ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Chu Thành Huy
CƠ SỞ ĐỊA LÝ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC DI SẢN THẾ GIỚI
Ở VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP
VỊNH HẠ LONG VÀ ĐÔ THỊ CỔ HỘI AN)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Chu Thành Huy
CƠ SỞ ĐỊA LÝ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC DI SẢN THẾ GIỚI
Ở VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP
VỊNH HẠ LONG VÀ ĐÔ THỊ CỔ HỘI AN)
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trƣờng
Mã số: 62 85 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
Vũ Văn Phái, PGS.TS Nguyễn Hiệu, PGS.TS Trần Anh Tuấn, PGS.TS Uông Đình
Khanh... Bằng cả tấm lòng của mình, NCS xin chân thành cảm ơn những giúp đỡ
quý báu đó.
NCS cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộ thuộc Sở Văn hóa Thể thao
và Du lịch Quảng Ninh, Ban quản lý vịnh Hạ Long, Phòng Thƣơng mại và Du lịch
Hội An, Trung tâm Văn hóa - Thể thao Hội An, Hiệp hội du lịch Quảng Ninh, Hiệp
hội du lịch Quảng Nam.... và cộng đồng địa phƣơng trên địa bàn TP Hạ Long, TP
Hội An đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ trong suốt thời kỳ NCS tiến hành
nghiên cứu tại địa phƣơng.
NCS cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy, cô
giáo trong Phòng Sau Đại học, Khoa địa lý, trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại
học Quốc Gia Hà Nội.
Cuối cùng, NCS xin gửi lời cảm ơn đến tất cả cán bộ đồng nghiệp trong
trƣờng Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên, Khoa KHMT & TĐ, cũng nhƣ bạn
bè và gia đình đã động viên NCS rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận án.
Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 2017
NCS Chu Thành Huy
,
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
Mục lục
4
4
4
8. Cấu trúc của luận án…………………………………………………………
5
6
PHẦN NỘI DUNG ………………………………………………………………
Chƣơng 1. TỔNG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA
VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM …………….
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan …………………..
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về du lịch dựa vào cộng đồng…………
6
6
6
1.1.2. Các nghiên cứu địa lý phục vụ phát triển du lịch dựa vào cộng đồng..
13
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về vịnh Hạ Long và Đô thị cổ Hội An……
16
1.2. Những vấn đề lý luận về cơ sở địa lý cho phát triển triển du lịch dựa
vào cộng đồng tại các di sản thế giới ………………………………………..
1.2.1. Các khái niệm …………………………………………………………........
sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long………………………………………
2.1.1. Khái quát về khu vực di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long…..
48
49
49
49
2.1.2. Tiềm năng du lịch …………………………………………………………...
50
2.1.3. Hiện trạng phát triển du lịch và du lịch dựa vào cộng đồng…………..
58
2.2. Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại di
sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An……………………………………......
2.2.1. Khái quát về khu vực di sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An ………
2.2.2. Tiềm năng du lịch …………………………………………………………...
2.2.3. Hiện trạng phát triển du lịch và du lịch dựa vào cộng đồng…………..
67
67
68
78
2.3. So sánh điều kiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng giữa hai khu
di sản thế giới ……………………………………………................................
96
98
3.2. Định hƣớng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại di sản thiên
nhiên thế giới vịnh Hạ Long …………………………………………………
3.2.1. Phân khu chức năng du lịch dựa vào cộng đồng………………………..
101
101
iv
3.2.2. Đánh giá điều kiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại di sản
thế giới vịnh Hạ Long ……………………………………………………………...
3.2.3. Nhu cầu đối với các sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng ……………
108
111
3.2.4. Định phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại vịnh Hạ Long…………
113
3.3. Định hƣớng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại di sản văn hóa thế
giới đô thị cổ Hội An …………………………………………………………….
