các hộ gia đình).
Nhà máy điện có nhiệm vụ biến đổi năng lượng sơ cấp như: than, khí đốt,
thuỷ năng thành điện năng và nhiệt năng. Mạng lưới điện bao gồm các trạm biến
áp và các đường dây truyền tải điện. Tuỳ theo phạm vi mà người ta phân thành
mạng điện khu vực và mạng điện địa phương hoặc mạng chuyên tải, mạng phân
phối và mạng cung cấp. Các trạm biến áp có nhiệm vụ nối các đường dây với cấp
điện áp khác nhau trong hệ thống chung và trực tiếp cung cấp điện năng cho các hộ
tiêu thụ.
Thứ ba, điện năng được phân phối từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng thông qua
hệ thống dây tải điện, hệ thống trạm biến áp cao thế, trung thế và hạ thế.
Thứ tư, trong quá trình sản xuất như tiêu dùng sản phẩm này luôn luôn có một
lượng điện năng mất đi một cách vô ích. Phần điện năng tổn thất cũng tương tự như
tổn hao tự nhiên của một số hàng hoá, hiện nay tổn thất điện năng Việt Nam là
khoảng 15%. Tổn thất điện năng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tựu chung lại có thể
qui về hai yếu tố cơ bản sau:
Tổn thất điện năng do các yếu tố kỹ thuật gây ra như chất lượng dây dẫn, chất
lượng máy biến áp, cường độ dòng điện, cấp điện áp.
Tổn thất do các nguyên nhân quản lý gây ra: quản lý không chặt chẽ dẫn đến
tình trạng ăn cắp điện, dùng điện thẳng không qua đồng hồ.
Từ những đặc điểm trên đây, đòi hỏi ngành điện phải có biện pháp kỹ thuật,
quản lý phù hợp, tăng cường biện pháp tiết kiệm điện trong mọi lúc mọi nơi.
20
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
b. Đặc điểm ngành Điện
Là một bộ phận hợp thành cơ cấu ngành công nghiệp, nên ngành điện có đầy
đủ đặc điểm của ngành công nghiệp. Ngoài ra do tính chất đặc trưng về sản phẩm,
cũng như qui trình từ sản xuất, cung ứng và tiêu thụ điện mà ngành điện còn có
những đặc điểm sau: Ngành điện là một ngành công nghiệp nặng tính chất kỹ thuật
và qui trình công nghệ phức tạp nên đòi hỏi tính chuyên môn, kỹ thuật cao, khối
lượng vốn cho đầu tư phát triển lớn. Đồng thời từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng
phải trải qua một hệ thống đường truyền dẫn trung gian được xây dựng ngoài trời
do đó chịu ảnh hưởng rất lớn các tác động của điều kiện tự nhiên, môi trường, thời
tiết, khí hậu.
1.2.3. Đặc điểm đầu tư XDCB của ngành Điện
Đầu tư XDCB các công trình điện nằm trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ
bản nói chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nên hoạt động đầu tư xây dựng cơ
bản các công trình điện có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động đầu tư XDCB. Ngoài
ra do tính chất đặc thù về sản phẩm điện năng cũng như tính chất, đặc điểm của
Đầu tư XDCB các công trình điện là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong
hoạt động đầu tư phát triển của ngành điện nói chung cũng như xây dựng phát triển
hệ thống lưới điện nói riêng.
a). Vai trò đầu tư XDCB các công trình điện
Hoạt động đầu tư XDCB các công trình điện là công cụ để thực hiện các
nhiệm vụ về sản xuất, kinh doanh, truyền tải điện tới khách hàng. Một doanh nghiệp
hay một xí nghiệp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện năng muốn tồn tại và
phát triển lớn mạnh phải thực hiện đầu tư XDCB các công trình cung cấp điện tới
khách hàng.
Đầu tư xây dựng cơ bản các công trình điện giải quyết mối quan hệ cung cầu
về điện trên thị trường. Nền kinh tế ngày càng phát triển đi lên thì nhu cầu tiêu thụ
điện cho sản xuất kinh doanh, cho sinh hoạt ngày càng lớn, do đó việc tiếp tục đầu
tư xây dựng các công trình điện là điều kiện để đảm bảo nhu cầu điện thương phẩm
không ngừng gia tăng. Điều đó có nghĩa khi đầu tư XDXB cần phải nghiên cứu nhu
cầu, khả năng thanh toán của khách hàng để đáp ứng nhu cầu đó một cách tốt nhất,
22
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
có hiệu quả nhất trong khả năng của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh điện năng
nói riêng, của toàn ngành điện nói chung.
