Phần I Khái quát chung về BHYT
I. Sự cần thiết khách quan và vai trò của BHYT.
1. Sự cần thiết khách quan của BHYT.
Con ngời trong cuộc sống, cũng nh trong quá trình lao động luôn phải chịu ảnh h-
ởng và chịu sự tác động của môi trờng xung quanh. Sự tác động này bao gồm các điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể. Trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá, loài ngời lại
chịu ảnh hởng của những thứ do chính mình gây ra, đó là nền sản xuất công nghiệp đã
phá vỡ môi trờng sinh thái do chất thải từ các khu công nghiệp tạo ra. Thêm vào đó lao
động không còn đơn thuần là một hành vi có ý thức của con ngời, không chịu bất cứ
một ảnh hởng hay tác động nào khác, mà ở nhiều nơi, nhiều ngời đã phải làm việc ở
những môi trờng nguy hiểm, độc hại. Môi trờng xung quanh có tác động lớn đến sức
khoẻ của con ngời, nên ốm đau bệnh tật là khó ai tránh khỏi.
Đặc biệt ở nớc ta, hậu quả do chiến tranh để lại là rất nặng nề từ đó ảnh hởng lớn
đến sức khoẻ của nhân dân. Chính vì vậy mà nhu cầu đợc chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ
sức khoẻ là một nhu cầu tất yếu của mọi ngời dân trong cộng đồng xã hội. Xã hội càng
phát triển thì nhu cầu này càng tăng lên. Tuy vậy khi ốm đau không phải ai cũng đủ
khả năng để trang trải các khoản chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt là những ngời
nghèo. Vì vậy, Đảng và Nhà nớc ta đã xác định BHYT là một trong những loại hình
hoạt động có bản chất nhân văn, nhân đạo cần phải đợc triển khai.
Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, ngành y tế cũng đã có
những bớc chuyển biến lớn, đi sát với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, do đó mà
phơng tiện khám chữa bệnh ngày càng hiện đại và đắt tiền. Hệ thống dịch vụ đợc nâng
cấp, đội ngũ cán bộ y tế đợc đào tạo ngày một chu đáo hơn, lành nghề hơn, trình độ
quản lý kinh tế và hệ thống y tế ngày càng chặt chẽ hơn, từ đó làm cho chi phí khám
chữa bệnh tăng lên rất nhiều. Đặc biệt, ngày nay y học đã phát triển mạnh mẽ, nhiều
loại thuốc đặc trị ra đời, nên việc chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh ngày càng đắt đỏ.
Tình trạng này làm cho một bộ phận lớn dân c không có khả năng chi trả khi ốm đau,
bệnh tật, buộc phải có sự hỗ trợ của BHYT.
Mặt khác khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, dịch vụ khám chữa bệnh thờng
đắt đỏ, có thể nói là cao nhất trong tất cả các dịch vụ xã hội. Khi không may bị ốm đau
bệnh tật bất ngờ, đại đa số ngời dân không đủ khả năng tài chính để bảo vệ sức khoẻ
của BHXH. ở nớc ta BHYT đã xác nhập vào BHXH kể từ ngày 24/01/2002. Nhng mặc
dù đợc tổ chức nh thế nào đi chăng nữa, thì BHYT vẫn có vai trò riêng biệt mang tính
xã hội rộng rãi nh sau:
+ Thứ nhất BHYT chính là biện pháp để xoá đi sự bất công giữa ngời giàu và ngời
nghèo, để mọi ngời có bệnh đều đợc điều trị với điều kiện họ có tham gia BHYT. Với
2
BHYT, mọi ngời sẽ đợc bình đẳng hơn, đợc điều trị theo bệnh, đây là một đặc trng u
việt của BHYT. BHYT mang tính nhân đạo cao cả và đợc xã hội hoá theo nguyên tắc
Số đông bù số ít. Số đông ngời tham gia để hình thành quỹ và quỹ này đợc dùng để
chi trả chi phí khám chữa bệnh cho một số ít ngời không may gặp phải rủi ro bệnh tật.
