Tiểu luận: Quản trị bảo hiểm xã hội - Đề tài: "Thực trạng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tại huyện miền núi Yên Lập" - Pdf 11

Tiểu luận
Quản trị bảo hiểm xã hội
Đề tài:
Thực trạng và một số giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác Quản lý
đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội
tại huyện miền núi Yên Lập
GVHD: Mai Thị Dung
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh
Lớp: C13BH1
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
Mục lục
Chương I: 5
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG 5
THAM GIA BHXH BẮT BUỘC 5
1.1 Các khái niệm: 5
Chương II 13
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT
BUỘC Ở HUYỆN YÊN LẬP 13
GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 13
Chương III 37
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG
THAM GIA BHXH Ở HUYỆN YÊN LẬP 37
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
2
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới toàn diện về kinh tế - chính
trị - xã hội. Đảng và Nhà Nước đã hoạch định các chính sách phát triển kinh
tế - xã hội trong do có chính sách về BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế
của đất nước trong từng thời kì. Chính sách BHXH từ chỗ chỉ thực hiện

công tác quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tại cơ quan Bảo hiểm
xã hội Huyện Yên Lập. Từ đó mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm khắc
phục những hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện BHXH nói chung và
trong công tác quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội nói riêng.
Để phục vụ mục đích đó, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương như
sau:
Chương I: Khái quát chung về quản lý đối tượng tham gia Bảo
hiểm Xã hội bắt buộc
Chương II: Thực trạng quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm Xã
hội ở huyện miền núi Yên Lập giai đoạn 2006 - 2010
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Quản lý
đối tượng tham gia Bảo hiểm Xã hội huyện Yên Lập
Xin chân thành cảm ơn cô Mai Thị Dung đã tận tình hướng dẫn và giúp
đớ để e có thể hoàn thành được đề tài này.Trong quá trình học tập, nghiên
cứu đề tài, do còn nhiều hạn chế về thời gian, kiến thức và trình độ nhận thức
nên không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong được nhận đóng góp ý
kiến của các thầy cô giáo và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Anh
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
4
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
Chương I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG
THAM GIA BHXH BẮT BUỘC
1.1 Các khái niệm:
1.1.1. Quản trị BHXH:
Nếu coi quản trị BHXH là một hoạt động , thì thuật ngữ quản trị
BHXH có thể hiểu là : Quản trị BHXH là những hoạt động cần thiết được
thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong hệ thống tổ chức BHXH,

chính phủ về việc chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam. Như vậy thì
sau khi các đối tượng tham gia BHXH bao gồm cả các đối tượng tham gia
BHYT, và có thể gọi chung là đối tượng tham gia BHXH.
Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội là người lao động và người sử
dụng lao động. Tuy vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao
động nào đó.
Đặc điểm của đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là họ thường nằm
trong khu vực có tổ chức tốt và ổn định; các yếu tố liên quan đến người lao
động như việc làm, điều kiện làm việc, thu nhập nhìn chung là ổn định rõ
ràng và tương đối chính xác cho phép cơ quan BHXH xác định được mức
đóng góp và mức trợ cấp hợp lý đảm bảo sự tồn tại phát triển lâu dài của Quỹ
BHXH; các thông tin về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thường sẵn có
được tổ chức có hệ thống và dễ thu thập, giúp cơ quan BHXH tổ chức thực
hiện tốt việc quản lý đối tượng.
Ở Việt Nam theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ thì
đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:
- Người lao động làm việc cho các doanh nghiệp Nhà Nước.
- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên.
- Người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tưư nước ngoài, các khu chế xuất, khu công nghiệp; trong các cơ quan tổ
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
6
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước
quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia
có quy định khác.
- Người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc
cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể.

