Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trên đà phát triển, tình hình kinh tế trong những năm vừa
qua có rất nhiều sự chuyển biến tốt đẹp. Năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Để theo kịp với nền kinh
tế thế giới và khu vực thì vấn đề đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng là rất quan trọng,
nó sẽ thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong những năm gần đây, hoạt động đấu thầu xây dựng ở nước ta trong lĩnh
vực xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển hơn bao giờ hết, các công ty xây dựng phải
cạnh tranh trong một môi trường vô cùng khắc nghiệt. Số lượng các doanh nghiệp
xây dựng gia tăng ngày càng nhiều, cả trong nước và ngoài nước. Tuy nhiên, hệ
thống pháp luật về đấu thầu ở nước ta vẫn chưa được hoàn chỉnh, các vấn đề bất cập
xoay quanh nó vẫn còn rất nan giải, các doanh nghiệp phải điều chỉnh hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp mình để thích ứng và tồn tại.
Qua một thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty cổ phần tư vấn thiết kế công
nghệ xây dựng và với những kiến thức đã học đã cho em thấy vai trò của công tác
đấu thầu xây dựng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là vô cùng quan
trọng, vì vậy em đã quyết định chọn đề tài: “Nâng cao khả năng cạnh tranh trong
đấu thầu xây dựng của công ty cổ phần tư vấn thiết kế công nghệ xây dựng” là
đề tài nghiên cứu của mình.
Nội dung đề tài bao gồm ba chương:
Chương 1: Những lí luận chung về khả năng cạnh tranh và nâng cao khả năng
cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp.
Chương 2. Phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh và nâng cao khả năng
cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của công ty cổ phần tư vấn thiết kế công nghệ
xây dựng.
Chương 3: Những biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu
xây dựng của công ty cổ phần tư vấn thiết kế công nghệ xây dựng.
Do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài nghiên cứu của em không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo cũng
Đỗ Thị Kim Liên Thương mại 46A
chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu.
- Nhà thầu là tổ chức cá nhân trong nước hoặc nước ngoài có năng lực pháp
luật dân sự, đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân sự để kí kết và thực
hiện hợp đồng. Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của nhà thầu
trong nước được xét theo pháp luật Việt Nam, đối với nhà thầu nước ngoài được xét
theo pháp luật của nước nơi nhà thầu mang quốc tịch. Nhà thầu phải đảm bảo sự độc
lập về tài chính của mình.
Đỗ Thị Kim Liên Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp; là nhà cung cấp trong đấu
thầu mua sắm hàng hóa; là nhà tư vấn( có thể là một cá nhân) trong đấu thầu tuyển
chọn tư vấn; là nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư.
Nhà thầu có thể tham gia dự thầu độc lập( gọi là nhà thầu độc lập) hoặc liên
doanh với các nhà thầu khác( gọi là nhà thầu liên doanh). Trường hợp liên doanh phải
có văn bản thỏa thuận giữa các thành viên tham gia liên doanh về trách nhiệm chung
và riêng đối với công việc thuộc gói thầu và phải có người đứng đầu của liên doanh.
- Gói thầu là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án được phân chia
theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện một dự án, có quy mô hợp lý và bảo
đảm tính đồng bộ của dự án.
- Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu do Bên mời thầu lập, bao gồm các yêu cầu
cho một gói thầu được dùng làm căn cứ để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và Bên
mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu. Hồ sơ mời thầu phải được người có thẩm quyền
hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi phát hành.
- Hồ sơ dự thầu là các tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời
thầu.
- Mở thầu là thời điểm tổ chức mở các hồ sơ dự thầu được quy định trong hồ
sơ mời thầu.
- Đóng thầu là thời điểm kết thúc việc nộp hồ sơ dự thầu được quyết định
trong hồ sơ mời thầu.
- Kết quả đấu thầu là nội dung phê duyệt của người có thẩm quyền hoặc cấp
- Đấu thầu hai túi hồ sơ: Là phương thức mà nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật
và đề xuất về giá trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ đề
xuất kỹ thuật sẽ được xem xét trước để đánh giá. Các nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật
từ 70% trở lên sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất về giá để đánh giá. Phương thức này
chỉ được áp dụng đối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn.
- Đấu thầu hai giai đoạn: Phương thức này áp dụng cho những trường hợp sau:
* Các gói thầu mua sắm hàng hóa và xây lắp có giá trị từ 500 tỷ đồng trở lên.
Đỗ Thị Kim Liên Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị toàn
bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp.