3.3.1. Phân khu chức năng du lịch dựa vào cộng đồng……………………
3.3.2. Đánh giá điều kiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại di sản
118
Du lịch dựa vào cộng đồng
CĐDC
Cộng đồng dân cƣ
CĐĐP
Cộng đồng địa phƣơng
DLCĐ
Du lịch cộng đồng
DSTG
Di sản thế giới
DLST
Du lịch sinh thái
IUCN
International Union for Conservation of Nature (Tổ chức Bảo tồn
Thiên nhiên Quốc tế)
HĐDL
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc)
UNEP
United Nations Environment Programme (Chƣơng trình Môi trƣờng
Liên Hợp Quốc)
UNF
United Nations Foundation (Quỹ Liên Hợp Quốc)
UNWTO
World Tourism Organization (Tổ chức Du lịch thế giới của Liên Hợp
Quốc)
WHC
World Heritage Committee (Ủy ban Di sản Thế giới)
vi
DANH MỤC BẢNG
TT
1
Nội dung
Bảng 1.1. Chỉ tiêu đánh giá tổng hợp điều kiện phát triển
9
tại khu vực DSTG vịnh Hạ Long
Bảng 3.5. Đánh giá CSVC, hạ tầng kỹ thuật du lịch tại khu vực
DSTG vịnh Hạ Long
Bảng 3.6. Đánh giá khả năng tiếp cận tại vịnh Hạ Long
Bảng 3.7. Kết quả đánh giá điều kiện phát triển DLDVCĐ tại khu
vực DSTG vịnh Hạ Long
Bảng 3.8. Kết quả phân khu chức năng DLDVCĐ tại khu vực
110
110
112
121
DSTG Hội An
10
11
12
13
14
15
Bảng 3.9. Đánh giá mức độ hấp dẫn của TNDL tại khu vực DSTG
Hội An
Bảng 3.10. Đánh giá mức độ đặc sắc của các không gian văn hóa
theo tiểu khu chức năng tại khu vực DSTG Hội An
Bảng 3.11. Đánh giá thái độ của cộng đồng đối với phát triển du
lịch tại khu vực DSTG Hội An
Bảng 3.12. Đánh giá yếu tố CSVC, hạ tầng kỹ thuật du lịch tại khu
47
2
Hình 2.1. Vị trí làm việc của lao động địa phƣơng
62
3
Hình 2.2. Công việc của lao động địa phƣơng
63
4
Hình 3.1. Bản đồ phân khu chức năng DLDVCĐ tại khu vực DSTG vịnh
107
Hạ Long
5
Hình 3.2. Bản đồ định hƣớng không gian chức năng phát triển DLDVCĐ
117
tại khu vực di sản thế giới vịnh Hạ Long
6
giảm áp lực và có thể dẫn đến việc thay thế hoàn toàn các ngành kinh tế có nguy cơ
ô nhiễm môi trƣờng cao (khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng,…).
Tuy vậy, sự phát triển ồ ạt các loại hình du lịch đại chúng, chạy theo lợi ích
kinh tế có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trƣờng (tự nhiên và xã hội),
sự bền vững của các DSTG. Điều này lại đặt ra yêu cầu phát triển du lịch bền vững
tại các DSTG - phát triển kinh tế gắn với bảo tồn di sản, đây là vấn đề có tính cấp
thiết. Lý luận và thực tiễn phát triển bền vững cho thấy CĐĐP với tƣ cách là chủ thể
của lãnh thổ du lịch sẽ tham gia tích cực hay tiêu cực vào sự phát triển lãnh thổ tùy
thuộc vào lợi ích họ đƣợc hƣởng từ các hoạt động kinh tế trên lãnh thổ đó. Do đó
CĐĐP sẽ là nhân tố bảo vệ di sản một cách hiệu quả nhất nếu chúng ta có giải pháp
huy động sự tham gia của của họ. Trên thế giới hiện nay, du lịch dựa vào cộng đồng
- DLDVCĐ (Community Based Tourism) đang là một lựa chọn phổ biến với khả
năng giải quyết thấu đáo mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế du lịch và bảo vệ môi
trƣờng tại các điểm đến nói chung và tại các khu DSTG nói riêng.
Tại Việt Nam, ngành du lịch đã có vị trí rất quan trọng, đƣợc Đảng và Nhà
nƣớc đặc biệt quan tâm phát triển và coi đó "là ngành kinh tế mũi nhọn", "chiếm tỷ
trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển KT-XH"
[84]. Đất nƣớc ta có nguồn tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú. Trong đó
1
đáng chú ý nhất là các di tích, thắng cảnh đã đƣợc UNESCO công nhận là DSTG.