Tham gia BHYT vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội. Sự đóng góp của mọi ngời
chỉ là đóng góp phần nhỏ so với chi phí khám chữa bệnh khi họ gặp phải rủi ro ốm
đau, thậm chí sự đóng góp của cả một đời ngời cũng không đủ cho một lần chi phí khi
mắc bệnh hiểm nghèo. Do vậy sự đóng góp của cộng đồng xã hội để hình thành nên
quỹ BHYT là tối cần thiết và đợc thực hiện theo phơng trâm: Mình vì mọi ngời, mọi
ngời vì mình, khi khoẻ thì để hỗ trợ ngời ốm đau, khi không may ốm đau thì ta lại
nhận đợc sự đóng góp của cộng đồng, điều này đã thực sự mang lại sự công bằng trong
khám chữa bệnh.
+ Thứ hai: BHYT giúp cho ngời tham gia khắc phục khó khăn cũng nh ổn định về
mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm đau. Nhờ có BHYT, ngời dân sẽ an
tâm đợc phần nào về sức khoẻ cũng nh kinh tế, bởi vì họ đã có một phần nh là quỹ dự
phòng của mình giành riêng cho vấn đề chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt với những ngời
nghèo chẳng may mắc bệnh. Nh vậy BHYT ra đời có tác dụng khắc phục hậu quả và
kịp thời ổn định đợc cuộc sống cho ngời dân khi họ bị ốm đau, tạo cho họ một niềm
lạc quan trong cuộc sống, từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải vật
chất cho chính bản thân họ và sau đó là cho xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát triển
của xã hội.
+ Thứ ba: Bảo hiểm y tế ra đời còn góp phần giáo dục cho mọi ngời dân trong xã
hội về tính nhân đạo theo phơng châm: Lá lành đùm lá rách, đặc biệt là giúp giáo
dục cho trẻ em ngay từ khi còn nhỏ tuổi về tính cộng đồng thông qua loại hình BHYT
+ Thứ tám: Bảo hiểm y tế còn góp phần đổi mới cơ chế quản lý y tế, cụ thể:
- Để có một lực lợng lao động trong xã hội có thể lực và trí lực, không thể không
chăm sóc bà mẹ và trẻ em, không thể để ngời lao động làm việc trong điều kiện vệ
sinh không đảm bảo, môi trờng ô nhiễm... Vì thế việc chăm lo bảo vệ sức khoẻ là
nhiệm vụ của mỗi ngời, mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp và cũng là nhiệm vụ chung của
toàn xã hội. Đồng thời để đảm bảo cho mọi ngời lao động khi ốm đau đợc khám chữa
bệnh một cách thuận tiện, an toàn, chất lợng thì cần có mạng lới y tế đa dạng và rộng
khắp, có đội ngũ thầy thuốc giỏi và tận tâm với ngời bệnh, có cơ sở vật chất y tế đầy
đủ, hiện đại... Thông qua BHYT, mạng lới khám chữa bệnh sẽ đợc sắp xếp lại, sẽ
không còn phân tuyến theo địa giới hành chính một cách máy móc, mà phân theo
4
tuyến kỹ thuật, đảm bảo thuận lợi cho ngời bệnh, tạo điều kiện cho họ lựa chọn cơ sở
điều trị có chất lợng phù hợp.
- BHYT ra đời đòi hỏi ngời đợc sử dụng dịch vụ y tế và ngời cung cấp dịch vụ này
phải biết rõ chi phí của một lần khám chữa bệnh đã hợp lý cha, chi phí cho quá trình
vận hành bộ máy của khu vực khám chữa bệnh đã đảm bảo cha, những chi phí đó phải
đợc hạch toán và quỹ bảo hiểm phải đợc trang trải, thông qua tình hình đó đòi hỏi cơ
chế quản lý của ngành y tế phải đổi mới, để tạo ra chất lợng mới trong dịch vụ y tế.
