Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ hiện nay cùng với sự
tham gia thị trường của rất nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau,
đặc biệt với sự ra đời của thị trường chứng khoán thì nhu cầu kiểm toán đang
tăng rất nhanh. Nhu cầu kiểm toán chủ yếu của các công ty là kiểm toán báo
cáo tài chính. Và trên bảng cân đối kế toán của bất kỳ doanh nghiệp nào đặc
biệt là các doanh nghiệp sản xuất thì TSCĐ luôn chiếm tỷ trọng lớn và nếu có
sai phạm xảy ra đối với khoản mục này thì thường ảnh hưởng trọng yếu tới
báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Chính vì vậy,trong kiểm toán báo cáo tài
chính thì kiểm toán khoản mục TSCĐ luôn đóng một vai trò quan trọng và
không thể thiếu. Nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm toán khoản
mục TSCĐ trong kiểm toán báo cáo tài chính, nên em đã quyết định viết báo
cáo chuyên đề thực tập của mình với đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm toán
TSCĐ trong kiểm toán BCTC do Công ty Hợp danh Kiểm toán Quốc gia Việt
Nam thực hiện”. Sau thời gian nghiên cứu và học tập tại trường và kỳ thực
tập tại công ty Hợp danh Kiểm toán Quốc gia Việt Nam, với những nỗ lực
của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn - Thạc sỹ Phan
Trung Kiên và các anh chị trong công ty em đã hoàn thành báo cáo thực tập
tốt nghiệp. Nội dung của báo cáo gồm có 3 phần chính sau:
Phần I: Lý luận chung về kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC
Phần II: Thực trạng kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán
BCTC do công ty Hợp danh Kiểm toán Quốc gia Việt Nam thực hiện.
Phần III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán khoản mục
TSCĐ trong kiểm toán BCTC.
Do kiến thức cũng như thời gian có hạn, nên chuyên đề của em không thể
tránh khỏi những thiếu sót, vậy em rất mong muốn nhận được những ý kiến
đóng góp của thầy giáo cùng các anh chị trong công ty để chuyên đề của em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 29 tháng 4 năm 2005
gia vo nhiu chu k kinh doanh nhng vn gi nguyờn hỡnh thỏi vt cht ban
u nh nh ca, vt kin trỳc, mỏy múc, thit b...
2. Ti sn c nh vụ hỡnh: l nhng ti sn khụng cú hỡnh thỏi vt cht,
Kim toỏn khon mc TSC trong kim toỏn BCTC do VNFC thc hin 2
Chuyờn thc tp tt nghip
th hin mt lng giỏ tr ó c u t tho món cỏc tiờu chun ca ti sn
c nh vụ hỡnh, tham gia vo nhiu chu k kinh doanh, nh mt s chi phớ
liờn quan trc tip ti t s dng; chi phớ v quyn phỏt hnh, bng phỏt
minh, bng sỏng ch, bn quyn tỏc gi...
3. Ti sn c nh thuờ ti chớnh: l nhng ti sn c nh m doanh
nghip thuờ ca cụng ty cho thuờ ti chớnh. Khi kt thỳc thi hn thuờ, bờn
thuờ c quyn la chn mua li ti sn thuờ hoc tip tc thuờ theo cỏc iu
kin ó tha thun trong hp ng thuờ ti chớnh. Tng s tin thuờ mt loi
ti sn quy nh ti hp ng thuờ ti chớnh, ớt nht phi tng ng vi giỏ
tr ca ti sn ú ti thi im ký hp ng.
4. Nguyờn giỏ ti sn c nh:
- Nguyờn giỏ ti sn c nh hu hỡnh: l ton b cỏc chi phớ m doanh
nghip phi b ra cú ti sn c nh tớnh n thi im a ti sn ú vo
trng thỏi sn sng s dng.
- Nguyờn giỏ ti sn c nh vụ hỡnh: l ton b cỏc chi phớ m doanh
nghip phi b ra cú ti sn c nh vụ hỡnh tớnh n thi im a ti sn
ú vo s dng theo d tớnh.