Tính đến tháng 12/2014, Việt Nam đã có 8 trong số hơn 1000 DSTG trên toàn cầu.
Đó là, Quần thể di tích cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ
Sơn, Vƣờn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà
Hồ và Quần thể danh thắng Tràng An (-/en/statesparties/vn).
Tại các khu DSTG ở Việt Nam, việc nghiên cứu phát triển DLDVCĐ đã đƣợc thực
hiện ở nhiều mức độ khác nhau, với hƣớng tiếp cận đa dạng. Các công trình nghiên
cứu này đã tạo nền tảng khoa học khá vững chắc và toàn diện cho phát triển
DLDVCĐ tại đây. Tuy nhiên, vẫn cần có thêm những nghiên cứu ở nhiều góc độ
nói riêng tại hai khu di sản;
- Phân khu chức năng DLDVCĐ tại hai khu di sản (khu và tiểu khu);
- Đánh giá tiềm năng phát triển DLDVCĐ theo các tiểu khu của hai khu di sản;
- Đề xuất các giải pháp phát triển DLDVCĐ cho hai khu DSTG ở Việt Nam.
3. Giới hạn nghiên cứu
3.1. Giới hạn về không gian
Về mặt không gian, luận án tập trung nghiên cứu tại hai DSTG là: vịnh Hạ
Long và Đô thị cổ Hội An. Tại hai di sản này, không gian nghiên cứu đƣợc xác định
nhƣ sau:
- Đối với DSTG vịnh Hạ Long: là toàn bộ lãnh thổ hành chính TP Hạ Long
và vùng biển đảo Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây (huyện Vân Đồn) thuộc vùng
đệm di sản, có diện tích khoảng 887 km2.
- Đối với khu vực DSTG đô thị cổ Hội An: là toàn bộ lãnh thổ hành chính
(phần đất liền) của TP Hội An (không tính xã đảo Tân Hiệp).
3.2. Giới hạn về thời gian
Đối với các số liệu về hiện trạng du lịch, nguồn lao động tại hai khu vực di
sản đƣợc thu thập từ 2008 - đến năm 2013.
Đối với các số liệu chung về phát triển kinh tế tại hai khu vực di sản đƣợc lấy
đến năm 2014.
3.3. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Luận án chỉ để cấp đến các di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể,
không nghiên cứu các di sản phi vật thể.
4. Luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Vị trí địa lý, tính đặc thù về tự nhiên, kinh tế - xã hội tạo nên
sự khác biệt về hệ thống tiềm năng DLDVCĐ giữa hai khu di sản vịnh Hạ Long và
đô thị cổ Hội An.
Luận điểm 2: Đặc điểm tiềm năng du lịch, hiện trạng và xu thế phát triển
DLDVCĐ là cơ sở cho định hƣớng không gian về chức năng, loại hình du lịch, sản
3
Tƣ liệu về bản đồ: bản đồ địa hình tỉ lệ 1/50.000 về khu vực vịnh Hạ Long và
1.10.000 của TP Hội An; bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000; bản đồ địa mạo đáy biển
và dọc đƣờng bờ vùng biển Hải Phòng - Quảng Ninh từ 0-30m nƣớc tỷ lệ
4
1/100.000; bản đồ địa chính TP Hội An tỷ lệ 1/10.000 (2010), bản đồ quy hoạch sử
dụng đất TP Hội An tỷ lệ 1/10.000 (2010). Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh
Quảng Ninh tỷ lệ 1/100.000 (2010).
Tƣ liệu về dân số, lao động: số liệu thống kê của Chi cục thống kê TP Hội
An, TP Hạ Long; trong quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH của Hạ Long và Hội
An.
Số liệu về KT-XH, hiện trạng HĐDL: báo cáo KT-XH các năm của TP Hạ
Long và TP Hội An đƣợc đăng tải trên cổng thông tin điện tử của 2 đơn vị, số liệu
thống kê lƣu trữ của Trung tâm văn hóa thể thao Hội An, phòng Thƣơng mại - Du
lịch Hội An.