vi đối tượng tham gia BHXH cho phù hợp với tình hình mới. Trong Nghị
định số 01/2003/NĐ- CP ngày 09/1/2003 của Chính phủ thì đối tượng tham
gia BHXH bắt buộc bao gồm những đối tượng theo Nghị định 12/CP và bổ
sung thêm các đối tượng là người lao động có thời hạn đủ 3 tháng trở lên và
hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các doanh nghiệp, cơ quan,
tổ chức; Người lao động, xã viên làm việc và hưởng tiền công theo hợp đồng
lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các HTX thành lập và hoạt động theo
Luật HTX; Người lao động làm việc trong các hộ sản xuất kinh doanh cá thể,
tổ hợp tác; Người lao động làm việc trong các trạm y tế xã phường, thị trấn
và người lao động trong các tổ chức khác có sử dụng lao động.
Như vậy, từ chỗ chỉ thực hiện BHXH cho các đối tượng là công nhân
viên chức Nhà nước. BHXH hiện nay đã mở ra sự bảo vệ cho người lao động
làm công ăn lương ở tất cả các thành phần kinh tế, kể cả khu vực có yếu tố
nước ngoài. Điều đó thể hiện chính sách BHXH đã thực sự đi vào đời sống
của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội
1.2.2. Vai trò của quản lý đối tượng tham gia:
Trong toàn bộ hoạt động quản trị BHXH thì quản trị đối tượng tham gia
là khâu đầu tiên, cơ bản và có vai trò quan trọng; nó tạo nền tảng cho việc
thực hiện các hoạt động quản trị khác trong toàn bộ hệ thống.
Việc quản lý đối tượng tham gia một cách khoa học, chặt chẽ sẽ thực
hiện những vai trò cơ bản sau đây:
• Làm cơ sở cho vệc tổ chức hoạt động thu BHXH đúng đối tượng,
đủ số lượng theo đúng quy định của pháp luật về BHXH đúng thời hạn quy
định.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
8
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
• Là điều kiện để đảm bảo quyền tham gia BHXH của người lao
động, cảu đơn vị sử dụng lao động và của công dân theo đúng quy định cảu
luật pháp về BHXH.

vị sử dụng lao động; danh sách điều chỉnh lao động và mức lương đóng
BHXH bắt buộc ( trường hợp tăng, giảm lao động và mức đóng BHXH).
• Quản lý mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc.
Bảng kê khai mức tiền lương tiền công làm căn cứ đóng BHXH do đơn vị sử
dụng lao động lập theo quy định của BHXH Việt Nam.
• Quản lý tổng quỹ tiền lương tiền công làm căn cứ đóng BHXH của
từng đơn vị tham gia.
• Quản lý mức đóng BHXH của từng đơn vị và từng người tham gia trên
cơ sở danh sách tham gia BHXH của từng đơn vị và bảng kê khai mức tiền
lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH do đơn vị sử dụng lao động lập.
• Cấp, quản lý sổ BHXH cho người tham gia và hàng năm ghi bổ sung
vào sổ BHXH theo các tiêu thức ghi trong sổ và theo quy định của pháp luật
về BHXH.
1.2.4. Công cụ quản lý đối tượng tham gia:
1.2.4.1. Pháp lý:
Pháp luật là công cụ cơ bản và quan trọng để thực hiện việc quản lý đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc. Hệ thống pháp luật mà các nàh quản trị
BHXH có thể dựa vào đó để quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao
gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước về lao động và
BHXH như: Luật BHXH, Luật lao động, các Nghị Định, thông tư cảu cính
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
10
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
phủ và các Bộ ban ngành có liên quan…Ngoài ra không thế không kể đến
các văn bản hướng dẫn riêng của ngành. Tất cả các quy định này cần được
phổ biến cụ thể tới từng cán bộ công nhân viên của BHXH và từ đó tới từng
đối tượng tham gia.
Mặt khác cơ quan BHXH là cơ quan trực tiếp triển khai thực hiện
BHXH nhưng lại không có thẩm quyền ra các quy định pháp luật về BHXH.
Do đó cơ quan BHXH còn có 1 nhiệm vụ quan trọng đó là tham mưu, cố vấn