Một vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động đầu tư XDCB các công
trình điện là việc góp phần cải thiện đời sống dân cư, nâng cao trình độ dân trí của
các tầng lớp nhân dân, cải tiến bộ mặt kinh tế - xã hội của từng vùng và từng địa
phương. Điện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân dễ dàng tiếp xúc với các
công nghệ hiện đại trong nước và trên thế giới, từ đó lựa chọn phương pháp sản
xuất kinh doanh tốt.
b). Nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ bản các công trình điện
Những nhiệm vụ cơ bản của hoạt động đầu tư xây dựng các công trình điện:
Thứ nhất, xây dựng các công trình đưa điện về các huyện, xã, nhất là các xã
vùng sâu vùng xa với chi phí hợp lý, đảm bảo có lợi cho các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh điện năng và cho người dân.
đăng kí kinh doanh, cấp giấy phép xây dựng.
1.2.5. Trình tự đầu tư XDCB các công trình điện.
a). Chuẩn bị đầu tư (CBĐT)
Nội dung của kế hoạch này là lập báo cáo nghiên tiền cứu khả (BCNCTKT);
báo cáo nghiên cứu khả thi (BCNCKT). Kế hoạch chuẩn bị đầu tư phải căn cứ Tổng
sơ đồ và qui hoạch được duyệt, kế hoạch dài hạn của Tổng công ty.
Trong kế hoạch CBĐT còn bao gồm cả phần kế hoạch về lập qui hoạch và về
lập Tổng sơ đồ do nhà nước giao.
b). Thực hiện đầu tư
Kế hoạch này chỉ được ghi vào Kế hoạch đầu tư xây dựng khi đã có
BCNCKT được duyệt. Kế hoạch thực hiện đầu tư có nhiệm vụ thực hiện phần thiết
kế kỹ thuật (TKKT) và lập tổng dự toán (TDT), ngoài ra còn phải thực hiện lập hồ
sơ mời thầu (HSMT), thiết kế kỹ thuật thi công (TKKTTC) và dự toán (DT) của
công trình, nhằm chuẩn bị điều kiện để đưa được các công trình vào Kế hoạch đầu
tư xây dựng hàng năm, làm cơ sở cho việc lập Kế hoạch đấu thầu hàng năm.
24
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
Kế hoạch này được thể hiện những công trình đủ điều kiện đưa vào cân đối
và bố trí vốn đầu tư theo yêu cầu mục tiêu, tiến độ đã được Tổng công ty duyệt sau
khi đã đủ hồ sơ BCNCKT, TKKT, TDT, DT được duyệt.
Trong kế hoạch thực hiện đầu tư xây dựng gồm hai loại công trình:
- Loại công trình chuyển tiếp từ năm trước sang:
Những công trình đã hoàn thành xây lắp nhưng bố trí đủ vốn so với DT và
TDT được duyệt hoặc giá trúng thầu đã được duyệt cho công trình.
Những công trình chưa thi công xong phải chuyển tiếp (Công trình có tiến độ
thi công nhiều năm).
Những công trình thực hiện phần quyết toán: sau khi duyệt quyết toán còn
thiếu vốn phải được ghi Kế hoạch để hoàn trả.
- Các công trình khởi công mới trong năm Kế hoạch:
Các công trình khi đưa vào Kế hoạch đầu tư khởi công mới phải có đủ
Một tiền đề hết sức cần thiết trong việc tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào chính là vốn tiền tệ. Để tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp phảI hình thành, phân phối và sử
dụng nguồn vốn của mình một cách có hiệu quả. Trong quá trình đó các luồng tiền
tệ phát sinh gắn liền với các hoạt động đầu tư và các hoạt động kinh doanh thường
xuyên của doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tàI chính trong doanh
nghiệp
Có thể nói tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ kinh tế biểu
hiện dưới hình thức giá trị (quan hệ tiền tệ) phát sinh trong quá trình phát triển và
biến đổi vốn dưới hình thức có liên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.3.1 Tài chính và phân tích tài chính trong XDCB
Tài chính trong đầu tư XDCB là tất cả những quan hệ về tiền tệ trong quá trình
triển khai thực hiện một công trình XDCB, bao gồm từ khâu quan hệ về vốn, thu chi
và phân phối.
26
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
a) Phân tích tài chính trong đầu tư XDCB
Phân tích tài chính dự án XDCB là một nội dung kinh tế quan trọng trong quá
trình đầu tư XDCB.
