Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa có sự quản lý của nhà nớc. Thì bảo hiểm xã hội ngày một phát triển và tr-
ởng thành nhanh chóng. Bảo hiểm xã hội là một trong những bộ phận cấu thành
và đóng vai trò quan trọng trong các chính sách xã hội. Quan điểm này thể hiện
tính thống nhất cao cả của các nớc về tính xã hội của bảo hiểm xã hội. Nó là
một bộ phận không thể thiếu và có tính ổn định trong hệ thống chính sách bảo
đảm xã hội. Mục tiêu của bảo hiểm xã hội là nhằm thoả mãn những nhu cầu
thiết yếu của ngời lao động trong trờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập mất việc
làm.
Nhng trong thực tế, tại đất nớc ta số lợng lao động tham gia vào bảo hiểm
xã hội còn rất hạn chế. Sự hạn chế này do những nguyên nhân nào? và làm sao
để nghành bảo hiểm xã hội mở rộng đợc đối tợng tham gia vào bảo hiểm xã
hội . Do vậy việc nghiên cứu đề tài vấn đề mở rộng đối tợng tham gia của bảo
hiểm xã hội Việt Nam.Sẽ giúp chúng ta phần nào biết đợc nguyên nhân từ đó
đa ra một số nhận xét về khó khăn và thuận lợi của việc mở rộng và những kiến
nghị giúp cơ quan bảo hiểm xã hội mở rộng đợc đối tợng tham gia. Từ đó giúp
nghành bảo hiểm xã hội phát triển ngày càng vững mạnh. Đáp ứng đợc yêu cầu
xã hội đặt ra.
Do có sự hạn chế về khả năng và thời gian nên bài viết chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót và còn nặng về lý luận, em rất mong đợc sự đóng
góp chỉ bảo của các thầy, cô để bài viết đợc hoàn thiện hơn. Để hoàn thành đề
án này đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hớng dẫn Thạc sỹ Phạm Thị
Định, em xin chân thành cảm ơn!
1
Chơng I
Bảo hiểm xã hội và sự cần thiết mở rộng
đối tợng tham gia.
I.Thực trạng bảo hiểm x hội trong thời gian vừa qua.ã
1.sự phát triển của bảo hiểm xã hội nớc ta trong những năm vừa qua.
Sau cách mạng tháng 8 thành công, trên cơ sở hiến pháp năm 1946 của n-
mọi ngời lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có
nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, thống nhất tách quỹ bảo hiểm xã hội ra khỏi
ngân sách. Tiếp đến văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VIII cũng đã nêu lên mở
rộng đối tợng bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động thuộc các thành phần kinh
tế. Nh vậy, các văn kiện trên của đảng và nhà nớc là những cơ sở pháp lý quan
trọng cho việc đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội nớc ta theo cơ chế thị trờng.
Ngay sau khi bộ luật lao động có hiệu lực ngày 26/1/1995. chính phủ đã ban
hành nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về điều lệ bảo hiểm xã hội đối với ngời
lao động trong các thành phần kinh tế. Nội dung của bản điều lệ góp phần thực
hiện mục tiêu của đảng và nhà nớc đề ra, góp phần công bằng và sự tiến bộ xã
hội, góp phần lành mạnh hoá thị trờng lao động và đồng thời đáp ứng đợc sự
mong mỏi của đông đảo ngời lao động trong các thành phần kinh tế của cả nớc.
2.Bản chất của bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động.
2.1 Khái quát về các chính sách bảo đảm xã hội.
ở nớc ta ngoài bảo hiểm xã hội chính sách bảo đảm xã hội còn có cứu trợ
xã hội và u đãi xã hội.
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của nhà nớc và xã hội về thu nhập và các
điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội, trong những trờng
hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói không đủ khả năng để tự lo cuộc sống tối
thiểu của bản thân và gia đình. Sự giúp đỡ này đợc thực hiện bằng các quỹ dự
phòng của nhà nớc, bằng tiền hoặc hiện vật của các tổ chức xã hội và những ng-
ời hảo tâm.
u đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của nhà nớc,
của xã hội nhằm đền đáp công lao đối với những ngời hay một số bộ phận xã
hội có nhiều cống hiến cho xã hội. Chẳng hạn những ngời có công với đất nớc,
liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ, thơng binh, bệnh binh v v...đều là những đối tợng đợc
hởng sự đãi ngộ của nhà nớc, của xã hội. u đãi xã hội tuyệt nhiên không phải là
sự bố trí ban ơn mà nó là chính sách có mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội, góp
phần củng cố thể chế chính trị của nhà nớc trớc mắt và lâu dài đảm bảo sự công
bằng của xã hội.
tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên
kết đấu tranh buộc giới chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra
ngày càng rộng lớn và có tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế xã hội .Do
vậy nhà nớc phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một
mặt tăng cờng đợc vai trò của Nhà Nớc mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ
đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ dựa trên
cơ sở xác suất xảy ra đối với ngời làm thuê.