một việc làm tất yếu. Khi công nghệ thông tin được sử dụng làm công cụ
quản lý đối tường tham gia thì các thủ tục hành chính được cải cách, hiệu quả
quản trị được nâng cao.
Công nghệ thông tin trong quản trị BHXH phỉa đảm bảo tính đồng bộ,
hiện đại, các phần mềm phải chuẩn xác, linh hoạt phù hợp với sự thay đổi về
chế độ chính sách; đảm bảo kết nối, cập nhật tốt đồng thời có tính bảo mật
cao.
1.2.4.5. Mối quan hệ giữa các bên liên quan:
Hoạt động của BHXH liên quan đến nhiều cơ quan tổ chức, do đó việc
quản trị đối tượng tham gia BHXH đòi hỏi cần có sự phối hợp nhịp nhàng,
chặt chẽ giữa tổ chức BHXH với các cơ quan hữu quan khác. Các cơ quan
hữu quan có liên quan tới BHXH thường bao gồm: cơ quan quản lý nhà nước
về BHXH, tổ chức đại diện người lao động, người sử dụng lao động, các
ngân hàng, kho bạc, các cơ quan thanh tra BHXH, các cơ quan cấp phép
thành lập đơn vị sử dụng lao động hoặc cấp phép hoạt đông…
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
12
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
Chương II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM XÃ
HỘI BẮT BUỘC Ở HUYỆN YÊN LẬP
GIAI ĐOẠN 2006 – 2010
2.1. Tình hình thực hiện quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt
buộc huyện Yên Lập giai đoạn 2006 – 2010:
2.1.1. Sơ lược về BHXH huyện Yên Lập:
2.1.1.1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của BHXH Yên Lập:
Cùng với BHXH cả nước, BHXH huyện Yên Lập được thành lập theo
quyết định số 97/QĐ- TCCB ngày 4/8/1995 và chính thức đi vào hoạt động
từ ngày 01/09/1995. Bước đầu chỉ có 3 cán bộ làm nhiệm vụ quản lý công
tác thu cho 51 đơn vị, 968 lao động; chi cho 722 đối tượng hưu trí, mất sức

loại sổ, thẻ BHXH.
- Tổ chức quản lý lưu trữ hồ sơ và phát triển đối tượng tham gia BHXH,
BHYT.
- Tổ chức hợp đồng với cơ sở KCB hợp pháp để phục vụ người có sổ,
thẻ BHXH theo quy định. Đồng thời thực hiện công tác giám định chi KCB
tại các cơ sở KCB để đảm bảo KCB cho người có sổ, thẻ BHXH và chống
lạm dụng quỹ KCB; Hướng dẫn nghiệp vụ giám định chi đối với các cơ sở ở
xã.
- Thực hiện quản lý sử dụng các nguồn kinh phí; chế độ kế toán, thống
kê theo quy định của Nhà Nước, của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và hướng
dẫn các cơ sở thực hiện.
- Tổ chức thực hiện chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng đúng quy
định, theo dõi danh sách chi trả của cơ sở cung cấp.
- Kiểm tra việc thực hiện các chế độ thu, chi BHXH đối với cơ quan,
đơn vị, tổ chức sử dụng lao động, cá nhân, cơ sở KCB trên địa bàn Huyện;
Kiến nghị với các cơ quan pháp luật, cơ quan quản lý Nhà Nước và cơ quan
cấp trên của đơn vị sử dụng lao động hoặc cơ sở KCB để xử lý những hành
vi vi phạm pháp luật về các chế độ BHXH, BHYT.
- Thực hiện hướng dẫn, giải đáp thắc mắc, khiếu nại về BHXH của các
đối tượng tham gia BHXH và thông tin tuyên truyền về chế độ chính sách
BHXH của Nhà Nước.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
14
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
- Tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ BHXH trên địa bàn
Huyện; ứng dụng khoa học, công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành
hoạt động của BHXH Huyện
- Quản lý tổ chức, biên chế cán bộ, công chức, viên chức, tài chính và
tài sản thuộc BHXH huyện theo phân cấp của BHXH Việt Nam, BHXH Tỉnh
và UBND Tỉnh Phú Thọ theo quy định.