5. Khu hao ti sn c nh: l vic tớnh toỏn v phõn b mt cỏch cú h
thng nguyờn giỏ ca ti sn c nh vo chi phớ sn xut, kinh doanh trong
thi gian s dng ca ti sn c nh.
6. S khu hao ly k ca ti sn c nh: l tng cng s khu hao ó
trớch vo chi phớ sn xut, kinh doanh qua cỏc k kinh doanh ca ti sn c
nh tớnh n thi im bỏo cỏo.
7. Giỏ tr cũn li trờn s k toỏn ca ti sn c nh: l hiu s gia
qun lý TSC cn m bo cung cp v cụng sut, ỏp ng nhu cu sn
xut kinh doanh, trỏnh lm giỏn on quỏ trỡnh sn xut hay khụng s dng
ht cụng sut ca mỏy múc, dn n sn xut khụng hiu qu.
Qun lý v cht lng: yờu cu cụng tỏc bo qun TSC phi c m
bo cỏc ti sn ca cụng ty c bo v trỏnh mt mỏt, hng húc cỏc b phn
Kim toỏn khon mc TSC trong kim toỏn BCTC do VNFC thc hin 4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cấu thành TSCĐ.
Như vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý về mặt hiện vật của các TSCĐ thì
mỗi đơn vị cần xây dựng những nội quy, quy định về quản lý, bảo quản
TSCĐ phù hợp với đơn vị mình, đồng thời cũng cần xây dựng các định mức
kinh tế kỹ thuật cho các tài sản. Trên cơ sở đó, đơn vị sẽ phân bổ, giao kế
hoạch cho các bộ phận quản lý TSCĐ. Tuỳ vào quy mô của đơn vị mình, các
đơn vị có thể chọn mô hình quản lý TSCĐ phân tán, tập trung hay kết hợp
giữa phân tán và tập trung.
Và đối với những doanh nghiệp tổ chức quản lý về mặt hiện vật hợp lý,
khoa học, phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị mình sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để hợp lý hoá hoạt động, cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sử
dụng TSCĐ.
• Quản lý về mặt giá trị:
Do TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn và nó có ảnh hưởng rất lớn tới
các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần xác định
đúng nguyên giá và giá trị còn lại của TSCĐ mua sắm, đặc biệt là TSCĐ được
hình thành từ xây dựng cơ bản. Hơn nữa, đơn vị cũng cần tính toán và phân
bổ khấu hao chính xác cho các bộ phận sử dụng. Đồng thời, đơn vị cũng cần
theo dõi chặt chẽ tình hình tăng, giảm TSCĐ phát sinh từ nâng cấp, hay tháo
dỡ các bộ phận cấu thành TSCĐ và quá trình đánh giá lại TSCĐ. Trên cơ sở
quản lý về mặt giá trị, đơn vị có kế hoạch tăng, giảm nhóm TSCĐ cho phù
hợp với hoạt động của đơn vị, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm sự lãng
- Biên bản xét thấu
- Quyết định giao tài sản cho doanh nghiệp
- Biên bản kiểm nghiệm TSCĐ
- Biên bản bàn giao TSCĐ
- Biên bản đánh giá lại TSCĐ…
• Đối với các nghiệp vụ giảm TSCĐ, chứng từ gồm:
- Quyết định thanh lý
- Biên bản thanh lý
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Hoá đơn VAT
- Biên bản giao nhận TSCĐ
- Biên bản đánh giá lại TSCĐ
- Hợp đồng góp vốn liên doanh…
Sơ đồ 1.1: Quy trình tổ chức chứng từ TSCĐ
3.2. Hạch toán kế toán TSCĐ
• Hạch toán các nghiệp vụ tăng TSCĐ
TSCĐ của một doanh nghiệp có thể được tăng lên từ nhiều nguồn khác
nhau như: từ mua sắm, từ xây dựng cơ bản, được biếu, tặng, điều chuyển…
Sau đây chúng ta có thể khái quát sơ đồ hạch toán tổng hợp tăng TSCĐ.
