VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ LAN
DI SẢN HÓA Ở VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP ĐỀN HÁT MÔN,
HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ LAN
DI SẢN HÓA Ở VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP ĐỀN HÁT MÔN,
HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9.22.90.40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Lƣơng Hồng Quang
2. TS. Hoàng Cầm
Hà Nội - 2019
MÔN .........................................................................................................................78
3.1. Sự biến đổi của di tích và lễ hội sau vinh danh..................................................78
3.2. Nhà nước và cộng đồng trong quá trình hậu vinh danh di tích và lễ hội đền Hát
Môn .........................................................................................................................100
Tiểu kết ..................................................................................................................128
Chƣơng 4: DI SẢN HÓA ĐỀN HÁT MÔN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ BÀN LUẬN
.................................................................................................................................130
4.1. Các động thái chính trị - xã hội của việc vinh danh di sản ..............................130
4.2. Những tác động của di sản hóa ........................................................................143
Tiểu kết ...................................................................................................................156
KẾT LUẬN ............................................................................................................158
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ........................................................163
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................164
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Từ viết tắt
Từ viết đầy đủ
BBVDT
Ban Bảo vệ di tích
Cb
Chủ biên
DSVH
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN ÁN
Tên bảng
STT
1
Bảng 1: Các dự án trùng tu, xây mới tại di tích đền
Số trang
81-82
Hát Môn từ 2000-2018
2
Bảng 2: Mô hình quản lý nhà nước đền Hát Môn
101
3
Bảng 3: Hỗ trợ kinh phí thành viên Ban Bảo vệ di
113
tích đền Hát Môn
4
Bộ VHTTDL đưa vào danh mục DSVH phi vật thể quốc gia. Trong số các DSVH
của Việt Nam, UNESCO đã ghi danh 08 di sản vào danh mục Di sản thế giới theo
Công ước UNESCO 1972 về Bảo vệ DSVH và Thiên nhiên Thế giới; 12 DSVH phi
vật thể. Ngoài ra, theo Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO, tính đến nay,
1
Việt Nam đã có 07 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh (gồm 03 di sản tư liệu thế
giới và 04 di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương) [23, tr. 6].
Đặc biệt, việc vinh danh, xếp hạng DSVH /di sản hóa đã trở thành một trong
những hoạt động quan trọng để thực tế hóa định hướng phát triển văn hóa quốc gia
khi Việt Nam ban hành Luật DSVH năm 2001. Nó được coi là một tác nhân làm
thay đổi thực hành văn hóa của cộng đồng, củng cố mối quan hệ với nhà nước của
các chủ thể văn hóa, gắn kết DSVH với những sáng tạo văn hóa mới, khẳng định
bản sắc văn hóa thời hiện đại... Mặt khác, trong quá trình di sản hóa, việc lựa chọn
các DSVH nào, phục hồi, xếp hạng nó ra sao, các mối quan hệ giữa cộng đồng, nhà
nước trong quá trình đó như thế nào… là một vấn đề khá phức tạp và thể hiện nhiều
quan điểm khác nhau, những động thái chính trị, những mối tương tác quyền lực
của các nhóm xã hội trong bối cảnh Việt Nam đương đại.
Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội) là một di tích cổ ở đồng
bằng sông Hồng thờ Hai Bà Trưng - những nhân vật được xem là biểu tượng nói lên
tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Việc thờ phụng
Hai Bà Trưng từ hàng nghìn năm ở đây không chỉ có ý nghĩa về mặt tâm linh đối
với cộng đồng địa phương mà còn có tầm quan trọng đặc biệt trong việc duy trì và
nâng cao tâm thức của người Việt về cội nguồn, về lịch sử chung của quốc gia - dân
tộc. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong các bài phát biểu quan trọng của nhiều
nhà chính trị - ngoại giao trên thế giới khi đến Việt Nam cũng đã gợi nhắc về hình
tượng Hai Bà Trưng như một biểu tượng về sự đoàn kết, khẳng định tinh thần, triết
lý của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam (bài phát biểu của cựu Tổng thống
phố Hà Nội làm đề tài luận án tiến sĩ của mình, với mong muốn đóng góp một góc
nhìn mới trong bức tranh nghiên cứu vốn đa dạng và phong phú về DSVH ở Việt Nam
trong bối cảnh xã hội đương đại.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về quá trình lựa chọn, vinh danh di tích và lễ hội đền Hát
Môn trở thành DSVH để biện giải các động thái chính trị, xã hội và kinh tế của vấn
đề di sản hóa ở Việt Nam cũng như các tác động của quá trình di sản hóa đối với
việc bảo vệ, phát huy giá trị DSVH vật thể và phi vật thể.
