Hoạt động xúc tiến điểm đến cấp tỉnh ở việt nam nghiên cứu trường hợp tỉnh nghệ an - Pdf 22

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỤC LỤC 1 3
MỤC LỤC 1 1 3
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSLT Cơ sở lưu trú
DLNA Du lịch Nghệ An
NK Ngày khách
NĐ Nội địa
QT Quốc tế
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
TTXTDL Trung tâm xúc tiến du lịch
Sở VHTT & DL Sở Văn hóa, thể thao và du lịch
2
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
MỤC LỤC 1
MỤC LỤC 1 1
MỤC LỤC 1 3 1
MỤC LỤC 1 1 3 1
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế dịch vụ hàng đầu,
phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia trên thế giới cùng tham
gia. Việt Nam là nước có tiềm năng du lịch cả về tài nguyên du lịch tự nhiên
và nhân văn nên trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có những
định hướng, chính sách ưu tiên phát triển du lịch.
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, với sự chi phối mạnh mẽ của
quy luật cạnh tranh thì tất cả các sản phẩm muốn bán được nhiều đều cần

4/2004, Trung tâm xúc tiến du lịch Nghệ An được thành lập với chức năng
nhiệm vụ tuyên truyền quảng bá xúc tiến du lịch, xúc tiến đầu tư phát triển du
lịch trong và ngoài nước thông qua các hoạt động, sự kiện về du lịch. Trải qua
hơn 5 năm hình thành và phát triển, hoạt động xúc tiến du lịch Nghệ An đã
đạt được những kết quả nhất định, đóng góp vào sự phát triển du lịch của tỉnh.
Mặc dù đạt được những kết quả đáng khích lệ, song công tác xúc tiến vẫn
chưa đủ tầm vươn ra thị trường quốc tế, nội dung tuyên truyền quảng bá còn
đơn điệu, kinh phí đầu tư cho hoạt động xúc tiến còn hạn chế, các doanh
nghiệp chưa tích cực tham gia vào các hoạt động xúc tiến Những đặc điểm
vừa nêu của xúc tiến du lịch Nghệ An cũng tương đồng với nhiều tỉnh thành ở
Việt Nam. Do vậy Nghệ An có thể trở thành trường hợp nghiên cứu điển hình
của hoạt động xúc tiến điểm đến cấp tỉnh ở Việt Nam.
Từ những lý do cơ bản trên có thể thấy việc nghiên cứu “Hoạt động
xúc tiến điểm đến cấp tỉnh ở Việt Nam. Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ
An” là việc làm cấp thiết. Nó nhằm đề xuất các giải pháp cơ bản tăng cường
5
hoạt động xúc tiến điểm đến Nghệ An nói riêng và của các tỉnh, thành phố nói
chung trong thời gian tới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, tác giả nhằm các mục đích sau:
- Góp phần định hướng hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch cho
các tỉnh thành nói chung ở Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến
của du lịch Nghệ An.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xúc tiến điểm
đến du lịch.
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến cấp
tỉnh ở Nghệ An.

và Du lịch, Tổng cục Du lịch, các hướng dẫn viên du lịch, các cơ quan quản
lý khu, điểm du lịch tại địa phương.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, phương pháp quy
nạp để từ đó tổng hợp thành những vấn đề cốt lõi, chung nhất. Rút ra bài học
kinh nghiệm về hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của Nghệ An.
Phương pháp này nhằm lựa chọn, sắp xếp các thông tin, số liệu, dữ
liệu từ các nguồn thứ cấp, sơ cấp để định lượng chính xác và đầy đủ phục vụ
cho mục đích, yêu cầu nghiên cứu, làm cơ sở cho việc nhìn nhận, đánh giá
tổng thể về đối tượng nghiên cứu.
7
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
như: mô tả, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học và phương pháp thực địa.
5. Lược sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu, chuyên
khảo đề cập đến điểm đến và xúc tiến điểm đến du lịch nói chung, tỉnh thành
phố nói riêng. Tiêu biểu như Ronald A. & Elizabeth J. (1984) Marketing your
city”, Ernie H. & Geofrey W.(1992) “Marketing Tourism Destination”,
Davidson R. and Maitland R. (1997), “Tourism destination”, Morgan, Nigel
(1998), “Tourism promotion & Power: Creating images. Creating identities’’,
, Philip Kotler, Bowen và Markens (2003) “Marketing for hospitality and
Tourism”. Lawton và Weaver (2005)“Tourism management”, Steven Pike
(2008) “Destination Marketing”, Simon Hudson (2008) “Tourism and
Hospitality Marketing”.
Ở Việt Nam, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như Viện
nghiên cứu phát triển du lịch (2005) “Nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh
hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường du
lịch quốc tế trọng điểm, Hoàng Lê Minh (2008) “Tiếp thị trong kinh doanh
du lịch”, Nguyễn Văn Dung (2009) “Chiến lược, chiến thuật quảng bá
marketing du lịch”, Trần Ngọc Nam - Hoàng Anh (2009) “Cẩm nang nghiệp