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 7
Xây dựng, mua sắm,
hoặc thanh lý, nhượng
bán, điều chuyển
Hội đồng giao nhận,
thanh lý TSCĐ Kế toán TSCĐ
Quyết định tăng, giảm
TSCĐ
TSCĐ của doanh nghiệp có thể giảm từ nhiều nguyên nhân khác nhau
như: giảm giá trị còn lại của TSCĐ do khấu hao TSCĐ, do nhượng bán, thanh
lý, do đem TSCĐ đi góp vốn liên doanh…
Sơ đồ 1.3: Hạch toán tổng hợp giảm TSCĐ
TK 211, 212, 213 TK 811
GTCL của TSCĐ nhượng bán, thanh lý
Trao đổi không tương tự
TK 214 TK 627,541,642
Giá trị hao mòn giảm khấu hao TSCĐ
TK 222
Góp vốn liên doanh bằng TSCĐ
TK 412 TK 411
Chênh lệch chênh lệch
Trả vốn góp LD hoặc điều chuyển cho đơn vị khác
TK 211, 213
Trao đổi TSCĐ tương tự
TK 138
TSCĐ thiếu
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
4. Vai trò và mục tiêu kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán
báo cáo tài chính.
4.1. Vai trò.
Như đã phân tích ở trên, cho dù là doanh nghiệp sản xuất hay doanh
nghiệp thương mại thì khoản mục TSCĐ luôn đóng một vai trò quan trọng và
có giá trị lớn. Đồng thời, những sai phạm liên quan tới khoản mục TSCĐ đều
Mục tiêu quyền và nghĩa vụ: Tất cả các TSCĐ được ghi chép trong sổ
sách của đơn vị đều thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền kiểm soát, sử dụng
lâu dài của đơn vị.
Sự phê chuẩn: việc mua sắm, điều chuyển, thanh lý, thuê TSCĐ đều được
sự phê chuẩn của những cá nhân có thẩm quyền.
Mục tiêu chính xác máy móc: các TSCĐ phản ánh trên sổ chi tiết đã
được ghi chép đúng, tổng cộng đúng và phù hợp với tài khoản tổng hợp trên
sổ cái.
Mục tiêu phân loại và trình bày: các trường hợp tăng, giảm TSCĐ được
ghi chép theo đúng sự phân loại, tiêu chuẩn phân loại TSCĐ.
Tính kịp thời: mọi nghiệp vụ tăng, giảm, khấu hao TSCĐ đều được ghi
sổ đúng kỳ.
5. Các gian lận và sai sót thường gặp khi kiểm toán khoản mục TSCĐ.
5.1. Các gian lận.
Trong quá trình kiểm toán nói chung và quá trình kiểm toán khoản mục
TSCĐ nói riêng, thì việc phát hiện ra các gian lận luôn là một việc quan trọng,
có ảnh hưởng trọng yếu tới tính trung thực và hợp lý của thông tin được phản
ánh trên BCTC. Đối với khoản mục TSCĐ thì những gian lận thường gặp
gồm có:
Làm giả , sửa chữa chứng từ, tài liệu với mục đích làm cho nguyên giá
của TSCĐ cao hơn thực tế. Ghi vào nguyên giá TSCĐ các chi phí phát sinh
khi TSCĐ đã đưa vào sử dụng như chi phí lãi vay không được vốn hoá, chi
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phí sửa chữa lớn không mang tính nâng cấp TSCĐ. Ngoài ra, cũng rất hay
xảy ra trường hợp làm giả, sửa chữa chứng từ liên quan tới việc vận chuyển
TSCĐ cũng với mục đích tăng nguyên giá TSCĐ để biển thủ công quỹ. Đồng
thời, trong quá trình sửa chữa TSCĐ, kế toán thường phản ánh chi phí cao
hơn thực tế nhằm tăng chi phí trong kỳ và hưởng phần chênh lệch giữa chi phí
phần hữu hình vừa có phần vô hình.
Sai sót do ghi trùng lắp nghiệp vụ xảy ra do tổ chức ghi sổ chưa được
chặt chẽ.