3
Mặt khác, thông qua nghiên cứu trường hợp về quá trình di sản hóa di tích và
lễ hội đền Hát Môn, luận án hướng đến luận giải về mặt lý luận xu hướng di sản hóa
từ góc độ thực tiễn của Việt Nam, góp phần vào nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
di sản hóa, DSVH trên thế giới trong bối cảnh quốc tế và hội nhập hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu
cụ thể như sau:
- Nghiên cứu tổng quan về di tích và lễ hội đền Hát Môn, quá trình hình
thành, phát triển và vai trò của di tích trong việc tạo dựng bản sắc quốc gia - dân tộc
và ý nghĩa đối với cộng đồng địa phương trong lịch sử.
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về xu hướng di sản hóa ở Việt Nam và trên
thế giới.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống thực tiễn quá trình lựa chọn và vinh danh
di tích và lễ hội đền Hát Môn trở thành DSVH; Chỉ ra quá trình biến đổi của di tích
và lễ hội đền Hát Môn sau khi vinh danh; sự tham gia của cộng đồng, nhà nước vào
quá trình di sản hóa di tích và lễ hội đền Hát Môn.
- Bàn luận về những vấn đề đặt ra liên quan đến quá trình di sản hóa các di
DSVH không nhất thiết phải là một “vật” mà là một quá trình xã hội và văn hóa,
kéo theo những hành động nhớ về công việc đó để tạo nên những cách để hiểu và
tham gia vào hiện tại…” [89, tr. 484]. DSVH không phải là cái “có sẵn”, cái đương
nhiên tồn tại mà được đặt trong các chiều kích vận động, biến đổi. Quá trình vận
động, biến đổi đó có nhiều động thái, bối cảnh, các bên liên quan can thiệp vào tạo
nên tính phức tạp, tính liên kết và tương tác đa chiều của DSVH.
Tiếp cận DSVH theo hướng văn hóa học, luận án sử dụng các phương pháp
nghiên cứu liên ngành của nhiều ngành khoa học khác nhau để tìm hiểu, lý giải về
tính chính trị của DSVH trong quá trình di sản hóa một cách tổng thể và sâu sắc nhất.
4.2.1. Phương pháp quan sát tham dự
Phương pháp này được tác giả sử dụng trong suốt quá trình làm luận án.
Đợt thực địa lần đầu tiên được tác giả tiến hành vào tháng 12/2016 với mục
đích tìm hiểu tổng quan về địa bàn nghiên cứu. Tra cứu thông tin về xã Hát Môn
trên website của huyện Phúc Thọ, tác giả đã liên lạc trước qua điện thoại với văn
phòng UBND xã để thu xếp lịch làm việc. Khi đến trực tiếp trình bày về mục đích
5
nghiên cứu của mình, tác giả đã được cán bộ địa phương giúp đỡ nhiệt tình và tạo
điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành làm việc. Đại diện chính quyền xã đã dẫn tác
giả lên đền Hát Môn, công việc đầu tiên là hướng dẫn làm “lễ trình” Hai Bà, xin
phép Nhị vị Đại vương “chấp thuận” để chúng tôi thực hiện mục đích nghiên cứu
của mình. Tiếp đó, tác giả luận án được giới thiệu, gặp gỡ các thành viên trong Ban
Bảo vệ di tích (BBVDT) đền để nắm bắt được tình hình. Ngay từ buổi đầu tiên tiếp
xúc, tác giả đã có được cái nhìn tổng quan về cơ sở vật chất, diện mạo của vùng đất
cũng như di tích và lễ hội đền Hát Môn.
Cũng từ buổi tiếp xúc đầu tiên, tác giả có được những thông tin về lễ hội đền
Hát Môn để sắp xếp thời gian điền dã phù hợp. Lễ hội đền Hát Môn diễn ra 3 lần
trong năm vào các ngày mồng 6 tháng Ba, mồng 4 tháng Chín và 24 tháng Chạp âm
Phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng nhất để thực hiện đề tài luận án
này. Tại địa bàn nghiên cứu, thông qua các đợt điền dã, cùng với việc quan sát tham
dự, công việc chính của tác giả là tiếp xúc, phỏng vấn, trò chuyện với đại diện cán
bộ, người dân địa phương, khách du lịch thuộc các nhóm tuổi, giới tính, trình độ,
nghề nghiệp khác nhau. Bên cạnh các mẫu chọn có chủ đích còn có các mẫu ngẫu
nhiên. Đối với từng nhóm đối tượng phỏng vấn, tác giả đều có sự chuẩn bị các câu
hỏi cơ bản để gợi mở về các vấn đề nghiên cứu. Thời gian phỏng vấn đa dạng,
ngoài các buổi làm việc ban ngày, nhiều buổi phỏng vấn được sắp xếp vào buổi tối.