số 36/2008, Trịnh Xuân Dũng “Điểm đến du lịch, lý luận và thực tiễn”, Tạp
chí Du lịch Việt Nam, số 6/2009 , Nguyễn Tuấn Anh, “Nâng cao năng lực
cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số
8/2010, Vụ Thị trường – Tổng cục Du lịch (2010), “Liên kết xúc tiến du lịch
cho các tỉnh Bắc Trung Bộ - Thực trạng và giải pháp”, Kỷ yếu Hội thảo liên
9
kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc miền Trung, Nghệ An, 2010, Trần Nguyên
Trực – Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Khonkean Thái Lan, “Kinh nghiệm xúc
tiến du lịch tại Lào và Thái Lan thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao”,
Kỷ yếu Hội thảo liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc miền Trung, Nghệ
An, 2010.
Tuy nhiên các công trình tiếp cận vấn đề xúc tiến điểm đến ở các khía
cạnh khác nhau và chưa có một công trình nào nghiên cứu vấn đề này một
cách toàn diện và hệ thống. Đặc biệt những nghiên cứu về hoạt động xúc tiến
điểm đến ở Nghệ An vẫn còn rất sơ khai.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục bố cục luận
văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Lý luận chung về xúc tiến điểm đến
Chương 2. Thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến ở tỉnh Nghệ An
Chương 3. Một số giải pháp tăng cường hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
ở Nghệ An nói riêng và Việt Nam nói chung.
10
Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN
1.1. Khái niệm, vai trò, lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Điểm đến
Theo cách hiểu trực giác điểm đến có nghĩa là một điểm địa lý, được sử
dụng như một mốc đánh dấu đích đến cuối cùng trong một chuyến hành trình.
Nó có thể là một thực thể riêng biệt, đơn lẻ như một địa danh, nơi chốn. Ví

Hay dưới góc độ quản lý “Điểm đến du lịch là nới diễn ra quản trị cầu
đối với du lịch và quản trị sự tác động của nó tới điểm đến”. Việc quản trị
cầu đảm bảo cho sự dễ dàng tiếp cận tới điểm đến, kiểm soát được chất lượng,
gia tăng các lợi ích, hình ảnh. Việc quản trị hiệu quả hoạt động du lịch là thiết
lập mục tiêu hợp lý, phân tích các tác động và khả năng tiếp nhận của điểm
đến, tiến hành hoạch định điểm đến phù hợp.
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều học giả đưa ra các khái niệm về điểm
đến du lịch. Theo Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Đình Hòa: “Điểm đến du
lịch là một địa điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới
về địa lý, đường biên giới về chính trị, hay đường biên giới về kinh tế, có tài
nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của
khách du lịch” [8, tr.342].
Theo TS. Nguyễn Văn Đảng: “Điểm đến du lịch là nơi có các yếu tố
hấp dẫn, các yếu tố bổ sung và các sản phẩm kết hợp những yếu tố này để
đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của du khách” [10, tr.6].
Quan điểm này, được sử dụng như một trong các cơ sở cho hoạch định
chiến lược xúc tiến điểm đến. Điểm đến du lịch là yếu tố đặc trưng của sản
12
phẩm du lịch. Các điểm đến sẽ cạnh tranh, hay hợp tác với nhau để thu hút
khách du lịch ở thị trường du lịch trong nước hay thị trường du lịch quốc tế.
Như vậy, một điểm đến du lịch có thể được định nghĩa, hay được hiểu
theo nhiều cách khác nhau. Khái niệm tổng quát đầu tiên về một điểm đến du
lịch xem nó như một không gian vật chất mà trong đó diễn ra các hoạt động
về du lịch. Từ quan điểm này, khách du lịch là người tích cực tham gia vào
việc xây dựng các không gian du lịch, tích cực hoạt động trong không gian du
lịch, tác động đến không gian du lịch và đóng góp đáng kể để không gian du
lịch được duy trì.
Một điểm đến du lịch có thể xem là một hỗn hợp của sản phẩm, tiện
nghi và dịch vụ tạo nên sự trải nghiệm du lịch. Do đó, điểm đến du lịch có thể
coi là một sản phẩm du lịch, nhưng không phải là một sản phẩm đơn lẻ mà là

