Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế - Pdf 43

-1-

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HOÀNG DAO ANH

MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG
THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.PHẠM MINH TRÍ

TP. Hồ Chí Minh, năm 2007


-2-

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HOÀNG DAO ANH

MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG
THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

2.2 SỰ MỞ RỘNG CÁC NHÓM ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHYT QUA
CÁC GIAI ĐOẠN........................................................................................... 20


-4-

2.3 TÌNH HÌNH THAM GIA BHYT ............................................................. 24
2.3.1 Phân tích cơ cấu dân số .......................................................................... 24
2.3.2 Phân nhóm dân số theo đối tượng BHYT.............................................. 26
2.3.3 Tình hình tham gia BHYT của các nhóm đối tượng.............................. 28
2.3.3.1 Các nhóm đối tượng đã tham gia BHYT bắt buộc.............................. 28
2.3.3.2 Các nhóm đối tượng đã tham gia BHYT tự nguyện........................... 32
2.3.4 Nhận xét về đối tượng, phạm vi bao phủ của BHYT ............................ 39
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN BHYT ....................... 40
2.4.1 Những thành tựu đạt được...................................................................... 40
2.4.1.1 Mở rộng sự tham gia của nhiều đối tượng ......................................... 40
2.4.1.2 Thực hiện bước đầu chính sách huy động cộng đồng cho sự nghiệp
chăm sóc sức khỏe nhân dân........................................................................... 41
2.4.1.3 Đảm bảo sức khỏe và nâng cao chất lượng sống của người dân....... 42
2.4.1.4 Gia tăng việc khám chữa bệnh cho đối tượng là người nghèo, người
thuộc chính sách xã hội................................................................................... 43
2.4.2 Những mặt còn hạn chế.......................................................................... 43
2.4.2.1 BHYT chưa mang tính phổ biến.......................................................... 43
2.4.2.2. Mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của
người tham gia BHYT ..................................................................................... 44
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG
THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VIỆC MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHYT . 46
3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc mở rộng đối tượng tham
gia BHYT, tiến tới BHYT toàn dân ............................................................... 46

KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


-6-

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. BHYT : Bảo hiểm y tế
2. BHXH : Bảo hiểm xã hội
3. CSSK

: Chăm sóc sức khỏe

4. KCB

: Khám chữa bệnh

5. TN

: Tự nguyện

6. GDP

: Tổng sản lượng nội địa (Gross Domestic Product)

7. GNP

: Tổng sản lượng quốc gia (Gross National Product)


-8-

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước chuyển đổi cơ chế
quản lý kinh tế sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
quản lý của nhà nước. Đổi mới cơ chế kinh tế đã tác động và ảnh hưởng đến
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe. Sự ra đời của chính sách BHYT nhằm đáp ứng cho yêu cầu chăm sóc
sức khỏe cho nhân dân ngày càng tốt hơn, là nhân tố không thể thiếu trong
chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta.
Việt Nam đã thực hiện BHYT từ năm 1992 và mục tiêu BHYT toàn dân
ở nước ta đã được xác định và tiếp tục được khẳng định trong các Nghị quyết
của Đảng và nhà nước, nhằm hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả, chất
lượng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, cộng đồng chia sẻ nguy cơ tổn
thất tài chính của mỗi cá nhân khi ốm đau. Do vậy, điều cốt yếu là phải mở
rộng phạm vi bao phủ của hệ thống này, làm thế nào để mọi người dân đều
tham gia BHYT.
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm triển khai thực hiện cho thấy hầu hết số
người tham gia BHYT chỉ là cán bộ công chức nhà nước, người lao động và
một bộ phận cộng đồng (số người có thẻ BHYT chiếm 40,5% dân số cả
nước). Để mọi người dân đều được tham gia BHYT không phải là việc dễ
dàng, không dễ thuyết phục người dân thấy được vai trò quan trọng của
BHYT để tham gia một cách tự nguyện nếu việc tổ chức thực hiện của cơ
quan BHXH và cơ sở y tế còn những bất cập, người tham gia BHYT chưa
được sử dụng các dịch vụ y tế một cách thuận tiện và phù hợp.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sự thiếu hiểu biết của người
dân về lợi ích mà BHYT đem lại thì bản thân chính sách, pháp luật về BHYT
và cơ chế quản lý thực hiện cũng còn rất nhiều điều chưa phù hợp với mức