Địa điểm phỏng vấn phong phú, có khi trực tiếp tại nhà đền, khi ở nhà chứa lễ, khi
tại nhà của các đối tượng phỏng vấn. Phần lớn các đối tượng tác giả phỏng vấn đều
rất nhiệt tình và hiếu khách, họ sẵn sàng chia sẻ thông tin và bày tỏ quan điểm đối
với những vấn đề mà tác giả đang tìm hiểu. Có rất nhiều buổi nói chuyện kéo dài 23 giờ đồng hồ, thậm chí họ còn đặt thêm lịch hẹn vào các buổi sau để trao đổi hay
giới thiệu cho tác giả thêm các đối tượng phỏng vấn các vấn đề mà người được
phỏng vấn chưa nắm rõ.
Với mục đích đa dạng hóa nguồn thông tin, tác giả đã lựa chọn phỏng vấn
sâu và thảo luận nhóm với nhiều nhóm đối tượng khác nhau:
- Cán bộ quản lý địa phương, tác giả đã lựa chọn phỏng vấn đại diện chính
quyền huyện/xã/các cụm dân cư, cán bộ một số ban ngành, đoàn thể (thanh niên,
phụ nữ…); cán bộ làm công tác quản lý văn hóa ở trung ương, thành phố và địa
7
phương. Đây là nhóm đối tượng giúp tác giả thấy được quan điểm của họ trong
việc nhận thức các văn bản, chỉ đạo của cấp trên liên quan đến vấn đề DSVH; vai
trò của chính bản thân họ trong quá trình di sản hóa. Đồng thời, tác giả cũng quan
tâm đến các thông tin về sự phối hợp giữa họ và cộng đồng trong việc thực hiện
các hoạt động bảo vệ, phát huy di sản trước và sau vinh danh, thông qua đó nắm
bắt được những vấn đề liên quan đến lợi ích giữa cộng đồng, nhà nước và DSVH
tại địa phương. Ngoài ra, tác giả còn dành thời gian phỏng vấn một số nhà nghiên
tin đa chiều đồng thời kiểm chứng được một số thông tin đã được cung cấp trước
hoặc sau đó.
4.2.3. Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
Với đề tài này, tác giả tiến hành tổng hợp và phân tích các nguồn tài liệu của
Việt Nam và quốc tế nhằm xem xét, đánh giá các lý thuyết, các quan điểm nghiên
cứu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án, gồm các nội dung về
DSVH, quản lý di sản, quá trình di sản hóa, các lý thuyết/quan điểm xung quanh
vấn đề di sản hóa…; các nghiên cứu về di tích và lễ hội đền Hát Môn, huyện Phúc
Thọ, thành phố Hà Nội. Cùng với đó, tác giả tập trung phân tích các văn bản, chỉ
thị, nghị quyết của Nhà nước, chính quyền địa phương về việc quản lý và bảo vệ
DSVH nói chung, đền Hát Môn nói riêng trước và sau khi được công nhận danh
hiệu DSVH ở các cấp khác nhau.
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích những nguồn tài liệu này, tác giả có được một
cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu của đề tài. Cùng với việc so sánh, đối
chiếu với các tư liệu thực tế, điền dã, phỏng vấn đã làm cơ sở khoa học để tác giả
diễn giải quá trình di sản hóa đền Hát Môn, thành phố Hà Nội, qua đó có thể hiểu
thêm bức tranh đa dạng về DSVH ở Việt Nam trong bối cảnh xã hội đương đại.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Từ góc nhìn văn hóa học, luận án làm rõ quá trình lựa chọn, vinh danh một
di tích và thực hành văn hóa cụ thể trở thành DSVH gắn với sự tham gia của các
bên liên quan và các động thái chính trị xã hội khác nhau của mỗi bên trong thực
tiễn xã hội Việt Nam sau đổi mới.