Đồng thời, NCS còn tham khảo các quy hoạch ngành và các quy hoạch tổng
thể phát triển KT-XH địa phƣơng; Đề tài nghiên cứu các cấp, các tài liệu download
trên mạng Internet, từ các Website của các trƣờng đại học, của các tạp chí chuyên
ngành, các tổ chức nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam; Các công trình, bài báo
trong quá trình học NCS, các tài liệu thu đƣợc từ thực địa… là cơ sở quan trọng cho
NCS thực hiện và hoàn thành luận án.
8. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 149 trang (cả tài liệu tham khảo), 32 phụ lục (87 trang), 1 sơ
đồ, 4 bản đồ, 15 bảng, 179 tài liệu tham khảo các loại. Ngoài phần mở đầu và kết
luận, nội dung luận án đƣợc cấu trúc trong 3 chƣơng, gồm:
Chƣơng 1. Tổng quan, sơ sở lý luận phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại
các di sản thế giới ở Việt Nam
Chƣơng 2. Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại
khu vực di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và di sản văn hóa thế giới đô thị
mong muốn đƣợc trở thành một phần của SPDL, để chia sẻ lợi ích cũng nhƣ những
chi phí. Tuy nhiên việc phát triển DLCĐ có thể mở rộng sự khác biệt giữa những
thành viên trong cộng đồng. Điều này có thể trở thành trở ngại cho sự thành công
của các dự án phát triển du lịch [164]. Baum cũng chia sẻ: ý định tốt đẹp về nguyện
vọng phát triển vẫn có thể dẫn đến những sai lầm khi mà cách tiếp cận hời hợt và
không nhận ra đƣợc các đặc trƣng của những cộng đồng liên quan [125]. Trong khi
đó Holland tuyên bố rằng: thậm chí với một kỹ thuật tham gia thực tế tốt nhất và
một cam kết trách nhiệm của địa phƣơng, những mô hình gắn vào những CĐĐP vẫn
tạo nên những rào cản để đạt đƣợc mục đích phát triển du lịch bền vững [137].
6
Sự tin tƣởng: mặc dù vẫn còn những ngƣời hoài nghi về hiệu quả của
DLDVCĐ, nhƣng hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất rằng DLDVCĐ sẽ là
một giải pháp tất yếu cho du lịch trong tƣơng lai. Tiêu biểu cho quan điểm này là
Ritchie, ngay từ năm 1993, ông đã dự báo: sự phát triển của DLCĐ sẽ làm thay đổi
ngành du lịch trong tƣơng lai, và theo ông du lịch trong tƣơng lai sẽ tập trung nhiều
hơn đến trách nhiệm của cộng đồng đối với du lịch - (dẫn theo [154, tr.81]. Trƣớc
đó vào năm 1988, Peter Murphy đã đề cập đến vấn đề cộng đồng lập quy hoạch du
lịch nhƣ là một giải pháp để nâng cao vai trò của du lịch trong bảo tồn và là bằng
chứng để chứng minh cho khả năng liên kết giữa CĐĐP với ngành công nghiệp du
lịch để trở thành quan hệ đối tác cùng có lợi tại Bristis Columbia, Canada [148].
Năm 1990, Brian Keogh đã chỉ ra vai trò của việc cung cấp thông tin đầy đủ cho
CĐĐP trong các dự án quy hoạch du lịch có ý nghĩa quan trọng để mang đến sự
thành công cho các dự án [139].
Ở khu vực Đông Nam Á, thuật ngữ DLDVCĐ chính thức xuất hiện và đƣợc
phổ biến rộng rãi ở các nƣớc ASEAN từ năm 1995 nhƣng phải đến năm 2003 nó
mới lần đầu xuất hiện tại Việt Nam [66]. Trƣớc đó vào thập niên 1990, nƣớc ta rất
phổ biến khái niệm DLST, du lịch xanh. Xét về bản chất, những loại hình du lịch
này có nhiều nét tƣơng đồng (đều hƣớng đến việc bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi
nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1995 (tiêu chí iii, iv,v). DLDVCĐ tại
Ifugao bắt đầu đƣợc phát triển từ năm 2003 và đến năm 2006, có 5 tour du lịch
đƣợc tổ chức trên cơ sở lịch thời vụ nông nghiệp trong khu vực. Sự phát triển
DLDVCĐ đã mang đến những lợi ích kinh tế trực tiếp cho CĐĐP. Theo số liệu
thống kê của UNESCO [169], năm 2006 Ifugao đã đón 93.037 lƣợt khách (51.400
lƣợt khách quố tế). Về doanh thu, 74.4% số ngƣời đƣợc khảo sát cho biết có thu
nhập từ du lịch dƣới 6 USD/ngày, 21,6% có thu nhập trên 7 USD/ngày và thu nhập
sẽ cao hơn vào mùa du lịch (57,3% ngƣời đƣợc hỏi có thu nhập >7 USD/ngày).