Huyện thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- Thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo cơ chế đổi mới của
Đảng và Nhà Nước ta đối với các thành phần kinh tế đã được đông đảo quần
chúng lao động đón nhận, đồng tình ủng hộ, nhân dân phấn khởi vì các chế
độ chính sách đối với người tham gia và hưởng BHXH giữa các thành phần
kinh tế được bình đẳng về quyền lợi.
- Hệ thống tổ chức bộ máy của BHXH địa phương hoạt động khá hiệu
quả; Kết quả thu năm sau cao hơn năm trước, tổ chức chi trả đầy đủ kịp thời
cho các đối tượng hưởng BHXH, góp phần cùng BHXH cả nước hình thành
quỹ BHXH tập trung độc lập với NSNN.
- Công tác tuyên truyền các chính sách chế độ mới tới người dân được
thực hiện một cách sâu rộng: các cơ quan thông tin tuyên truyền đã có nhiều
tin bài phản ánh về tổ chức thực hiện công tác BHXH, góp phần nâng cao
nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động ở địa phương.
b) Khó khăn
- Yên Lập là huyện miền núi cuat Tỉnh Phú Thọ, đường sá đi lại khó
khăn, cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông lâm nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh
doanh phần lớn ở quy mô nhỏ, số lao động không nhiều nên việc mở rộng
đối tượng tham gia BHXH tại huyện, tỉnh còn gặp nhiều khó khăn.
- Năm 2003 BHYT sáp nhập vào BHXH làm cho số đối tượng phải
quản lý của cơ quan BHXH tăng lên đáng kể, công tác quản lý đối tượng
tham gia BHXH theo đó cũng gặp nhiều khó khăn hơn; Khối lượng công
việc lớn trong khi đó số cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ lại chưa nhiều,
không được đào tạo cơ bản về công tác tài chính, lao động, tiền lương, nhất
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
16
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
là trong lĩnh vực BHXH. Bên cạnh đó cơ sở vật chất phương tiện làm việc
làm việc thiếu thốn, chưa đảm bảo do vậy không tránh khỏi những khó khăn
nhất định khi thực hiện nhiệm vụ được giao.

Ngay sau khi đi vào hoạt động, cùng với hoàn thiện khâu tổ chức; Đơn
vị đồng thời triển khai ngay việc thực hiện các chế độ, chính sách BHXH,
đảm bảo sự ổn định, kịp thời và đúng chế độ cho người lao động trên địa bàn
quản lý. Xác định công tác thu là nhiệm vụ trọng tâm của ngành, năm 1999
toàn huyện có 6630 lao động tham gia BHXH (chủ yếu là những người làm
công ăn lương) thu được trên 3,859 tỷ đồng. Đến năm 2009 số đối tượng
tham gia BHXH, BHYT đã tăng lên 30.436 người. Với số thu cả năm là hơn
35878 tỷ đồng. Công tác bảo hiểm tự nguyện cũng được tăng trưởng theo
từng năm, đặc biệt năm 2008 là năm hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch
ngay từ đầu Quý IV/ 2008. BHXH bắt buộc đã từng bước được hoàn thiện và
phát triển, người lao động tham gia BHXH, BHYT đã được hưởng đầy đủ
các chế độ chính sách do Đảng và Nhà Nước quy định.
2.1.2. Tình hình thực hiện công tác quản lý đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Yên Lập:
2.1.2.1. Tình hình tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Yên Lập
giai đoạn 2006 – 2010:
Nhận thức được Đăng ký tham gia BHXH là một quy trình xác định cơ
quan đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện bảo hiểm nhằm
mục đích thiết lập các hồ sơ quản lý đầy đủ về họ. Chính vì vậy ngay từ khi
bắt tay vào thực hiện chính sách BHXH, cơ quan BHXH Tỉnh Cao Bằng đã
tiến hành đăng ký tham gia cho các đơn vị sử dụng lao động cũng như thông
qua các đơn vị sử dụng lao động để giúp người lao động đăng ký vào hệ
thống BHXH. Công tác đăng ký tham gia đã được thực hiện theo đúng quy
trình như trên đã nêu, cơ quan BHXH đã nỗ lực hết sức để nhằm nhận diện,
xác định các đơn vị thuộc diện bắt buộc nhưng chưa đăng ký tham gia vào hệ
thống, nhờ có sự phối hợp của các cơ quan quản lý liên quan mà công tác
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
18
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
đăng ký tham gia đã được thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả. Số