Theo mục đích: Có thể phân loại điểm đến sử dụng với mục đích khác
nhau, tạo ra các khu nghỉ (Resort) như khu nghỉ cao cấp Tan Đa Resort, Son
Tra Resort, khu du lịch sinh thái Thác Đa
Theo vị trí qui hoạch: Đó là những điểm đến phụ cận hay điểm đến
thuộc trung tâm du lịch của vùng, như Hưng Yên, Thái Nguyên, Hà Nam là
các vùng phụ cận còn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là các trung tâm du
lịch của vùng.
Từ các cách tiếp cận khác nhau như vậy, ta có thể hiểu khái niệm điểm
đến du lịch được tóm tắt nhưng đầy đủ tại định nghĩa của UNWTO: “Một
điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một
đêm. Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến
và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày. Nó có các giới hạn vật chất
và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị
14
trường. Các điểm đến du lịch địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu
quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành
một điểm đến du lịch lớn hơn” [42, tr.12].
1.1.1.3. Xúc tiến điểm đến du lịch
Xúc tiến du lịch bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh: “Tourism
promotion” và cũng được nhiều người hiểu là tuyên truyền, quảng bá hay
chiêu thị du lịch. Có nhiều quan niệm về xúc tiến như “Xúc tiến nhằm tạo ra
sự chú ý, sự tuyên truyền, hay thông tin”. Quan niệm khác: “Xúc tiến nhằm
tăng thêm vị thế cho danh tiếng, nâng cao giá trị, hay thiết lập mục tiêu nào
đó” [10, tr.17].
Ngày nay, khái niệm xúc tiến du lịch được hiểu theo hai cách khác
nhau. Hiểu theo nghĩa hẹp (xúc tiến du lịch là hoạt động xúc tiến của một
doanh nghiệp hay tổ chức du lịch) và hiểu theo nghĩa rộng (xúc tiến du lịch
với tư cách là một ngành kinh tế)
Theo nghĩa hẹp: “Theo quan điểm của marketing thì bản chất của hoạt
động xúc tiến chính là quá trình truyền tin để cung cấp thông tin về một sản

tr.17].
Như vậy, xúc tiến du lịch hay xúc tiến điểm đến du lịch không phải là
một hoạt động mang tính nội bộ riêng lẻ, mà là sự kết hợp và tác động lẫn
nhau giữa các bộ phận cấu thành nên sản phẩm điểm đến du lịch vì mục tiêu
chung đã đặt ra. Và các hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch chính là một hệ
thống các quyết định liên quan đến mục tiêu, người nhận tin, ngân sách xúc
tiến nhằm phát triển và duy trì hiệu quả một hỗn hợp công cụ truyền thông
trên cơ sở nguồn lực của các tổ chức, để thu hút một cách cạnh tranh các
16
khách hàng hiện tại và tiềm năng tới điểm đến, đạt được các mục tiêu xúc tiến
và các mục tiêu chung của tổ chức.
1.1.2. Vai trò, lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
1.1.2.1. Vai trò của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
Thứ nhất, hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch nhằm tuyên truyền,
quảng bá giới thiệu cung cấp thông tin về du lịch của điểm đến tại các thị
trường đặc biệt là thị trường tiềm năng, qua đó thu hút khách du lịch.
Thứ hai, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò phát triển du lịch,
đem lại nhiều lợi ích cho xã hội, như tạo môi trường du lịch thuận lợi, tăng
thu nhập xã hội, tạo việc làm, giữ gìn và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch,
tăng tổng cầu du lịch.
Thứ ba, xây dựng hình ảnh tích cực về điểm đến du lịch trong tâm trí
khách du lịch, tác động đến sự lựa chọn điểm đến du lịch của họ.
Thứ tư, hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch được xác định như một sắp
xếp toàn bộ các nỗ lực chủ động sáng tạo của điểm đến, thiết lập các kênh
thông tin, thuyết phục, chào bán các hàng hóa và dịch vụ hay xúc tiến hình
ảnh, ý tưởng của điểm đến du lịch.
Thứ năm, hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch cung cấp các thông tin
thị trường, là cầu nối giúp các tổ chức, doanh nghiệp du lịch nghiên cứu thị
trường và tìm kiếm người tiêu dùng (khách du lịch) phù hợp.
1.1.2.2. Lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch

dân cư địa phương.
18
* Đối với khách du lịch
Ngày nay, hoạt động xúc tiến du lịch đã trở nên phổ biến và có sức
thuyết phục lớn đối với khách du lịch. Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch có
tác dụng định hướng sở thích và hình thành thị hiếu và hành vi tiêu dùng của
du khách.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch góp phần nâng cao giá trị sử dụng
sản phẩm du lịch. Bởi vì thông qua cạnh tranh, các doanh nghiệp du lịch phấn
đấu đưa ra thị trường những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt
hơn.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch kích thích lòng mong muốn có
mức sống cao hơn đã làm nảy sinh nhu cầu mới và từ đó làm tăng tổng cầu.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch còn có tác dụng hướng dẫn du
khách, cung cấp một cách có hệ thống kiến thức về một loại sản phẩm, dịch
vụ, kiến thức về điểm đến. Do đó, khách du lịch được nâng cao trình độ và tự
tin lựa chọn sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ hiệu quả hơn.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích
của du khách. Vì vậy, đòi hỏi hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch phải có đạo
đức, trách nhiệm và có sự ràng buộc về mặt pháp lý không được lừa dối du
khách như: Đưa các thông tin sai sự thật, cường điệu khoác lác, trái thuần
phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa của dân tộc…
1.2. Nội dung của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
1.2.1. Xác định mục tiêu xúc tiến
Mục tiêu xúc tiến điểm đến du lịch chỉ dẫn xem điều gì mà điểm đến du
lịch sẽ mong muốn từ đó đề ra chiến lược xúc tiến điểm đến, là kết quả mà
những nhà quản trị muốn đạt được trong tương lai cho tổ chức du lịch. Mục
tiêu xúc tiến điểm đến được xây dựng trên cơ sở kế hoạch marketing của điểm
đến du lịch và không tách rời với các mục tiêu marketing. Mục tiêu xúc tiến
19

- Nhóm mục tiêu thuyết phục bao gồm: Hình thành sự ưa thích sản
phẩm du lịch của điểm đến, khuyến khích khách du lịch tới tham quan điểm
đến, thay đổi nhận thức của khách du lịch về tính chất của sản phẩm du lịch,
thuyết phục họ mua ngay sản phẩm điểm đến du lịch.
- Nhóm mục tiêu nhắc nhở bao gồm: Hoạt động nhắc nhở khách du lịch
(người tiêu dùng) họ sắp cần sản phẩm dịch vụ du lịch, nhắc nhở nơi khách du
lịch có thể mua sản phẩm, sử dụng dịch vụ, lưu giữ trong tâm trí khách du lịch
hình ảnh sản phẩm du lịch với những ưu đãi khi trái vụ, duy trì mức độ biết
đến sản phẩm du lịch ở mức cao.
1.2.2. Xác định công chúng mục tiêu
Khi xúc tiến điểm đến du lịch trên thị trường du lịch, cần phải xác định
người nhận tin mục tiêu, hay còn gọi là công chúng mục tiêu hoặc đối tượng
nhận tin. Công chúng có thể là những khách hàng tiềm ẩn đối với các sản
phẩm du lịch, khách hàng hiện tại, những người thuộc nhóm ảnh hưởng
(reference group) hay những người có khả năng quyết định. Công chúng cũng
có thể là những cá nhân, nhóm, một giới công chúng cụ thể hay công chúng
nói chung. Công chúng mục tiêu sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến việc sẽ
thông tin những gì, thông tin như thế nào, ở đâu, khi nào và cho ai.
- Đối với người nhận tin là nhóm, người làm marketing thường phải
truyền thông với một nhóm người, gây ảnh hưởng tới quyết định mua. Chẳng
hạn, các điểm đến marketing sản phẩm và dịch vụ du lịch với các tổ chức kinh
doanh khác nhau, phải hiểu ai trong bộ phận được ủy thác mua, khía cạnh nào
của quyết định mà mỗi một người gây ảnh hưởng và tiêu chuẩn mỗi thành
viên sử dụng để đánh giá sản phẩm.
21
- Đối với người nhận tin là cá nhân, có nhu cầu thông tin riêng và thông
điệp cần phải được thay đổi cho phù hợp. Sử dụng phương tiện truyền thông
thường đòi hỏi trực tiếp (người - người) và thực hiện qua bán hàng. Một dạng
truyền thông khác như quảng cáo, được sử dụng để thu hút sự chú ý của
người nhận tin tới điểm đến du lịch thì thông điệp phải chi tiết cụ thể hơn nhờ