Nh vậy, BHYT ra đời không những giúp cho ngời tham gia BHYT khắc phục khó
khăn về kinh tế khi rủi ro ốm đau xảy ra, mà còn giảm bớt gánh nặng cho ngân sách
Nhà nớc, góp phần đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lợng và công bằng trong
khám chữa bệnh.
II. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm y tế.
1. Sự ra đời và phát triển của BHYT ở một số nớc trên thế giới.
Bảo hiểm y tế là một bộ phận của chính sách xã hội đã đợc Chính phủ các nớc
quan tâm và ngời dân nhiệt tình hởng ứng. Cho đến nay hàng trăm nớc trên thế giới đã
thực hiện BHYT với nhiều hình thức, mức độ, phạm vi hoạt động khác nhau. Tuy vậy
về mục đích triển khai, BHYT là tơng đối thống nhất, đó là:
+ Nhằm chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho mọi ngời dân trong cộng đồng.
+ Giảm bớt phần nào khó khăn đối với những gia đình nghèo khó, thu nhập thấp
đợc phân thành 3 cấp:
- Quỹ BHYT trung ơng: đặt tại Paris (là cơ quan quản lý Nhà nớc), gồm có Hội
đồng quản lý và Ban quản lý.
- Quỹ BHYT địa phơng: tự hạch toán hoạt động nhng theo quy chế của Nhà nớc,
bao gồm: 16 quỹ khu vực (liên tỉnh).
129 quỹ cơ sở (cỡ tỉnh, thành).
4 quỹ BHYT hải ngoại (4 vùng hải đảo).
- Quỹ BHYT cơ sở.
Mỗi loại quỹ này đều phải tổ chức quản lý chặt chẽ dới sự điều hành của tiểu ban
BHYT và đợc hạch toán theo cơ chế cân đối thu chi.
Bảo hiểm y tế ơ Pháp cũng đợc thực hiện dới hai hình thức bắt buộc và tự nguyện.
Bắt buộc đối với ngời làm công ăn lơng. Cả hai loại đối tợng này khi đi khám chữa
bệnh và điều trị đều có quyền bình đẳng ngang nhau. Vấn đề thanh toán đợc thực hiện
theo phơng thức thực thanh, thực chi.
Nguồn thu BHYT của Pháp bao gồm:
- Ngời sử dụng lao động đóng góp 66% của quỹ BHYT.
6
- Ngời lao động đóng góp 29,5% của quỹ BHYT.
- Nhà nớc hỗ trợ 1,9% của quỹ BHYT.
- Các nguồn khác 2,6% của quỹ BHYT.
1.2. Bảo hiểm y tế ở Hàn Quốc.
Hàn Quốc đã xây dựng luật BHYT từ năm 1963. Lúc đầu Chính phủ Hàn Quốc áp
dụng chơng trình BHYT tự nguyện, nhng hầu nh không có ngời tham gia, dẫn đến luật
này bị vô hiệu hoá. Mãi đến năm 1976 Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng luật BHYT
mới dựa trên cơ sở BHYT bắt buộc. Từ tháng 7 năm 1977, theo luật mới này những
doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên tham gia đóng BHYT bắt buộc. Đến năm 1978
thì những doanh nghiệp có từ 5 lao động trở lên bắt buộc phải tham gia BHYT. Năm
1981 BHYT đợc mở rộng thí điểm đến cả những ngời lao động tự do, ở cả nông thôn
và thành thị.
Ngay từ khi thực hiện, Nhà nớc đã xác định và giao nhiệm vụ cho ngành y tế phải
nớc đã cắt, vì vậy những khoản này đã phải lấy vào quỹ.