-10-

- Phạm vi nghiên cứu là nội dung khai thác, mở rộng đối tượng tham gia

BHYT, hệ thống tổ chức BHYT. Giới hạn phạm vi nghiên cứu kể từ khi thực
hiện chính sách BHYT đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được ứng dụng trong đề tài này bao gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng, hệ thống hóa lý luận và duy vật lịch
sử.
- Các phương pháp phân tích và tổng hợp các dữ kiện làm cơ sở đưa ra
kết luận.
Cụ thể, sử dụng những số liệu, tài liệu thực tế trong giai đoạn 1992-2006,
tức là kể từ khi đất nước ta bắt đầu thực hiện BHYT, nhằm phản ánh hiện
thực khách quan, tổng hợp, khái quát hóa để phân tích rõ thực trạng, đồng
thời tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra nhận
định, đề xuất các chủ trương, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách
BHYT.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài làm sáng tỏ bản chất, vai trò của BHYT trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
- Tìm hiểu quá trình mở rộng đối tượng tham gia BHYT ở các quốc gia
trên thế giới đang thực hiện BHYT toàn dân và rút ra bài học kinh nghiệm bổ
ích cho Việt Nam .
- Phân tích tình hình tham gia BHYT của các đối tượng tại Việt Nam,
những thuận lợi cũng như những khó khăn khi tiến tới BHYT toàn dân.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp khả thi nhằm mở rộng đối tượng
tham gia BHYT tiến tới BHYT toàn dân.



hội hoặc còn được gọi là bảo hiểm xã hội về y tế, nó khác với bảo hiểm y tế tư
nhân (bảo hiểm thương mại).
1.1.2. Bản chất Bảo hiểm y tế:
Từ những khái quát trên, ta có thể phân tích đầy đủ hơn về bản chất của
BHYT. Trước hết, BHYT là một nội dung của BHXH, một bộ phận trong
những bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ
thống an sinh xã hội. Cùng với các hệ thống cung cấp và hệ thống cứu trợ xã
hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung đã


-13-

thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội. Chính vì vai trò
cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy, cho nên mọi quốc gia trên thế giới,
hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ
thống pháp luật về BHXH. Đây cũng là cơ sở quan trọng để phân biệt giữa
BHXH về y tế và bảo hiểm tư nhân về y tế. Trong các nước công nghiệp phát
triển thì loại hình BHYT tư nhân cũng được phát triển và cùng tồn tại song
song với BHXH về y tế. Vì vậy, nói đến BHYT ở đây là chúng ta hiểu là đang
đề cập đến BHXH về y tế hay nói cách khác là BHYT theo luật pháp. Hiện
nay, BHXH ở nước ta bao gồm các chế độ: Chế độ trợ cấp ốm đau, Chế độ trợ
cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, Chế độ hưu
trí, Chế độ tử tuất và cũng có thể hiểu BHYT là Chế độ khám chữa bệnh.
Khi lâm bệnh, người bệnh buộc phải đến các cơ sở y tế để được khám
chữa bệnh. Cũng từ bệnh tật nhất là những bệnh tật kinh niên, bệnh mãn tính
hoặc bệnh hiểm nghèo đã dẫn đế các khoản chi phí KCB cực kỳ lớn. Những
khoản chi phí này không phải ai cũng có thể tự lo liệu được. Đối với những
người bệnh do hoàn cảnh nghèo túng thì phải vay mượn để chữa trị, những
người có điều kiện kinh tế khá giả hơn hoặc cận nghèo thì sau những lần bệnh
cũng có thể bị đẩy vào tình cảnh nghèo khó. Đồng thời bệnh tật cũng kéo theo