Phân tích tài chính công trình XDCB là quá trình tính toán, đánh giá, phân tích
các chỉ tiêu đo lường các mối quan hệ tài chính của một dự án XDCB nhằm giúp
cho các nhà đầu tư lựa chọn và đưa ra các quyết định phù hợp và hiệu quả nhất.
b)Vai trò của phân tích tài chính trong XDCB:
- Đối với chủ đầu tư:
Phân tích tài chính cung cấp các thông tin cần thiết để chủ đầu tư đưa ra các
quyết định có nên đầu tư không dựa trên các nguồn lực mà mình có. Mục tiêu chính
của chủ đầu tư là lợi nhuận, do đó phân tích tài chính là một trong những bước quan
trọng trong quá trình lập dự án đầu tư. Không những vậy, phân tích tài chính còn là
sự quan tâm của các tổ chức phi lợi nhuận để các tổ chức này được những mục tiêu
+ An toàn về nguồn vốn huy động;
+ An toàn về khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn và khả năng
trả nợ;
+ An toàn cho các kết quả tính toán hay nói một cách khác là xem xét tính
chắc chắn của các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án khi các yếu tố khách quan tác
động theo hướng không có lợi.
d)Yêu cầu của phân tích tài chính trong XDCB
Để đạt được mục đích và phát huy được vai trò của phân tích tài chính, yêu
cầu đặt ra trong phân tích tài chính là:
Nguồn số liệu sử dụng phải đầy đủ và đảm bảo độ tin cậy cao đáp ứng mục
tiêu phân tích;
Phải sử dụng phương pháp phân tích phù hợp và hệ thống các chỉ tiêu để
phản ánh đầy đủ các khía cạnh tài chính của dự án.
Phải đưa ra được nhiều phương án để từ đó lựa chọn phương án tối ưu.
1.3.2 Nội dung phân tích tài chính dự án đầu tư XDCB
a) Xác định nhu cầu vốn
- Là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn đầu tư
- Dựa vào nhu cầu vốn để xác định hiệu quả đầu tư của dự án
28
Nghiên cứu tài chính trong Đầu tư Xây dựng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
Yêu cầu
- Nhu cầu vốn đầu tư của dự án được dự tính dựa trên nội dung phân tích
khía cạnh kỹ thuật của dự án.
- Nếu vốn đầu tư dự tính quá thấp, dự án sẽ không thực hiện được, ngược lại
nếu vốn đầu tư dự tính quá cao sẽ không phản ánh chính xác được hiệu quả tài
chính của dự án, do đó phải xác định nhu cầu vốn đầu tư với độ chính xác cao nhất.
- Xác định nhu cầu vốn đầu tư đòi hỏi phải có khả năng phân tích tình hình
thị trường hiện tại, và khả năng dự báo tình hình thị trường trong tương lai đề phòng
sự tăng giá của nguyên vật liệu, trang thiết bị.
Nội dung :
định nhu cầu vốn bằng cách tính trực tiếp.
Có 4 phương pháp cơ bản để xác định tổng mức đầu tư:
• PP1: Tính theo thiết kế cơ sở của dự án:
V = G
XD
+ G
TB
+ G
GPMB
+ G
QLDA
+ G
TV
+ G
K
+ G
DP
Trong đó:
- V: Tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình
- G
XD
: Chi phí xây dựng được tính theo khối lượng chủ yếu từ thiết kế cơ sở,
các khối lượng khác dự tính và giá xây dựng phù hợp với thị trường;
G
XD
= G
XDCT1
+ G
XDCT2
+ … + G
G
QXDK
: Chi phí xây dựng các công tác khác còn lại/ bộ phận kết cấu khác còn
lại của công trình, hạng mục công trình được ước tính theo tỷ lệ phần trăm trên tổng
chi phí xây dựng các công tác xây dựng chủ yếu/ tổng chi phí xây dựng các bộ phận
kết cấu chính của công trình, hạng mục công trình
T
GTGT-XD
: Mức thuế suất thuế GTGT quy định cho công tác xây dựng
- G
TB
: Chi phí thiết bị được tính theo một trong các phương pháp sau:
“+ Trường hợp dự án có các nguồn thông tin, số liệu chi tiết về dây chuyền
công nghệ, số lượng, chủng loại, giá trị từng thiết bị hoặc giá trị toàn bộ dây chuyền
công nghệ và giá một tấn, một cái hoặc toàn bộ dây chuyền thiết bị tương ứng các
công trình thì chi phí thiết bị của dự án bằng tổng chi phí thiết bị của các công trình
thuộc dự án.
+ Trường hợp dự án có thông tin về giá chào hàng đồng bộ về thiết bị, dây
chuyền công nghệ của nhà máy sản xuất hoặc đơn vị cung ứng thiết bị thì G
TB
của
dự án có thể lấy trực tiếp từ các báo giá hoặc giá chào hàng thiết bị đồng bộ này.
+ Trường hợp dự án chỉ có thông tin, dữ liệu chung về công suất, đặc tính kỹ
thuật của dây chuyền công nghệ, thiết bị thì chi phí thiết bị có thể được xác định
theo chỉ tiêu suất chi phí thiết bị tính cho một đơn vị năng lực sản xuất hoặc năng
lực phục vụ công trình.”(*)
- G
GPMB
: Chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng tái định cư được tính theo
khối lượng phải đền bù, tái định cư của dự án và các chế độ của nhà nước có liên