sự quan tâm thích thú, khơi dậy được mong muốn và thúc đẩy hành động, tốt
nhất là theo mô hình AIDA (A: tạo sự chú ý; I: tạo sự thích thú; D: tạo sự
thèm muốn; A: tạo hành động). Việc thiết kế thông điệp đòi hỏi phải giải
quyết 3 vấn đề như sau:
- Nội dung thông điệp: Người làm xúc tiến phải hình dung được những
điều phải nói với khách hàng để tạo ra những sản phẩm đáp lại mong muốn.
Nội dung chủ yếu là nêu lên một số lợi ích, động cơ, đặc điểm hay lý do tại
sao người tiêu dùng du lịch lại tới điểm đến du lịch, hay cần quan tâm để ý
đến sản phẩm du lịch. Các nhà xúc tiến cần nhấn mạnh tới hiệu quả kinh tế,
tăng lợi ích người tiêu dùng, có như thế mới tạo ra sự chú ý của du khách
(người mua) và thúc đẩy họ đi đến quyết định mua sản phẩm du lịch. Có 3
dạng thông điệp cơ bản sau:
Thông điệp lý tính: Nhằm vào mong muốn về các lợi ích, giá trị riêng
của người tiêu dùng du lịch. Hứa hẹn điểm đến du lịch, sản phẩm du lịch sẽ
đem lại những ích lợi như chất lượng, tính kinh tế, giá trị theo yêu cầu.
Thông điệp cảm tính: Gợi lên những cảm xúc tích cực hay tiêu cực nào
đó để thúc đẩy việc tiêu dùng sản phẩm du lịch. Những nhà xúc tiến đã sử
dụng những cảm xúc như vui buồn, sự thành đạt, sành điệu, thời thượng, hợp
mốt, đáng yêu, tự hào, vui sướng…, khi lựa chọn điểm đến du lịch hay
23
chuyến đi phù hợp với sự nhận thức, phù hợp hình ảnh cái tôi của khách du
lịch.
Thông điệp đạo đức: Đề cập tới khía cạnh đạo đức, nhân bản, nhằm vào
ý thức của khách du lịch (người tiêu dùng du lịch) về cái đúng và nghiêm túc,
về lợi ích cộng đồng. Ủng hộ các mục tiêu có tính chất xã hội, như vấn đề bảo
vệ và làm sạch môi trường, tôn tạo các di sản văn hóa, duy trì thuần phong mỹ
tục, duy trì sự phát triển bền vững, đóng góp vào sự xóa đói giảm nghèo ở địa
phương, nhờ đó tạo nên thiện cảm của người tiêu dùng du lịch.
- Cấu trúc của thông điệp: Hiệu quả của thông điệp phụ thuộc vào bố
cục cũng như nội dung của thông điệp. Cấu trúc của thông điệp lôgic, hợp lý,

mục tiêu còn chịu ảnh hưởng bởi việc người nhận tin mục tiêu cảm nhận như
thế nào về nguồn gửi. Có bốn yếu tố làm tăng độ tin cậy của nguồn tin đó là:
Sức hấp dẫn: Nếu thông điệp được phát ra từ những nguồn hấp dẫn sẽ
gây được chú ý và ghi nhớ nhiều nhất đối với công chúng. Có thể là các nhân
vật nổi tiếng như ca sĩ, diễn viên, vận động viên, các chính khách…
Tính chuyên môn (trình độ hiểu biết): Những người có uy tín về chuyên
môn thường tạo ra sức thuyết phục mạnh đối với công chúng. Các chuyên gia,
các nhà khoa học, tổ chức kinh doanh du lịch, những người có trình độ hiểu
biết sâu trong lĩnh vực du lịch, lời khuyên của họ có tác động lớn đến khách
du lịch.
Uy tín của nguồn tin: Liên quan đến việc nguồn được cảm nhận có mức
độ khách quan và trung thực. Thể hiện trình độ hiểu biết, uy tín trong xã hội
và cộng đồng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status