bệnh được thực hiện cân bằng giữa một bên là tổng số chi phí khám chữa
bệnh cho những người có nhu cầu và cần phải khám chữa bệnh và bên kia là
tổng số đóng góp của tất cả những người tham gia BHYT bất kể họ có hoặc
chưa có nhu cầu khám chữa bệnh.
Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn cao cả của
nó đã loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người
tham gia BHYT. Do vậy, hoạt động BHXH về y tế không có khoản thu lợi
nhuận và đương nhiên cũng không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, tỷ lệ đóng
góp chỉ được nâng lên theo đòi hỏi quyền lợi chung của quá trình thực hiện
BHYT. Về mặt kỹ thuật bảo hiểm thì nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ


-15-

rủi ro chính là quá trình phân phối lại giữa những người khỏe mạnh với người
ốm đau, người trẻ với người gia, do đó đối tượng tham gia bảo hiểm phải
không ngừng được mở rộng trong suốt quá trình phát triển và được định
hướng cho nhiều nhóm đối tượng lao động khác nhau mới có ý nghĩa trong
việc điều tiết trong cộng đồng xã hội.
1.1.3. Nguồn gốc của Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế được hình thành kể từ khi nền công nghiệp và kinh tế
hàng hóa đang trong giai đoạn phát triển. Đây chính là quá trình đấu tranh cho
quyền lợi của người lao động đối với người chủ thuê mướn nhân công. Người
thuê mướn nhân công chỉ trả cho người lao động một mức lương với hàm ý
chỉ là trả tiền công trong thời gian người lao động còn làm việc. Nhưng khi
người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn, tuổi già … và không thể làm việc
được thì làm sao họ có thể trang trải những chi phí thiết yếu cho cuộc sống
đầy khó khăn của mình.
Xét về mặt y học, sức khỏe của con người chứa đựng những rủi ro rất
lớn bao gồm: các bệnh theo tuổi tác, theo nghề nghiệp, theo sự phát triển của

BHYT đóng vai trò là tổ chức trung gian được đề cập ở trên và đã có
lịch sử ra đời hàng trăm năm nay. BHYT là một chính sách xã hội lớn, là loại
hình bảo hiểm đặc biệt, mang ý nghĩa nhân đạo cộng đồng sâu sắc, góp phần
quan trọng thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
nhân dân. Từ năm 1890, tại Pháp đã có một tổ chức dưới dạng một cơ quan xã
hội có chức năng gần giống BHYT.
1.2 VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM Y TẾ:
Bảo hiểm y tế là một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội phát triển,
đóng vai trò quan trọng không những đối với người tham gia bảo hiểm, các cơ
sở y tế, mà còn là thành tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội
hóa công tác y tế nhằm huy động nguồn tài chính ổn định, phát triển đa dạng


-17-

các thành phần tham gia khám, chữa bệnh cho nhân dân. Vai trò của BHYT
được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, BHYT là nguồn hỗ trợ tài chính cho những người tham gia
khi bị ốm đau, bệnh tật. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, cuộc sống của
nhân dân được cải thiện thì nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe
cũng ngày một tăng, những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y tế đã
nâng cao chất lượng dịch vụ y tế lên rất nhiều trong những năm qua, nhưng
cũng đòi hỏi người thụ hưởng phải trả mức phí cao hơn. Và vì thế, chi phí
khám chữa bệnh luôn là nỗi lo không nhỏ của nhiều người, ngay cả những
người có thu nhập thuộc loại khá của xã hội. BHYT giúp họ giải tỏa được
gánh nặng này bằng việc chia sẻ rủi ro, lấy số đông bù số ít.
Thứ hai, BHYT là một trong những nguồn cung cấp tài chính ổn định
cho các cơ sở y tế. Trong những năm qua, nguồn thu viện phí do quỹ BHYT
thanh toán chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn chi thường xuyên
của các cơ sở y tế (khoảng trên 30%). Nguồn thu này đã góp phần cho các cơ