4
Với cách hiểu nh trên, bản chất của bảo hiểm xã hội đợc thể hiện ở một số nội
dung chủ yếu sau đây:
- Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất
là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trờng, mối quan
hệ thuê mớn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển
thì bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền
tảng của bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm xã hội không vợt qúa tình trạng kinh tế
của mỗi nớc.
- Mối quan hệ giữa các bên trong bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ
lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia bảo hiểm xã hội, bên bảo hiểm xã
hội, và bên đợc bảo hiểm xã hội. Bên tham gia bảo hiểm xã hội có thể chỉ là ng-
ời lao động hoặc cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Bên bảo hiểm xã
hội (bên nhận nhiệm vụ bảo hiểm xã hội) thông thờng là cơ quan chuyên trách
do Nhà Nớc lập ra và bảo trợ. Bên đợc bảo hiểm xã hội là ngời lao động và gia
đình họ có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong bảo
hiểm xã hội có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con
ngời nh: ốm đau, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp...hoặc cũng có thể là những
trờng hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên nh: tuổi già thai sản v.v...đồng
thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hoặc bị mất đi khi gặp phải những
biến cố, rủi ro sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ một quỹ tiền tệ tập trung đợc tồn
có thể cho ta thấy một cách rõ nét rằng tốc độ tăng đối tợng tham gia vào bảo
hiểm xã hội vẫn còn rất hạn chế. Có thể khẳng định gần hoàn toàn số đối tợng
tham gia này là thuộc loại đối tợng phải tham gia bắt buộc.Trong đó phần lớn là
ngời lao động làm việc trong các khu vực nhà nớc. Chúng ta cũng có thể rễ ràng
lý giải đợc tình trạng trên bởi vì những đối tợng này làm công ăn lơng, hởng l-
ơng từ ngân sách nhà nớc. ở đây ngời sử dụng lao dộng chính là nhà nớc (đóng
15% so với tổng quỹ lơng). Còn lại một tỷ lệ tơng đối nhỏ trong tổng số tham
gia là ngời lao động làm việc trong khu vực ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao
động trở lên, các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài... đây cũng là một thực trạng ở việt nam chúng ta. Có thể đa ra một số lý
do cơ bản chủ yếu sau:
Trình độ nhận thức của ngời lao động về bảo hiểm xã hội cha cao. Họ chỉ xuy
nghĩ trớc mắt là không muốn mất đi 5% từ tiền lơng của mình. Đây là thu nhập
có thể giúp họ chi tiêu cho cuộc sống đặc biệt đối với những gia đình có mức
sống thấp, ít có tích luỹ.
- Các doanh nghiệp là phía ngời sử dụng lao động họ phải đóng góp một phần t-
ơng đối lớn cho ngời lao động mà họ sử dụng(15% tổng quỹ lơng). Do vậy họ
tìm cách né tránh chốn đóng. Điều này dẫn đến số lợng lao động tham gia vào
bảo hiểm xã hội cha cao.
6
- Quy chế quản lý công tác thu của cơ quan bảo hiểm xã hội cha cao làm cho
các chủ sử dụng lao động có thể chốn tránh đợc.
2.Tổng số lực lợng lao động của nớc ta hiện nay.
2.1.Khái niệm lực lợng lao động.
Lực lợng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những ngời
trong độ tuổi lao động, đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngời
thất nghiệp song có nhu cầu tìm việc.
Nh vậy lực lợng lao động là bộ phận tạo ra sản phẩm cho xã hội góp phần
phát triển nền kinh tế của đất nớc.
2.2.Lực lợng lao động ở nớc ta hiện nay.
doanh nghiệp không thuộc diện bắt buộc có thể tham gia vào bảo hiểm xã hội.
Đặc biệt là tạo điều kiện cho ngời lao động làm việc trong khu vực nông thôn
có thể tham gia vào bảo hiểm xã hội. Đảm bảo quyền lợi công bằng đối với mọi
ngời lao động trong xã hội( không phân biệt ngành nghề, giàu nghèo... ).
III. Sự cần thiết mở rộng đối tợng tham gia vào bảo hiểm xã
hội việt nam.
1.Vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở việt nam.
Việt nam là một nớc đông dân (77 triệu ngời, đứng hàng thứ 12 trên thế
giới), nhng lại là một trong những nớc nghèo nhất thế giới (với thu nhập bình
quân đầu ngời cha đến 400USD/năm). Vì vậy, an sinh xã hội nói chung và bảo
hiểm xã hội nói riêng có ý nghĩa rất to lớn đối với ngời dân và ngời lao động.