- Cơ chế BHYT Hàn Quốc đợc sắp xếp nh sau:
BHYT do sự phối hợp giữa cơ quan là Bộ Y Tế và Bộ Lao Động - Xã Hội thực
hiện, tuy vậy vẫn có sự tài trợ của Nhà nớc về nhiều mặt, do đó thành lập Hội đồng
quản trị để đứng ra tổ chức quản lý, hội đồng này do Bộ y tế chủ trì.
Cơ sở khám chữa bệnh ở Hàn Quốc đợc Nhà nớc quy định thống nhất ở một số
nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Tổ chức khám chữa bệnh cho ngời có thẻ theo đúng Luật BHYT và Luật Dân
sự.
+ Tự nâng cấp cơ sở khám chữa bệnh của mình, đặc biệt là thời đầu mới thành lập
đợc Nhà nớc tài trợ thêm.
+ Thờng xuyên liên hệ giao dịch thanh toán trên cơ sở chứng từ hoá đơn do Bộ Tài
Chính quy định đối với cơ quan BHYT.
Cơ quan BHYT đợc Nhà nớc giao cho những nhiệm vụ sau:
+ T vấn cho Nhà nớc mà đại diện là Bộ y tế và Bộ lao động - Xã hội để hoàn thiện
đạo luật BHYT.
+ Tổ chức thực hiện luật BHYT một cách toàn diện và triệt để, bao gồm: thanh
tra, kiểm tra các cơ sở khám chữa bệnh; tổ chức bán bảo hiểm; giải quyết đơn th khiếu
nại của các bên; thanh quyết toán quỹ BHYT.
1.3. Bảo hiểm y tế ở Nhật Bản.
8
Bảo hiểm y tế ở Nhật Bản ra đời năm 1922, đến nay đã phát triển với hiệu quả đáp
ứng ngày càng cao nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. BHYT thực sự
góp phần làm tăng trởng kinh tế của Nhật Bản trong những năm của thập kỷ 80 và 90.
- Đối tợng tham gia BHYT.
+ BHYT bắt buộc với những ngời làm công ăn lơng tại các doanh nghiệp thờng
xuyên thuê ít nhất 5 ngời và những ngời làm việc cho các tổ chức cơ quan Nhà nớc,
đoàn thể xã hội; những ngời về hu đợc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ tại cac nghiệp
đoàn BHYT quản lý.
+ Đối tợng BHYT tự nguyện là những ngời không thuộc diện tham gia BHYT bắt
- Thông t 16/BYT-TT ngày 15/12/1992.
- Và một số thông t, chỉ thị khác.
Các văn bản pháp quy trên đã đánh dấu sự ra đời của BHYT tại Việt Nam. Sau
NĐ 299/HĐBT, đến cuối năm 1992, đã có 53 cơ quan BHYT bao gồm 51 cơ quan
BHYT tỉnh thành phố và BHYT Việt Nam, chi nhánh BHYT Việt Nam tại thành phố
Hồ Chí Minh đã đợc thành lập, còn 2 địa phơng Hải Phòng và Gia Lai đến tháng
4/1993 mới đợc thành lập cơ quan BHYT. Đến năm 1996 cả nớc có 59 cơ quan bao
gồm 53 tỉnh thành phố, 4 BHYT của các ngành: Dầu khí (1656/TCLĐ ngày 5/3/1993),
Cao su (6403/TCLĐ ngày 5/10/1993), Giao thông (7083/TCLĐ ngày 1/10/1993), Than
(1870/TCLĐ ngày 25/4/1994) cùng với BHYT Việt Nam và chi nhánh của BHYT tại
thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều BHYT tỉnh, thành phố đã xây dựng chi nhánh BHYT
tại các huyện và khu vực, những nơi BHYT tự nguyện phát triển đã có BHYT ở xã, ph-
ờng, cho đến nay cả nớc ta đã có 66 cơ quan BHYT.