dự phòng cho những khi ốm đau, những lúc khỏe trẻ còn làm việc được để
đóng góp cho chính bản thân mình khi về già nhiều bệnh tật, không có thu
nhập.
Phương thức hoạt động của BHYT là sự điều tiết theo chiều dọc và
theo chiều ngang, công cụ để thực hiện phương thức này là sự đoàn kết tương
trợ cộng đồng cùng chia sẻ rủi ro. Sự điều tiết xã hội này phải được gắn liền
với nguyên tắc bảo hiểm y tế bắt buộc bằng pháp luật. Do đó BHYT bắt buộc
là điều kiện cần thiết của nguyên tắc đoàn kết tương trợ cùng chia sẻ rủi ro.
Hoạt động BHYT không chỉ bảo đảm cho từng thành viên trước những
lợi ích chính đáng, mà còn đảm bảo cân đối được giữa tổng số đóng góp với
sự thanh toán cho những người lúc trẻ khỏe, không ốm đau thì không chịu
tham gia BHYT và chờ đến lúc già yếu hoặc ốm đau mới tham gia BHYT,


-19-

càng gây thêm gánh nặng cho cộng đồng. Vì vậy trong quá trình mở rộng diện
đối tượng tham gia BHYT, những đối tượng nào có đủ khả năng và điều kiện
thì phải đưa vào diện BHYT bắt buộc. Đồng thời loại hình BHYT tự nguyện
chỉ là giải pháp tạm thời nhằm vận động một số nhóm đối tượng do những
hoàn cảnh nhất định mà chưa tham gia BHYT bắt buộc được.
1.4 CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM Y TỂ
1.4.1 Bảo hiểm y tế bắt buộc
Bảo hiểm y tế bắt buộc là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở
bắt buộc của người tham gia. Đối tượng tham gia, mức đóng và trách nhiệm
đóng của cá nhân người lao động, chủ sử dụng lao động do Chính phủ quy
định. Bảo hiểm y tế bắt buộc có những đặc điểm sau:
- Tính toàn diện: tất cả các đối tượng bảo hiểm trong phạm vi quy định
của pháp lệnh, bất kể là người có muốn hay không đều phải tham gia theo quy
định của pháp luật.

hiểm xã hội hàng tháng.
- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiêm
xã hội hàng tháng và cán bộ xã già yếu nghỉ việc đang hưởng phụ cấp hàng
tháng từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định.
- Thân nhân sĩ quan quân đội nhân dân đang tại ngũ, thân nhân sĩ quan
nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân.
- Các đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hàng tháng,
- Người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên và người cao tuổi theo quy định của
pháp lệnh người cao tuổi.
- Người nghèo được hưởng chế độ khám chữa bệnh theo quy định.
- Cựu chiến binh thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ.
- Lưu học sinh nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được nhà nước
Việt Nam cấp học bổng. [phụ lục 1]


-21-

1.4.2 Bảo hiểm y tế tự nguyện
Bảo hiểm y tế tự nguyện là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở
tự nguyện của người tham gia. Bảo hiểm y tế tự nguyện được áp dụng cho
mọi đối tượng có nhu cầu tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế, kể cả đối tượng
đã tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, người nước ngoài đến làm việc, học tập,
du lịch tại Việt Nam.
1.5 KINH NGHIỆM THỰC HIỆN BHYT TOÀN DÂN CỦA MỘT SỐ
NƯỚC
1.5.1 Bước đi đến BHYT toàn dân của một số nước:
Cần có thời gian quá độ hay thời gian chuyển đổi để đạt được mục tiêu
toàn dân tham gia BHYT. Quãng thời gian này được xác định là số năm kể từ
khi có luật BHYT đầu tiên đến khi thực hiện được BHYT toàn dân. Theo
nghiêu cứu của WHO, quãng thời gian này trung bình là 70 năm và khác nhau