Qua gần 40 năm thực hiện, chính sách bảo hiểm xã hội đã phát huy dần từng b-
ớc, từ chỗ đối tợng bảo hiểm xã hội chỉ là công nhân viên chức nhà nớc, đến
nay đã mở rộng cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Tính đến
nay đã có khoảng 4 triệu ngời tham gia bảo hiểm xã hội và gần 2 triệu ngời
đang hởng các trợ cấp bảo hiểm xã hội thờng xuyên.
Chính sách bảo hiểm xã hội đã góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống
cho ngời lao động thụ hởng bảo hiểm xã hội; góp phần ổn định chính trị xã hội
đất nớc. Tuy nhiên, so với tỷ lệ lao động cả nớc thì tỷ lệ lao động tham gia bảo
hiểm xã hội còn thấp. Những ngời lao động trong khu vực phi kết cấu, lao động
trong khu vực nông nghiệp và lao động trong các doanh nghiệp có sử dụng dới
10 lao động cha đợc tham gia vào bảo hiểm xã hội, cha đợc sự bảo vệ của hệ
thống. Điều này đã làm tăng nguy cơ gánh nặng của hệ thống an sinh xã hội.
Nghĩa là tăng nguy cơ cho các chi phí công cộng để trợ giúp cho các đối tợng
này. Theo một số dự báo, dân số nớc ta tiếp tục tăng trong 20 năm tới, mặc dù
tốc độ tăng đã giảm. có thể thấy điều này qua các số liều sau:
Đơn vị tính: 1000 (ngời)
năm Dân số Dân số từ 15 49 tuổi
2000 77.700 21.066
8
2. Tỷ lệ tham gia của số ngời lao động thấp.
Tính đến năm 2000 số ngời tham gia bảo hiểm xã hội tăng 69% so với
năm 1995. cũng trong năm 2000 số ngời hởng bảo hiểm xã hội trên số ngời nộp
bảo hiểm xã hội là 45,9%. Tuy nhiên, theo số liệu năm 2001 số ngời tham gia
bảo hiểm xã hội còn rất thấp, chỉ chiếm khoảng 10,5% tổng số lực lợng lao
9
động và chiếm 68,3% tổng số lao động phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và
đại đa số ngời tham gia bảo hiểm xã hội là lao động trong khu vực nhà nớc
(87,4%). Số ngời tham gia bảo hiểm xã hội của khu vực ngoài nhà nớc chỉ
chiếm một tỷ lệ khiêm tốn (12,6%)
Nguyên nhân chính là do đại đa số ngời lao động không hiểu ý nghĩa của
bảo hiểm xã hội mà coi đó nh là một trong những hoạt động bảo hiểm thơng
mại. Ngời sử dụng lao động thờng có xu hớng né tránh nộp bảo hiểm xã hội cho
ngời lao động hay chỉ ký kết hợp đồng ngắn hạn dới 3 tháng. Do những quy
định bắt buộc của pháp luật về bảo hiểm xã hội nên một số lớn ngời lao động và
ngời sử dụng lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội. Mặt khác, các biện pháp
kiểm tra thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội ít hiệu quả nên nhiều ngời sử dụng
lao động sẵn sàng nộp phạt để không phải đóng bảo hiểm xã hội cho ngời lao
động.
Từ năm 1962, nhà nớc đã có chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với
công nhân viên chức trong biên chế nhà nớc. Cho đến năm 1995 chính sách bảo
hiểm xã hội đợc mở rộng đến ngời lao động làm công ăn lơng trong các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh, ở những doanh nghiệp có sử dụng 10 lao động
trở lên. Song, trong tổng số khoảng 40 triệu ngời trong độ tuổi lao động của cả
nớc thì mới chỉ có 10,5% tham gia vào bảo hiểm xã hội bắt buộc và cũng chủ
yếu cho lao động ở khu vực nhà nớc. Nh vậy, còn khoảng 89,5% lực lợng lao
động cha tham gia bảo hiểm xã hội. Trong đó, 62,27% lao động ở nông thôn
(bao gồm: nông, lâm, ng nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ).
Do vậy việc thể chế hoá chính sách bảo hiểm xã hội để mọi ngời lao
động đều đợc quyền tham gia và hởng bảo hiểm xã hội là cần thiết và có ý
4. Bảo hiểm xã hội góp phần ổn định cuộc sống cho ngời lao động khi gặp
khó khăn.
Khi ngời lao động bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động
hoặc mất việc làm thì phần thu nhập này sẽ đợc thay thế hoặc bù đắp một phần.