* Dự án thực hiện theo hợp đồng chìa khóa trao tay.
o Giai đoạn 1: Các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ gồm đề xuất về mặt kỹ
thuật và phương án tài chính ( chưa có giá ) để Bên mời thầu xem xét và thảo luận cụ
thể với từng nhà thầu nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà thầu
chuẩn bị và nộp hồ sơ dự thầu chính thức của mình.
o Giai đoạn 2: Bên mời thầu mời các nhà thầu tham gia trong giai đoạn thứ
nhất nộp hồ sơ dự thầu chính thức với đề xuất kỹ thuật đã được bổ sung hoàn chỉnh
trên cùng một mặt bằng kỹ thuật và đề xuất chi tiết về tài chính với đầy đủ nội dung
về tiến độ thực hiện, điều kiện hợp đồng, giá dự thầu.
1.1.3 Một số tính chất và nguyên tắc của đấu thầu xây dựng.
- Trong nền kinh tế thị trường hiện nay có rất nhiều công ty xây dựng với quy
mô và năng lực khác nhau. Vì thế để công trình xây dựng đạt được hiệu quả kinh tế
cũng như đảm bảo tính kỹ thuật thì nhà nước đã ban hành quy chế về đấu thầu với
một số tính chất sau:
* Tính bình đẳng:
Trong đấu thầu tính bình đẳng thể hiện ở điểm là mọi nhà thầu đều được tham
gia dự thầu một cách công bằng, tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Những nhà thầu tham gia đều có quyền được Bên mời thầu cung cấp đầy đủ các
thông tin cần thiết về gói thầu. Tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá được áp dụng
thầu, không được có sự thiên lệch về bất cứ bên nào.
* Nguyên tắc công khai và cung cấp đầy đủ dữ liệu : Theo nguyên tắc này tất
cả các giai đoạn từ gọi thầu đến mở thầu Nhà mời thầu phải thực hiện công khai, trừ
những công trình có tính chất đặc biệt thuộc về bí mật quốc gia. Ngoài ra Nhà mời
thầu còn phải có trách nhiệm cung cấp tất cả các thông tin liên quan đến gói thầu như
về quy mô, yêu cầu chất lượng, khối lượng công trình. Thực hiện tốt công tác này sẽ
giúp cho quá trình lập hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và phương án tài chính của nhà thầu
sẽ chính xác, quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu lựa chọn nhà thầu vì thế mà đúng đắn
hơn.
Đỗ Thị Kim Liên Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Nguyên tắc đánh giá khách quan: Hội đồng xét thầu phải tiến hành đánh giá
đầy đủ các bộ hồ sơ dự thầu và theo cùng một tiêu chuẩn, thang điểm đã được xây
dựng từ trước. Trong quá trình đánh giá không được có bất cứ một sự ưu tiên thiên vị
dành cho một nhà thầu nào đó.
* Nguyên tắc ba bên : Một số gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì đòi hỏi có
sự có mặt của ba bên đó là nhà mời thầu, nhà thầu, các nhà chuyên gia tư vấn. Các
chuyên gia tư vấn có vai trò như nhà trọng tài đảm bảo cho quá trình đánh giá hồ sơ,
lựa chọn nhà thầu được diễn ra khách quan, đem lại sự công bằng cho các nhà thầu
tham gia dự thầu. Những sự vi phạm của nhà mời thầu trong quá trình đánh giá cũng
như sự mua chuộc của nhà thầu, sự móc ngoặc liên kết giữa các nhà thầu đều bị xử
phạt.
* Nguyên tắc bảo đảm và bảo lãnh: Theo nguyên tắc này thì các nhà thầu phải
thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, kí quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh để bảo đảm
trách nhiệm dự thầu của nhà thầu, hoặc để bảo đảm trách nhiệm thực hiện hợp đồng
của nhà thầu trúng thầu trong một thời gian xác định theo yêu cầu của hồ sơ mời
thầu. Nguyên tắc này giúp bảo đảm lợi ích của cả Bên mời thầu và nhà thầu, nó thể
hiện tính chất nghiêm túc của quá trình thực hiện đấu thầu.
1.1.4 Vai trò của đấu thầu xây dựng.
- Đối với nhà nước: Đấu thầu giúp Nhà nước nâng cao hiệu quả sử dụng
TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG.
1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh trong đấu thầu
xây dựng.
Thuật ngữ cạnh tranh xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XVIII, xuất phát từ “ tự do
kinh tế ” mà Adam Smith đã phát hiện. Nhờ cạnh tranh mà xã hội loài người ngày
càng phát triển về mọi mặt. Cạnh tranh kích thích lòng tự hào, ý chí vươn lên ham
muốn làm giàu, ham muốn khám phá cái mới, nhờ đó mà thúc đẩy khoa học kỹ thuật
phát triển, thúc đẩy sự phát triển của mọi ngành nghề lĩnh vực, mọi doanh nghiệp
không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn phát triển ra phạm vi toàn cầu.