Ở Việt Nam, nhiều dự án DLDVCĐ đã đƣợc triển khai trên khắp mọi vùng
miền: các thôn bản ở Sa Pa (Thanh Phú, Bản Hồ, Tả Van, San Xả Hồ, Tả Phìn…);
Bắc Hà (Lào Cai); Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình); bên cạnh đó hầu hết các Vƣờn
Quốc Gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di sản đều có các mô hình DLCĐ, đáng
chú nhất là Vƣờn Quốc Gia Cúc Phƣơng (Ninh Bình), Hội An (Quảng Nam), vịnh
Hạ Long…. Các dự án kể trên có mức độ thành công, hiệu quả khác nhau tuy nhiên
tất cả đều chỉ ra một điều, DLDVCĐ là một hƣớng đi đúng nhằm bảo vệ tài nguyên,
môi trƣờng trong phát triển du lịch và hƣớng đến một nền du lịch bền vững. Đây
chính là những cơ sở thực tiễn để các nhà khoa học tổng kết, khái quát nhằm làm
phong phú thêm nền tảng lý thuyết về DLDVCĐ.
8
Đối với các công trình nghiên cứu về DLDVCĐ, tùy theo góc độ, quan điểm
và mục đích mà có những hƣớng nghiên cứu khác nhau. Nhƣng tựu chung lại có
một số tiếp cận nổi bật nhƣ sau:
- Hướng tiếp cận cộng đồng tham gia phát triển DLDVCĐ:
Với hƣớng tiếp cận này, cộng đồng điểm đến đƣợc xem nhƣ thành phần quan
trọng nhất hay chính là chìa khóa để phát triển du lịch bền vững theo nhận định của
các tác giả Murphy [147], McIntyre. G và cộng sự [143], Muhanna [146], Niezgoda
và Czernek [149], Matarrita-Cascante và cộng sự [142]. Thậm chí, Figgis và
[171]. Suansri cũng nhấn mạnh, cộng đồng đƣợc lựa chọn để phát triển DLDVCĐ
cần đƣợc chuẩn bị rất kỹ về kỹ năng, đặc biệt là quyền thay đổi hoặc đình chỉ các
HĐDL nếu nó phát triển vƣợt ngoài khả năng quản lý của cộng đồng và mang đến
những tác động tiêu cực [163].
Tuy vậy có thể thấy, trong rất nhiều các tài liệu về phát triển cộng đồng,
DLDVCĐ, các tác giả thƣờng tập trung nhiều vào tầm quan trọng của việc tham gia
hoặc không tham gia của cộng đồng trong quá trình quy hoạch và phát triển du lịch
mà ít đi sâu nghiên cứu cách thức thiết thực để CĐĐP tham gia, làm thế nào để
tham gia, và đến mức độ nào hoặc có cũng ở tầm vĩ mô nhƣ nghiên cứu của
Mbaiwa (2005) và Timothy (1999) theo nhận định của Michael Muganda và cộng
sự [145]. Chỉ có một vài nghiên cứu của Aref và Redzuan [122], MatarritaCascante và cộng sự [142] và Tosun [167] có thực hiện một bƣớc xa hơn để kiểm
tra sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch ở cấp cơ sở. Trong các nghiên
cứu này, Tosun nhận thấy CĐĐP ƣa thích vai trò là ngƣời lao động và doanh nhân
trong ngành du lịch. Điều này có thể thấy, có một khoảng trống rất lớn trong lý
thuyết phát triển DLDVCĐ.