cấu
(%)
Số tuyệt
đối
(người)
Cơ cấu
(%)
HCSN
15.270
62,61
15.654
61,24
16.437
17,44
17.072
18,54
17.532
19,84
DNNN
5.795
23,76
6.312
24,69
6.374
6,76
6.592
7,16
6.634
7,51

0,19
117
0,13
Xã, phường- TT
3.120
12,79
3.253
1,73
3.262
3,46
2.946
3,20
3.023
3,42
HKD cá thể
0
-
0
-
0
-
22
0,02
39
0,04
Tự đóng 15%
0
-
0
-

88.346
100,00
(Nguồn: BHXH Huyện Yên Lập)
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
20
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
Từ bảng số liệu trên ta thấy: số đối tượng tham gia BHXH nhìn chung
là có xu hướng tăng, nhưng tăng không đều giữa các khối qua các năm. Đồng
thời thực hiện các Nghị định, thông tư hướng dẫn BHXH huyện đã tổ chức
đăng ký tham gia cho hơn 20 hộ kinh doanh cá thể năm 2009 và con số này
tăng lên 39 trong năm 2010 (tăng gấp 1,7 lần so với năm 2009). Cụ thể như
sau:
- Khối Hành chính sự nghiệp là khối có số đối tượng đăng ký tham gia
đông đảo nhất bởi ngay từ những năm đầu thực hiện chính sách BHXH thì
chủ yếu thực hiện cho những người làm công ăn lương (công chức Nhà nước
làm việc trong khối HCSN) vì khối này có thu nhập ổn định, có tổ chức chặt
chẽ nên sẽ dễ dàng hơn cho việc quản lý đối tượng tham gia BHXH. Do vậy
khối này luôn có số lao động đăng ký tham gia đông đảo và ổn định nhất.
Trong hai năm 2006, 2007 thì khối này cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tất cả các khối tham gia BHXH tỷ trọng lần lượt là 62,61% và 61,24%; Tuy
nhiên từ năm 2008 trở đi thì tỷ trọng này giảm đi đáng kể, năm 2010 chỉ còn
19,84% Năm 2009 số này là 70,63% và năm 2010 là 68,61%. Tỷ trọng của
khối tham gia BHYT 3% tăng lên làm cho tỷ trọng của tất cả các khối đều
giảm đi, có nghĩa là chúng ta đã dần dần tiến tới thực hiện được BHYT toàn
dân theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng.
- Doanh nghiệp Nhà nước cũng có số đối tượng tăng nhưng tăng chậm
qua các năm. Năm 2006 số đối tượng tham gia là 5.795 người chiếm 23,76%
trong tổng số đối tượng tham gia, đến năm 2010 thì số đối tượng tăng lên
6.634 người chiếm 7,51% tổng số đối tượng tham gia BHXH, BHYT tức là
gấp 1,14 lần so với năm 2006.