Nhìn chung, khi mở rộng các nhóm đối tượng tham gia với mục tiêu
BHYT toàn dân, các nước đều có những khó khăn riêng, phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, sự cam kết của Chính phủ. Thời gian
để bao phủ nhóm lao động thu nhập thấp và lao động không chính quy là lâu
hơn với các nhóm khác, đồng thời cần có những biện pháp đặc thù với nhóm
này, trong đó rất quan trọng là sự hỗ trợ về tài chính để đóng phí. Đa số các
quốc gia có nền kinh tế phát triển đã thực hiện BHYT từ rất lâu, những
nguyên tắc cơ bản ở các quốc gia thực hiện BHYT toàn dân có chung đặc
điểm:
- Mức phí BHYT đóng góp theo khả năng: xác định mức đóng BHYT là
theo thu nhập chứ không theo rủi ro. Người có thu nhập cao thì đóng phí cao,
người có thu nhập thấp thì đóng phí thập, mức phí hoàn toàn không phụ
thuộc vào tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT.
- Tham gia mang tính bắt buộc: là hình thức BHYT bắt buộc, mỗi cá
nhân phải có trách nhiệm thực hiện, đóng góp tạo quỹ lo sức khỏe cho cộng


-23-

đồng. Kinh nghiệm lớn nhất rút ra là BHYT tự nguyện mang tính không bền
vững, chỗ nào càng có nhiều người tham gia BHYT tự nguyện thì ở chỗ đó
nguy cơ với quỹ càng lớn. Cơ chế tự nguyện tạo ra tình trạng chỉ người ốm
mới tham gia, còn người khỏe không tham gia dẫn đến hậu quả bội chi quỹ.
Kinh nghiệm của tất cả các nước thực hiện BHYT toàn dân là phải ban hành
luật tham gia BHYT bắt buộc.
- Quyền lợi được hưởng của người tham gia BHYT là theo bệnh tật:
mặc dù là đóng góp theo khả năng thu nhập nhưng quyền lợi được hưởng là
theo nhu cầu điều trị bệnh, cho dù có những bệnh chi phí điều trị rất cao
nhưng BHYT cũng phải đáp ứng cho yêu cầu khám chữa bệnh.
- BHYT tự nguyện chỉ là giải pháp tình thế: trong giai đoạn chưa thể

tình hình hiện tại ở Việt Nam.


-25-

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO HIỂM Y TẾ TẠI VIỆT NAM
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHÍNH SÁCH
BẢO HIỂM Y TẾ
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước chuyển đổi cơ chế
quản lý kinh tế sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có
sự quản lý của nhà nước. Đổi mới cơ chế kinh tế đã tác động và ảnh hưởng
đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe. Sau nhiền năm thực hiện chế độ bao cấp trong khám chữa bệnh, mặc dù
ngân sách Nhà nước dành cho y tế mỗi năm đều tăng nhưng trước nhu cầu
chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng cao, giá các dịch vụ y tế ngày
càng tăng nên Nhà nước không thể bao cấp toàn bộ cho khám chữa bệnh.
Trước tình hình đó, ngày 24/02/1989 Hội đồng Bộ trưởng đã có Quyết định
số 45/HĐBT để thực hiện việc thu một phần viện phí, nhằm huy động sự
đóng góp của nhân dân, tạo thêm kinh phí cho các bệnh viện để đáp ứng yêu
cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày một tốt hơn.
Từ bao cấp toàn bộ, đến thu một phần viện phí theo Quyết định
45/HĐBT là một bước chuyển đổi quan trọng trong chế độ khám chữa bệnh ở
nước ta. Tuy nhiên, đối tượng được miễn giảm tiền khám chữa bệnh theo
Quyết định 45/HĐBT quá nhiều. Đối tượng phải nộp một phần viện phí chủ
yếu là dân cư nông thôn, người lao động tự do ở khu vực thành thị, đó là
những người có mức sống còn thấp, thu nhập không ổn định, có nhiều khó
khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ y tế.
Việc thu một phần viện phí làm xuất hiện tình trạng: lượng bệnh nhân
giảm, nhiều cơ sở khám chữa bệnh có rất ít người đến khám chữa bệnh, đặc
biệt ở các tỉnh miền núi, những khu vực kinh tế, xã hội kém phát triển. Bên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status