Sai sót do kế toán định khoản sai các nghiệp vụ. Đối với khoản mục
TSCĐ, kiểm toán viên cần đặc biệt chú ý những sai sót xảy ra do kế toán đã
không phân biệt được giữa chi phí sửa chữa và chi phí nâng cấp TSCĐ, do đó
đã ghi tăng nguyên giá TSCĐ những chi phí sửa chữa và ngược lại.
Một dạng sai sót phổ biến của kế toán mà kiểm toán TSCĐ phải quan
tâm đó là sai sót trong quá trình ghi sổ và chuyển sổ. Việc kế toán ghi lộn số,
sai lệch giữa số tiền ghi trên hoá đơn với số tiền ghi trên sổ sách và giữa sổ
chi tiết và sổ tổng hợp.
Và trong khi các quy chế, chuẩn mực kế toán thường xuyên có sự thay
đổi, thì đối với những doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, do sự
yếu kém của đội ngũ kế toán nên đã áp dụng sai, hay không cập nhật những
quy định mới liên quan tới TSCĐ.
Mức độ gian lận và sai sót của một doanh nghiệp liên quan tới các khoản
mục trên BCTC nói chung và khoản mục TSCĐ nói riêng phụ thuộc vào ba
nhóm nhân tố chủ yếu đó là các yếu tố về quản lý, các yếu tố về kinh doanh
và các yếu tố thuộc nghiệp vụ tài chính. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán
viên cần nhận biết được những sai phạm hay xảy ra đối với khoản mục TSCĐ
để từ đó có thể đánh giá được rủi ro tiềm tàng, từ đó có những thủ tục kiểm
toán phù hợp, nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán.
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
II. QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TSCĐ TRONG KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.
Trong quá trình kiểm toán BCTC, có hai cách tiếp cận phổ biến đó là
kiểm toán theo chu trình và kiểm toán theo khoản mục. Trong bài viết này,
người viết tiếp cận vấn đề TSCĐ theo khoản mục.
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 15
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
và thực hiện các thủ tục phân tích
Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá RRKT
Lập KHKT toàn diện, soạn thảo chương trình kiểm toán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và các bên liên quan để đánh
giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán.
Mục đích của việc thu thập thông tin cơ sở về khách hàng đó kiểm toán
viên có thể nhận biết và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ có ảnh hưởng trọng
yếu tới báo cáo tài chính. Trong bước này, kiểm toán viên thu thập những
hiểu biết chung về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị và sự hiểu biết
hơn về tổ chức, hoạt động của khách hàng và những khía cạnh đặc thù của
đơn vị như cơ cấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản xuất, cơ cấu vốn…
Đối với khoản mục TSCĐ, thông qua quá trình thu thập thông tin cơ sở,
kiểm toán viên nắm bắt được tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng,
từ đó có thể có cái nhìn tổng quát về cơ cấu cũng như chủng loại TSCĐ được
sử dụng trong đơn vị khách hàng. Qua tham quan nhà xưởng, kiểm toán viên
nhận biết được tình trạng của TSCĐ có được sử dụng đúng công suất, có
được sử dụng đúng mục đích, có được bảo quản tốt không. Điều này tạo điều
kiện cho việc thuyết minh số liệu kế toán, phát hiện ra những vấn đề cần quan
tâm như máy móc lạc hậu…Thông qua việc phân tích, đánh giá chiến lược
phát triển của doanh nghiệp, kiểm toán viên có thể thấy được kế hoạch đầu tư,
mua ban, xây dựng TSCĐ, từ đó có những định hướng cụ thể cho cuộc kiểm
toán. Đồng thời, qua nghiên cứu về tình trạng TSCĐ của đơn vị, kiểm toán
viên có thể đưa ra dự kiến về sử dụng ý kiến của các chuyên gia bên ngoài đối
Trong thủ tục phân tích, người ta sử dụng hai loại phổ biến đó là phân
tích dọc và phân tích ngang.