Đỗ Thị Kim Liên Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Có khá nhiều quan niệm về cạnh tranh tồn tại từ trước nửa đầu thế kỷ XX đến
nay của nhiều học giả kinh tế nổi tiếng trên thế giới nhưng tựu chung lại thì cạnh
tranh chính là sự ganh đua, sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí
hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ
khoa- kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu
quả cao nhất.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường như nước ta hiện nay, nhà nước chỉ
đóng vai trò quản lý vĩ mô, mọi thành phần kinh tế đều hoạt động và vận hành theo
cơ chế của thị trường: quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh. Trong
đó quy luật cạnh tranh là quy luật tất yếu, là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị
trường, nếu doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển thì doanh nghiệp phải tìm mọi cách
để hoàn thiện, nâng cao tiềm lực doanh nghiệp về mọi mặt.
Trong cạnh tranh nảy sinh ra những người có khả năng cạnh tranh mạnh,
người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản
phẩm có khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh
hay sức cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được
lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh
- Biện pháp kỹ thuật, chất lượng công trình.
- Tiến độ thi công
- Năng lực và kinh nghiệm nhà thầu.
- Biện pháp tổ chức thi công, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh môi trường.
Nhưng trong đó nhà mời thầu thường quan tâm tới bốn yếu tố đó là: giá bỏ
thầu, biện pháp kỹ thuật chất lượng công trình, tiến độ thi công, biện pháp tổ chức thi
công bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Chính vì thế các doanh nghiệp
xây dựng thường chú ý tới bốn yếu tố này để nâng cao khả năng thắng thầu của
doanh nghiệp mình.
1.2.2.1 Cạnh tranh bằng giá dự thầu
Trong quá trình tham gia dự thầu, doanh nghiệp xây dựng thường chú ý tới
phương thức dùng giá để cạnh tranh với các nhà thầu khác bởi vì giá dự thầu là một
Đỗ Thị Kim Liên Thương mại 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong những yếu tố quyết định tới khả năng thắng thầu của doanh nghiệp. Để đưa ra
được một mức giá bỏ thầu hợp lý doanh nghiệp xây dựng phải tiến hành tìm hiểu thị
trường, tìm hiểu các thông tin liên quan đến dự án, tiến hành đánh giá các yếu tố môi
trường xung quanh. Việc xác định giá bỏ thầu là phức tạp vì nó phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như trình độ của người làm công tác xây dựng giá bỏ thầu, trình độ tổ chức quản
lý công ty, kỹ thuật và tiến độ thi công, khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến.
Chính sách về giá được áp dụng trong giá bỏ thầu cũng phụ thuộc vào từng
giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng như mục tiêu mà công ty theo đuổi, năng
lực công ty, địa điểm thực hiện dự án, phong tục tập quán của địa phương nơi triển
khai dự án, quy mô và đặc điểm của dự án. Doanh nghiệp muốn tăng khả năng cạnh
tranh về giá thì phải áp dụng chính sách về giá một cách linh hoạt.
1.2.2.2 Cạnh tranh bằng chất lượng công trình.
Chúng ta có thể nói rằng chất lượng công trình là minh chứng cụ thể và rõ
ràng nhất cho uy tín và năng lực của doanh nghiệp. Thông qua đó nó gây được ấn
tượng tốt cho chủ đầu tư, tạo khả năng thắng thầu cho doanh nghiệp.
Chất lượng công trình được đánh giá dựa trên các đặc trưng kinh tế kỹ thuật,
xây dựng
1.2.3.1 Năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của doanh
nghiệp mạnh, yếu như thế nào.
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp:
* Hệ số khả năng thanh toán hiện hành = Tổng tài sản lưu động / tổng nợ ngắn
hạn.
Nếu hệ số này quá cao tức là doanh nghiệp đã đầu tư vào tài sản lưu động quá
nhiều, không mang lại hiệu quả lâu dài.
* Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tổng vốn tiền mặt/ Tổng nợ ngắn hạn.
Nếu hệ số này cao doanh nghiệp có khả năng lớn nhưng nếu quá cao thì không
mang lại hiệu quả vì tiền mặt không sinh lời.
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn vốn và vốn :
* Tỷ lệ nợ = Tổng nợ phải trả / Tổng vốn (%)
Đỗ Thị Kim Liên Thương mại 46A