doanh nghiệp) tham gia BHXH cho người lao động. Nguyên nhân của tình
trạng trên là do các doanh nghiệp ở huyện Yên Lập chủ yếu là các doanh
nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ do đó không thuê nhiều lao động mà chủ yếu
là sử dụng những người trong gia đình, họ hàng. Bên cạnh đó nhiều doanh
nghiệp thuộc diện bắt buộc tham gia lại có tình trốn tránh đăng ký tham gia
BHXH cho người lao động bằng cách chỉ ký hợp đồng ngắn hạn với người
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
22
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
lao động, khai giảm số người lao động làm việc trong doanh nghiệp để không
phải đóng tiền BHXH cho họ. Đây có lẽ cũng là một thực trạng ở hầu hết các
tỉnh chứ không chỉ riêng tỉnh Cao Bằng. Điều này đã đặt ra cho BHXH Cao
Bằng nhiệm vụ lớn trong thời gian tới đó là tiến hành thu thập thông tin,
nhận dạng các đơn vị thuộc diện bắt buộc tham gia để hướng dẫn cho các
đơn vị đó đăng ký tham gia vào hệ thống BHXH, cho nên cơ quan BHXH
cần phải sát xao hơn trong công tác đăng ký tham gia nhằm nâng số doanh
nghiệp tham gia BHXH lên.
- Các khối Ngoài công lập, Cán bộ Xã phường - Thị trấn đều tăng lên từ
năm 2006 đến năm 2008. Số đối tượng tham gia khối Ngoài công lập lần lượt
là 141 người; 250 người; 274 người. Khối Cán bộ Xã phường- thị trấn lần
lượt là 3.120 người; 3.53 người; 3.262 người. Song đến năm 2008 thì hai
khối này có số đối tượng giảm đi xuất phát từ nguyên nhân một số đơn vị
thực hiện chủ trương tinh giảm biên chế, chuẩn hoá đội ngũ giáo viên mầm
non tại các trường trong toàn tỉnh (khối Ngoài công lập). Đây cũng là một
trong những nguyên nhân làm cho số đối tượng tham gia BHXH tại tỉnh Cao
Bằng năm 2009, năm 2010 giảm đi so với năm 2008.
Bên cạnh đó có một số đối tượng đủ điều kiện nghỉ theo quyết định
41 về tinh giản biên chế trong các đơn vị nhưng lại chưa đủ thời gian đóng
BHXH theo quy định nên phải tự đóng 15% người tiền lương tối thiểu cho
đến khi nào đủ thì sẽ được xét hưởng chế độ hưu trí. Số này rất ít, năm 2009

Huyện Yên Lập giai đoạn 2006 - 2010
Năm
Số Đơn vị

Tốc độ tăng liên
hoàn của số
Đơn vị LĐ (%)
Số LĐ
(Người)
Tốc độ tăng
liên hoàn của
số LĐ (%)
2006 519 - 24.388 -
2007 524 1 24.462 1
2008 672 28 94.272 285
2009 683 2 92.096 - 3
2010 721 6 88.346 - 4
Nguồn: BHXH huyện Yên Lập
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
SVTH: Nguyễn Thị Thu Anh Lớp: C13BH1
24
Tiểu luận: QT-BHXH GVHD: Mai Thị Dung
- Số Đơn vị tham gia BHXH liên tục tăng nhưng tăng chậm qua các năm.
Nếu năm 2006 có 519 đơn vị đăng ký tham gia thì đến năm 2007 số đơn vị
tăng lên 721, tức là chỉ tăng 1,39 lần so với năm 2006. Trong đó năm 2008 là
năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất (28%), so với năm 2007 thì số đơn vị
tham gia tăng lên 148 đơn vị (từ 524 đơn vị lên 672 đơn vị). Đó là do đầu
năm 2008 tuyến đường Quốc lộ 32 chạy qua địa phận giáp ranh huyện Yên
Lập chính thức đi vào hoạt động đã thu hút được một lực lượng lớn lao động
về đây làm việc cho các doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status