Luận án phân tích những vấn đề đặt ra đối với DSVH sau khi được vinh
danh, góp phần vào công tác bảo vệ, phát huy giá trị DSVH trong bối cảnh xã hội
Việt Nam đương đại.
9
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về di sản hóa
Trong xu thế toàn cầu, di sản hóa (heritagization) được xem là một hoạt
động không chỉ nhằm đề cao và tôn vinh mà còn hỗ trợ cho việc bảo vệ, phát huy
giá trị các sáng tạo văn hóa của tộc người hay một cộng đồng cụ thể. Hoạt động này
rất được các quốc gia quan tâm để thông qua đó nhà nước có thể gắn kết hơn với
cộng đồng chủ thể trong quản lý xã hội, củng cố vị thế chính trị trong nước và trước
thế giới, khẳng định bề dày lịch sử phát triển cũng như giữ gìn bản sắc văn hóa quốc
gia. Di sản hóa và những vấn đề xoay quanh nó vẫn luôn là đề tài có sức hút lớn đối
với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong và ngoài nước dưới
những góc độ tiếp cận khác nhau, với nhiều hội thảo, nhiều ấn phẩm có giá trị được
xuất bản, nhiều vấn đề còn đang được tranh luận, thậm chí quan điểm của các nhà
nghiên cứu còn trái ngược nhau.
Trong các công trình nghiên cứu về di sản hóa, tính chính trị của việc đề cử
di sản, các vấn đề liên quan đến sự tham gia của các bên liên quan cũng như các
động thái chính trị và văn hoá của sự tham gia này thu hút được sự quan tâm của
nhiều học giả. Nhiều di tích, thực hành văn hóa được công nhận là DSVH với sự
tham gia tích cực của nhà nước. Trong bài viết Anthropology‟s Payback: “The
Gastronomic Meal of the French” The Ethnographic Elements of a Heritage
Distinction, Jean-Louis Tornatore phân tích quy trình đề cử “bữa ăn kiểu Pháp”
trong Danh sách DSVH phi vật thể của nhân loại là quá trình di sản hóa từ trên
xuống, được thúc đẩy bởi các lợi ích chính trị khác nhau. Nicolas Sarkozy - Tổng
thống Pháp đã kêu gọi UNESCO đưa ẩm thực phong cách Pháp vào danh sách các
di sản thế giới cần được bảo vệ. Tiếp đó, một chiến dịch vận động cấp quốc gia để
ẩm thực Pháp có được sự công nhận của UNESCO chính thức được phát động tại
một cuộc họp báo ở Paris. Nhờ những nỗ lực đó của Chính phủ Pháp, “bữa ăn kiểu
11
12
văn hóa và kinh tế lâu dài với sự tham gia tích cực của các hiệp hội và người dân
địa phương. C. Salomone miêu tả đây là quá trình di sản hóa “từ dưới lên” (the
bottom up) để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và tạo việc làm cho người dân địa
phương [142, tr. 229]. Sự tham gia của nhà nước và cộng đồng trong quá trình di
sản hóa cũng được tác giả Michelle L. Stefano và cộng sự đề cập trong cuốn
Safeguarding Intangible Cultural Heritage [Bảo vệ DSVH phi vật thể]. Công trình
đã đưa ra nhận thức về tầm quan trọng của DSVH phi vật thể do nỗ lực quảng bá
của UNESCO và các Công ước của tổ chức này về bảo vệ DSVH phi vật thể. Ở một
khía cạnh khác, các tác giả cung cấp những sự hiểu biết về quá trình di sản hóa, thể
hiện cả từ “những quyền lực tạo nên” từ các nhà chuyên môn và những người thực
hành, từ “những quyền lực mới”, những tiếng nói của các cộng đồng địa phương
[161].
Trong bài viết “Heritagization of the Marais district in Paris: Actors and
Challenges” [Quá trình di sản hóa quận Marais, Paris, cơ hội và thách thức], tác giả
Isidora Stanković đã làm rõ luận điểm: với sự tham gia của các hiệp hội, tổ chức và
cộng đồng khác nhau, khu phố Marais - từ một khu vực bị xuống cấp mạnh mẽ và
đối mặt với nguy cơ bị dỡ bỏ khỏi kiến trúc đô thị đã có một quá trình biến đổi để
trở thành một khu phố du lịch sang trọng và quý phái, một trong những khu vực
sống động nhất và có tính quốc tế tại Thủ đô nước Pháp. Theo Isidora Stanković,
“có sự tham gia của nhiều hiệp hội, tổ chức và cộng đồng trong việc bảo tồn các yếu
tố nhất định của di sản Marais. Tất cả họ đều đang phát triển các định nghĩa khác
nhau về di sản và họ liên tục diễn giải lại quá khứ” [153, tr. 80].