Phân tích ngang: kiểm toán viên tiến hành so sánh số liệu liên quan tới
khoản mục TSCĐ giữa kỳ này với kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau, giữa
các doanh nghiệp có lĩnh vực hoạt động tương tự nhau, và có quy mô tương
đương nhau.
Ví dụ:
So sánh giá trị của các TSCĐ mua năm nay với năm trước.
So sánh giá trị của các TSCĐ giảm trong năm với năm trước
So sánh chi phí sửa chữa lớn, bảo trì của từng tháng với cùng kỳ năm
trước…
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phân tích dọc: là việc kiểm toán viên phân tích dựa trên cơ sở so sánh các
tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục liên quan tới TSCĐ. Các tỷ
suất tài chính thường được sử dụng trong thủ tục phân tích khoản mục TSCĐ
gồm:
Tỷ trọng của từng loại TSCĐ so với tổng số.
Tỷ số hoàn vốn của TSCĐ.
Tỷ suất giữa tổng giá trị TSCĐ với vốn chủ sở hữu: tỷ suất này liên quan
đến mức độ đầu tư vào TSCĐ so với vốn chủ sở hữu.
Tỷ suất giữa doanh thu với tổng giá trị TSCĐ: tỷ suất này phản ánh khả
năng tạo ra doanh thu của TSCĐ hiện có tại đơn vị, qua đó cho biết hiệu quả
sử dụng TSCĐ.
Nếu các tỷ suất tính toán và kết quả so sánh nằm trong mức hợp lý,
chúng sẽ cung cấp bằng chứng để thoả mãn các mục tiêu kiểm toán. Ngược
lại, nếu các biến động hoặc quan hệ bất thường sẽ chỉ dẫn cho kiểm toán viên
xác định được các điểm cần chú ý và xây dựng thủ tục kiểm toán phù hợp.
• Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro.
là trọng yếu. Quy mô của một sai phạm có thể là trọng yếu đối với công ty
này nhưng lại không trọng yếu đối với công ty khác, điều này phụ thuộc vào
quy mô của từng công ty, cũng như bản chất của những sai phạm. Vì vậy, khi
tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên cần xác định quy mô sai phạm là bao
nhiêu thì được coi là trọng yếu, điều này là rất quan trọng đối với toàn bộ
cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên, thường lấy thu nhập trước thuế, tài sản lưu
động, hay nợ ngắn hạn để là cơ sở đánh giá tính trọng yếu. Và chỉ tiêu thu
nhập trước thuế thường là chỉ tiêu hàng đầu được lựa chọn để đánh giá bởi vì
nó được xem như một khoản mục thông tin then chốt đối với người sử dụng.
Yếu tố định tính của trọng yếu: hay còn được gọi là bản chất của sai
phạm, điều này các kiểm toán viên thường rất chú ý khi đánh giá về tính trọng
yếu. Các gian lận luôn được xem là trọng yếu bất kể với quy mô là bao nhiêu
bởi vì nó có liên quan tới tính liêm chính của Ban giám đốc, của những nhân
viên trong công ty, và thường có ảnh hưởng trọng yếu tới báo cáo tài chính.
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các sai sót cũng được coi là trọng yếu nếu nó được lặp đi lặp lại, gây nên
những ảnh hưởng có tính chất hệ thống đối với các thông tin trên BCTC.
Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên thu
thập số lượng bằng chứng thích hợp, vừa đảm bảo các thông tin trên BCTC
được phản ánh trung thực và hợp lý trên mọi khía cạnh trọng yếu, vừa làm
cho chi phí kiểm toán hợp lý, nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán. Chính vì
vậy, các kiểm toán viên và công ty kiểm toán thường rất coi trọng việc đánh
giá tính trọng yếu. Các công ty kiểm toán thường có những đường lối chỉ đạo
để hỗ trợ cho các kiểm toán viên trong việc ước lượng tính trọng yếu thông
qua việc hướng dẫn việc lựa chọn những chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá và tỷ lệ
tính mức trọng yếu đối với từng chỉ tiêu.
Sau khi thực hiện việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, kiểm toán
viên tiến hành phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục trên BCTC. Do hầu
- Mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin tưởng vào BCTC.
- Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo
kiểm toán được công bố.
Từ việc xác định 3 rủi ro trên, kiểm toán sẽ tính ra được rủi ro phát hiện
qua công thức sau:
DR=AR\IR*CR
• Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh
giá rủi ro kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 về Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ thì kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và
kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và chương trình
kiểm toán thích hợp.
Đối với khoản mục TSCĐ, thì việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ
được thực hiện thông qua việc đánh giá, tìm hiểu:
Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục TSCĐ của đơn vị có thực
sự tồn tại không?
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu hệ thống kiểm soát này có tồn tại, thì nó có được vận hành một cách
liên tục, hiệu quả không?
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế có phù hợp để có thể quản lý
TSCĐ một cách có hiệu quả không? Trọng tâm của những thủ tục kiểm soát
gồm có: doanh nghiệp có các chính sách, quy định cụ thể về việc quản lý, sử
dụng, sửa chữa, nâng cấp, thanh lý TSCĐ không? Doanh nghiệp có thiết lập
kế hoạch và dự toán ngân sách cho việc mua sắm hay không? Doanh nghiệp
có thường xuyên đối chiếu số liệu giữa sổ chi tiết và sổ cái không? Khi
nhượng bán, thanh lý có thành lập hội đồng thanh lý gồm những người đúng
thẩm quyền không?...
Kiểm toán viên thường đạt được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội
có
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 23
TN
công
việc
Dựa vào ICS không?
Độ tin cậy của ICS
Cao Vừa Thấp
Trắc nghiệm Trắc nghiệm
đạt yêu cầu độ vững chãi
TN vững chãi
Bằng
chứng
KT
Khả năng sai phạm
TN
PT
và
trực
tiếp
số
dư
Thấp Vừa Cao
Thủ tục phân tích
Xác minh khoản then chốt
Xác minh chi tiết bổ sung
Bằng
chứng
- Các chứng từ thanh lý, nhượng bán
TSCĐ được huỷ bỏ, tránh sử dụng lại.
- KTV quan sát TSCĐ ở đơn
vị và xem xét sự tách biệt
giữa các bộ phận này.
- KTV kiểm tra chứng từ, sự
luân chuyển chứng từ và dấu
hiệu của KSNB.
- Kiểm tra dấu hiệu của sự
huỷ bỏ.
2. Tính chọn
vẹn.
Mỗi TSCĐ được theo dõi bằng một hồ sơ
riêng, được theo dõi từ khi phát sinh cho
tới khi thanh lý, nhượng bán. Việc ghi
nhận, tính nguyên giá TSCĐ phải dựa trên
cơ sở chứng từ hợp lệ.
Kiểm tra tính đầy đủ của
chứng từ hợp lệ liên quan tới
TSCĐ.
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sự phê chuẩn Các nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ đều được
phê chuẩn bởi những người có thẩm quyền
- Phỏng vấn những cá nhân
có liên quan.
- Kiểm tra dấu hiệu của sự
phê chuẩn.
Quyền và
đúng chế độ.
- Các quy định về trình tự ghi sổ các
nghiệp vụ liên quan tới TSCĐ từ sổ chi tiết
đến sổ tổng hợp.
- Phỏng vấn những người có
thẩm quyền để tìm hiểu
những quy định
- Kiểm tra hệ thống TK và sự
phân loại sổ KT
- Xem xét trình tự ghi chép
và dấu hiệu KSNB.
2.2. Thủ tục phân tích.
Bước tiếp theo của quá trình kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành thực
hiện thủ tục phân tích. Thủ tục phân tích này đóng vai trò rất quan trọng, vì nó
sẽ giúp cho kiểm toán viên nhận biết được những biến động bất thường của
các khoản mục liên quan tới TSCĐ để từ đó có định hướng, tập trung vào
những bất thường đó.
Để thực hiện thủ tục phân tích, kiểm toán viên thường tính toán, phân
tích, đối chiếu các tỷ suất, chỉ tiêu sau giữa năm nay với năm trước, giữa số
Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do VNFC thực hiện 25