Theo quy luật sinh học thì con ngời suy cho cùng cũng là một sinh vật sống
cũng trải qua các giai đoạn phát triển sinh học. Khi còn trẻ có đầy đủ sức khoẻ
thì có thể lao động tạo ra của cải vật chất để nuôi sống mình và gia đình. Nhng
khi về già sức khoẻ bị giảm sút không còn khả năng lao động đây là một tất yếu
không một ai có thể tránh khỏi. Nh vậy ,sự đảm bảo bù đắp thay thế này chắc
chắn sẽ xảy ra. Còn khi ngời lao động bị mất việc làm hoặc mất khả năng lao
động tạm thời (ốm đau, tai nạn....)dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập thì thông
qua bảo hiểm xã hội sẽ đợc trợ cấp một phần thu nhập để họ có thể vợt qua
những khó khăn. Việc bù đắp phần thu nhập khi ngời lao động hết tuổi lao động
thì phải theo điều kiện quy định cụ thể. Còn mức hởng trợ cấp tạm thời phải phụ
thuộc vào các điều kiện cần thiết,thời điểm và thời hạn hởng phải đúng quy
định.
11
5. Bảo hiểm xã hội góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động
sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã
hội.
Khi ngời lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già
thì lúc này ngời lao động gặp rất nhiều khó khăn đồng thời trở thành ghánh
nặng cho xã hội nhờ có bảo hiểm xã hội mà họ đợc trợ cấp, thay thế phần thu
nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn đợc đảm bảo ổn định
và có chỗ dựa. Do đó, ngời lao động luôn yên tâm gắn bó với công việc, nơi làm
việc. Khi ngời lao động còn khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, ngời lao
động đợc chủ sử dụng lao động trả lơng hoặc tiền công. Bởi vì, do có sự đảm
bảo cho cuộc sống của họ cũng nh gia đình họ từ đó họ rất tích cực hăng say
trong lao động sản xuất, không ngừng tìm tòi đa ra những sáng tạo trong lao
động sản xuất tiết kiệm đợc nguyên vật liệu. Từ đó nâng cao năng xuất lao
phí bảo hiểm. Dựa trên quy luật số lớn để hình thành nên quỹ tài chính bảo
hiểm dự trữ để bồi thờng những thiệt hại do những rủi ro gây ra. Nh vậy, để
đảm bảo quy luật số đông bù số ít thì bảo hiểm xã hội phải mở rộng đối tợng
tham gia một cách rộng rãi.
Thông qua hình thức bảo hiểm xã hội đã giúp các doanh nghiệp giảm đợc
các khó khăn về tài chính, nhân sự khi ngời lao động của mình không may gặp
rủi ro. Đặc biệt đối với những ngời lao động có vị trí quan trọng trong doanh
nghiệp. Qua đó đảm bảo cho nhà sản xuất ổn định đợc quá trình sản xuất trong
mọi điều kiện xảy ra. Nh vậy bảo hiểm xã hội đã tạo điều kiện gần nh tốt nhất
cho sản xuất về mức độ giá, cấu trúc giá. Đặc biệt nó giúp các doanh nghiệp
vừa và nhỏ giữ vững vị trí cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn. Do đó, với việc
mở rộng đối tợng tham gia ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ (ví dụ ở các doanh
nghệp có sử dụng dới 10 lao động. Sẽ phát huy đợc các tác dụng trên của bảo
hiểm xã hội.
ở nớc ta hiện nay, chế độ bảo hiểm xã hội mới chỉ do nhà nớc thực hiện.
Bảo hiểm xã hội đã có 61 chi nhánh ở 61 tỉnh thành trên đất nớc ta.Số lợng này
phản ánh đợc chủ trơng chính sách của nhà nớc ta trong việc thực hiện các
chính sách xã hội. Hệ thống bảo hiểm xã hội của đất nớc ta là rất lớn nó thu hút
một số lợng lớn lao động làm việc trong nghành này. Nếu mở rộng đối tợng
tham gia vào bảo hiểm xã hội thì nghành bảo hiểm xã hội phải mở rộng công
tác thu phí bảo hiểm, công tác quản lý và đầu t quỹ, công tác chi trả chế độ. Sẽ
cần thêm một số lợng lao động đáng kể làm việc trong nghành này nh vậy ta
thấy với việc mở rộng thì nó đã góp một phần nào đó trong việc giải quyết vấn
đề thất nghiệp hiện nay. Đặc biệt nó đã tạo ra cơ hội việc làm cho các sinh viên
chuyên nghành bảo hiểm khi ra trờng.
Để bảo tồn và phát triển quỹ đảm bảo chi trả thì các công ty bảo hiểm nói
chung và cơ quan bảo hiểm xã hội nay riêng phải đem đầu t quỹ. Hiện nay, trên
thế giới nghành bảo hiểm đóng góp từ 10% đến 15% tổng thị trờng vốn. Chiếm
13