- Tiếp cận trên cơ sở nguồn lực du lịch (xác định điều kiện để phát triển):
Đây là một hƣớng nghiên cứu rất phổ biến, tập trung vào việc xác định điều
kiện cần thiết để phát triển DLDVCĐ: theo John Mock (dẫn theo [66]), để phát triển
DLDVCĐ cần một khu vực tài nguyên thiên nhiên hoang dã và CĐĐP - những
ngƣời đã sinh sống hàng ngàn năm, qua nhiều thế hệ trên lãnh thổ đó. Cùng quan
điểm với John Mock, Damira Raeva khi tổng kết đánh giá hiệu quả của dự án "Hỗ
trợ DLDVCĐ ở Kyrgyzstan" cho rằng cách tiếp cận cộng đồng chỉ phù hợp với
vùng nông thôn, nơi mà có ít nguồn thu nhập thay thế và mối quan hệ xã hội còn
chặt chẽ [153]. Theo tài liệu hƣớng dẫn phát triển DLCĐ của Quỹ châu Á và Viện
nghiên cứu và phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam [67], các khu vực có
TNDL (văn hóa và tự nhiên) là nơi có thể làm đƣợc du lịch. Tuy nhiên, tài liệu này
cũng nhấn mạnh để chắc chắn hình thành và phát triển đƣợc DLCĐ thì ngoài các
10
truyền thông (dẫn theo [160, tr.34]). Trong khi đó David Barkin lƣu ý, du lịch hiếm
khi có thể là chính, hoặc trở thành cơ sở thu nhập chính cho cộng đồng. Thay vào
11
đó, "du lịch phải là một phần của một khái niệm rộng lớn hơn của nền kinh tế miền
núi có tính đến khai thác bền vững các nguồn tài nguyên, thỏa mãn nhu cầu cơ bản
(tự túc) và địa phƣơng quản lý (cũng nhƣ kiểm soát và lãnh đạo)" (dẫn theo [165,
tr.8]). Tại Scotland, theo Bryden, du lịch hoạt động cho phát triển cộng đồng bởi vì
nó tồn tại bên cạnh các doanh nghiệp sử dụng đất khác (dẫn theo [165, tr.9]).
Cũng trên góc độ kinh tế, Damira Raeva chỉ ra, để dự án (DLDVCĐ) phát
huy hiệu quả trƣớc khi triển khai cần thiết phải phân tích các tiềm năng phát triển
du lịch trong khu vực thông qua việc tiến hành nghiên cứu thị trƣờng và yêu cầu sự
cam kết của các bên liên quan có tiềm năng [153]. Boronyak và cộng sự lại cho
rằng, để DLDVCĐ có thể phát huy vai trò cần thiết phải tạo lập đƣợc một đội ngũ
quản lý hiệu quả; xây dựng đƣợc quy chế kiểm soát chất lƣợng cho từng phần trong
chu trình quản lý; quản lý đƣợc rủi ro và sự thay đổi của hoàn cảnh; cần tiến hành
đánh giá liên tục đối với công tác quản lý. Các tác giả này cũng nhấn mạnh
DLDVCĐ đòi hỏi một cách tiếp cận dài hạn, hƣớng đến mục đích tối đa hóa lợi ích
cho CĐĐP và hạn chế những tác động tiêu cực của du lịch đối với cộng đồng cũng
nhƣ tài nguyên - môi trƣờng của họ [124].
Tóm lại, dƣới góc độ kinh tế và quản lý để phát triển DLDVCĐ cần phải tiến
hành nghiên cứu thị trƣờng, đề ra chiến lƣợc kinh doanh, gắn du lịch với các ngành
kinh tế khác của địa phƣơng, xây dựng đội ngũ quản lý, và quan trọng nhất là phải
có cách tiếp cận phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
- Hướng tiếp cận nghiên cứu sự tham gia của các bên trong phát triển
DLDVCĐ:
Để DLDVCĐ thực sự mang lại lợi ích cho cộng đồng và bảo tồn, điều quan
trọng là phải xác định đƣợc các bên tham gia hoặc có ảnh hƣởng đến các điểm đến
du lịch. Đây cũng là vấn đề nghiên cứu đƣợc rất nhiều công trình khoa học về phát
gian phát triển DLDVCĐ tại các DSTG ở Việt Nam.