Susan LT Ashley đã đề cập đến quá trình di sản hóa trong bài viết Re-telling,
Re-cognition, Re-stitution: Sikh Heritagization in Canada [Kể lại, nhận thức lại, tái
lập: Di sản hóa văn hóa Sikh ở Canada] thông qua việc Bảo tàng Di sản Sikh được
Chính phủ Canada công nhận là thắng cảnh lịch sử quốc gia. Đây là quá trình vừa là
hoạt động từ dưới lên của các thành viên cộng đồng địa phương và sáng kiến từ trên
gắn kết xã hội, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa và phát triển trong bối cảnh nông thôn
Trung Quốc đương đại [173]. Ashworth, G.J cũng lập luận tương tự trong nghiên cứu
Heritage and Economic Development: Selling the Unsellable [Di sản và phát triển kinh
tế: Bán những thứ không thể bán được], theo tác giả thì cuộc chạy đua di sản không chỉ
14
mang tính văn hóa hay chính trị mà còn xảy ra vì lợi ích kinh tế bởi di sản ngày nay là
tài sản kinh tế quan trọng cho cả chính phủ và cá nhân [137].
Bài viết Chính trị văn hóa của lễ hội làng ở Hà Nội của tác giả Choi Horim
cho rằng chiến dịch công nhận di tích lịch sử và văn hóa ở Việt Nam xuất phát từ
nhu cầu của cả nhà nước và cộng đồng. Cụ thể, nhà nước thông qua việc thực hiện
các chính sách văn hóa có chọn lọc để nâng cao tư tưởng của nhà nước, tạo ra “nền
văn hóa xã hội chủ nghĩa”, đồng thời “bảo tồn bản sắc truyền thống để nhớ nguồn
gốc và không bị mất gốc”. Từ việc công nhận các di tích và thực hành văn hóa ở các
địa phương là DSVH, nhà nước có thể quản lý, kiểm soát các hoạt động tư nhân và
“mọi xã hội địa phương”, giảm thiểu sự bất ổn về chính trị trong thời kỳ quá độ.
Mặt khác, qua một ví dụ về một ngôi đình cụ thể ở Hà Nội mong muốn được công
nhận là di tích lịch sử quốc gia, tác giả cũng cho thấy được các động thái chính trị xã hội phức tạp trong chính cộng đồng có di sản. Theo nghiên cứu này, “dù rằng tất
cả mọi người trong làng, từ trên xuống dưới, đều mong muốn một kết quả giống
nhau, nhưng việc công nhận ngôi đình là di tích lịch sử lại không có ý nghĩa giống
nhau với mọi người”, “việc xác nhận này là quan trọng và cần thiết nhưng không
phải tất cả đều cho rằng việc này sẽ bảo đảm mang lại lợi ích như nhau cho họ” [33,
tr. 118]. Trong nỗ lực để được công nhận danh hiệu, cộng đồng chia làm hai nhóm những người có tham gia và những người không tham gia. Đối với người địa
phương gốc là thành viên Hội Người cao tuổi, thông qua việc tham gia, gặp gỡ quan
chức của Đảng, Nhà nước ở địa phương để tiến hành các thủ tục làm hồ sơ, họ
muốn khẳng định vai trò quan trọng đối với “việc của làng mình”, qua đó đảm bảo
giá trị và tính xác thực về vai trò “gốc rễ” của mình. Đồng thời gạt những người ngụ
cư bằng cách nhấn mạnh thực tế là người ngụ cư không quan tâm/không tham gia
góp tích cực trong việc bảo vệ, phát huy DSVH, được đề cập trong các nghiên cứu
của Nguyễn Xuân Các [24], Nguyễn Kim Dung [40], Nguyễn Thị Hiền [47],
Nguyễn Quốc Hùng [51], [52], Từ Thị Loan [70]… Theo nhà nghiên cứu Từ Thị
Loan trong bài viết Bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH phi vật thể đại diện của
nhân loại tại Việt Nam, di sản sau khi được vinh danh, xếp hạng sẽ có “căn cứ pháp
lý quan trọng để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản”, “Chính phủ và các cấp
chính quyền sở tại sẽ phải có trách nhiệm quan tâm, đầu tư cho việc bảo vệ di sản”
[70, tr. 366-367]. Theo tác giả, cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ, các địa phương có
16
di sản sau khi vinh danh đã tiến hành nhiều hoạt động bảo vệ, phát huy và đạt được
những kết quả khả quan trên các phương diện: nhận diện và tư liệu hóa di sản; công
tác nghiên cứu; hoạt động truyền dạy, chuyển giao di sản; công tác giáo dục, tuyên
truyền nâng cao nhận thức; công tác phát huy, phục hồi các khía cạnh khác nhau
của các loại hình di sản.
Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có chung quan điểm này. Nguyễn Kim
Dung trong bài viết Về xây dựng hồ sơ DSVH phi vật thể trình UNESCO, cho rằng
di sản được xếp hạng sẽ góp phần quan trọng trong việc “nâng cao nhận thức về di
sản và thu hút sự quan tâm bảo vệ không chỉ ở tầm quốc gia mà cả ở tầm quốc tế”
[40, tr. 66]. Tương tự như vậy, theo tác giả Nguyễn Quốc Hùng trong nghiên cứu
Bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH - thiên nhiên thế giới phục vụ phát triển ở nước
ta thì sau khi được vinh danh, các di sản đã nhận được nhiều hơn sự quan tâm của
các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương, ở trong nước và quốc tế [51]. Luận
điểm này tiếp tục được tác giả lập luận trong bài viết Bảo tồn các làng cổ ở Đường
Lâm (Hà Tây), thực trạng và giải pháp, cho rằng “việc xếp hạng di tích không chỉ là
sự vinh danh của di sản mà còn là cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản” [52, tr. 70]. Cũng đồng quan điểm này, khi tìm hiểu về tác động của việc
vinh danh di sản trong bài viết Bảo tồn di sản ở đền Phù Đổng và đền Sóc sau khi
cấp khác nhau, đặc biệt là di sản thế giới có thể kéo theo sự chú ý của nhiều khách
du lịch đến hơn so với khả năng thu hút trước đây của chúng. Những di sản này là
những tài nguyên vô cùng quý giá trong công cuộc phát triển du lịch của một quốc
gia. Jo Caust cho rằng “những người điều hành du lịch cũng sử dụng sự công nhận
di sản vật thể và phi vật thể như một đặc điểm quan trọng để hút khách du lịch”
[64, tr. 110]. Các tác giả Huibin X, Marzuki A. và Razak A. Ab trong nghiên cứu
Conceptualizing a sustainable development model for cultural heritage tourism in
Asia [Khái niệm mô hình phát triển bền vững cho du lịch DSVH ở châu Á] cũng
có cùng quan điểm, cho rằng nếu không có các DSVH thế giới, du lịch sẽ không
tồn tại, sẽ không có nhu cầu cho các dịch vụ du lịch khác [152]. Theo nhà nghiên
cứu Từ Thị Loan, sự vinh danh còn có ý nghĩa về mặt tinh thần, củng cố niềm tự
hào về di sản đồng thời góp phần “quảng bá, tôn vinh văn hóa địa phương với du
khách trong và ngoài nước, kích thích sự quan tâm đối với di sản, là nguồn lợi để
thúc đẩy du lịch, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất cho người dân”
18
và nguồn lợi kinh tế từ việc khai thác du lịch di sản sẽ “trở thành chất xúc tác giúp
cho người dân sưu tầm, lưu giữ và tái tạo các giá trị văn hóa truyền thống” [70, tr.
366-367]. Quan điểm này cũng tác giả Nguyễn Quốc Hùng khẳng định trong bài
viết Bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH - thiên nhiên thế giới phục vụ phát triển ở
nước ta, sau khi được vinh danh là DSVH - thiên nhiên thế giới, các di sản ở Việt
Nam đã đóng góp ngày càng tích cực cho sự phát triển kinh tế trên nhiều mặt,
thông qua các hoạt động tham quan, du lịch [51].
Nghiên cứu Masterpieces of Oral and Intangible Culture: Reflections on the
UNESCO World Heritage List with CA Comment [Những kiệt tác văn hóa truyền
khẩu và phi vật thể: Suy ngẫm về danh sách DSVH phi vật thể], Nas, Peter J.M cho
rằng việc xác định các yếu tố để công nhận thành DSVH để phục vụ các mục đích
khác nhau, mà ở đây là giúp bảo tồn và thúc đẩy sự chuyển giao bản sắc và giá trị