1.1.2. Các nghiên cứu địa lý phục vụ phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Trƣớc hết đối với các nghiên cứu địa lý du lịch nói chung, trên thế giới và Việt
Nam nghiên cứu địa lý phục vụ phát triển du lịch rất phổ biến, với nhiều hƣớng nghiên
cứu khác nhau. Tuy nhiên có thể nhận thấy 3 vấn đề chung nhất thƣờng đƣợc đề cập
trong nghiên cứu này là xác định lập phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu,
đánh giá tài nguyên du lịch (hoặc tổng thể) và tổ chức lãnh thổ du lịch [2].
Đối với các nghiên cứu nhằm xác lập phƣơng pháp luận và phƣơng pháp
nghiên cứu địa lý du lịch, đáng chú ý là các công trình của Pirojnik (1985), Butler
(1990), Robinson và Cummings (1991) (dẫn theo [2]), Milesca (1963), Petrescu
(1973), Buchovarop (1979) (dẫn theo [100]). Ở Việt Nam hƣớng nghiên cứu này
đáng chú ý là công trình "Địa lý du lịch" của Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự [99], đã
13
đƣa ra đƣợc những khái niệm, quan điểm, phƣơng pháp, đối tƣợng nghiên cứu của
địa lý du lịch.
Đối với hƣớng nghiên cứu đánh giá tài nguyên du lịch hay đánh giá các tổng
thể tự nhiên phục vụ phát triển du lịch, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của
Mukhina (1973), Ashworth (1992), Boniface và Cooper (1993) (dẫn theo [2]). Ở
Việt Nam hƣớng nghiên cứu này rất phổ biến, và đƣợc thể hiện dƣới một số dạng
nhƣ sau: đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho mục đích du lịch
(Đặng Duy Lợi [47], Lê Thông [83]), đánh giá cảnh quan (Phạm Hoàng Hải và
cộng sự [22]), đánh giá sinh thái cảnh quan (Phạm Quang Anh [2], Nguyễn An
Thịnh [82])…
Đối với hƣớng nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch, đây là một trong những
vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu của địa lý du lịch, với các công trình nghiên cứu
của Kotliarov (1978), Mironeko và Tirodokholebok (1981), M.Buchovarov (1982),
Pirojnik (1985), Ngô Tất Hổ (1998) (dẫn theo [100]), Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi
Về định hƣớng phát triển: Hầu hết các nghiên cứu đều tiến đến phân chia
lãnh thổ nghiên cứu thành các không gian khác nhau cho phát triển du lịch. Các
hình thức phân chia chủ yếu là phân vùng du lịch, phân vùng địa lý tự nhiên, phân
vùng cảnh quan (sinh thái cảnh quan) phục vụ phát triển du lịch hoặc xác định các
tuyến, điểm du lịch, khu du lịch… Cơ sở của các định hƣớng này đƣợc xác định dựa
trên sự phân hóa không gian của các điều kiện phát triển du lịch (điều kiện tự nhiên,
tài nguyên, kết cấu hạ tầng, CSVC kỹ thuật, lao động, hiện trạng hoạt động…).
Tóm lại, từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu địa lý phục vụ phát
triển du lịch nói chung và DLDVCĐ nói riêng cho thấy:
- Hệ thống các nghiên cứu địa lý du lịch rất phong phú, đa dạng và đã tạo
nên một hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về hƣớng tiếp cận này trong việc giải
quyết các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch;
- Các công trình nghiên cứu phát triển DLDVCĐ dƣới góc độ địa lý tại Việt
Nam chƣa nhiều, đặc biệt đối việc nghiên cứu phát triển DLDVCĐ tại các DSTG.
- Việc phân chia không gian nhằm định hƣớng phát triển du lịch là một kết
quả phổ biến trong các nghiên cứu dạng này. Tuy nhiên, việc phân chia các không
gian này chủ yếu dựa trên các yếu tố tự nhiên mà ít xem xét các yếu tố nhân văn của
lãnh thổ.
Từ những phân tích kể trên, NCS nhận thấy việc tiếp cận địa lý học nhằm
xác định các không gian chức năng phát triển DLDVCĐ tại các DSTG ở Việt Nam
trên cơ sở phân tích, đánh giá điều kiện phát triển (đặc biệt là các yếu tố văn hóa
cộng đồng) là việc làm có cơ sở khoa học và đảm bảo tính mới trong nghiên cứu.
15