Đi đối với sự phát triển của hệ thống BHYT là sự lớn mạnh không ngừng của đội
ngũ cán bộ ngành BHYT. Từ khi ra đời cho đến nay đã có trên 2000 cán bộ làm việc
trong hệ thống BHYT với tỷ lệ đợc đào tạo từ đại học trở lên chiếm hơn 50% trong
tổng số lao động đang tham gia làm việc ở hệ thống BHYT. Với sự lớn mạnh và phát
triển không ngừng, BHYT đã thực sự khẳng định đợc vai trò của mình trong giai đoạn
mới.
Trong giai đoạn đầu thực hiện điều lệ 299/HĐBT, Bộ y tế giao cho BHYT Việt
Nam chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện trong phạm vi toàn quốc. Ngoài chức năng
quản lý về chuyên môn nghiệp vụ đối với BHYT các tỉnh thành phố trực thuộc Trung -
ơng và các ngành đặc thù trong cả nớc, BHYT Việt Nam còn trực tiếp khai thác và
quản lý các cơ quan xí nghiệp thuộc Trung ơng đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh.
10
Qua sáu năm hoạt động (1992-1998), tuy thời gian cha dài song với kết quả và
hiệu quả đạt đợc đã góp phần khẳng định chính sách BHYT của Đảng và Nhà nớc là
đúng đắn và tiềm năng phát triển của BHYT là rất lớn. Theo số liệu thống kê ta thấy số
ngời tham gia BHYT ngày càng tăng qua các năm, cụ thể: năm 1993 có 3.799.000 ng-
số 58/1998/NĐ-CP và điều lệ mới về BHYT. Có thể nói Nghị định 58/CP đã đánh dấu
một bớc đổi mới quan trọng, nó đã giải quyết đợc những điều bất hợp lý trong thời
gian trớc đây, đồng thời hoà nhập vào quỹ đạo của nền kinh tế thị trờng mà vẫn giữ
vững và phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc.
Điều lệ BHYT mới ban hành kèm theo Nghị định số 58/CP có một số điểm mới
cơ bản so với điều lệ cũ ban hành kèm theo Nghị định 299/HĐBT, đó là:
+ Mở rộng các đối tợng tham gia BHYT.
+ Tăng cờng quyền lợi của ngời có thẻ BHYT.
+ Thực hiện ngời tham gia cùng chi trả 20% chi phí khám chữa bệnh điều này
giảm đợc phần nào gánh nặng cho quỹ BHYT, cúng nh nâng cao đợc ý thức của ngời
tham gia BHYT.
+ Tổ chức hệ thống theo ngành dọc, quản lý quý thống nhất trong toàn quốc.
+ Quy định chi tiết mức đóng, trách nhiệm đóng BHYT, chế độ BHYT quyền và
trách nhiệm của các bên tham gia.
+ Có những quy định pháp lý cơ bản đảm bảo cho việc triển khai thực hiện BHYT
tự nguyện.
Sau hơn 3 năm thực hiện theo Nghị định 58/CP BHYT đã thu đợc những kết quả
quan trọng, cụ thể:
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001
Tổng số ngời
tham gia (ngời)
9.660.525 10.500.000 12.500.000
Tổng thu phí
BHYT (triệu đ)
661.494 943.800 1.150.000
(Nguồn: Tạp trí BHYT + Chuyên đề Bảo hiểm tự chọn)
việt thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của BHYT, tham gia BHYT vừa có lợi cho mình,
vừa có lợi cho xã hội.
13
+ Việc triển khai BHYT liên quan chặt chẽ đến toàn bộ ngành y tế kể cả những y
bác sỹ, cơ sơ vật chất kỹ thuật, cơ chế hoạt động của ngành y tế. Bởi vì ngời tham gia
bảo hiểm đóng tiền BHYT cho cơ quan BHYT nhng cơ quan BHYT không trực tiếp
đứng ra tổ chức khám chữa bệnh cho ngời đợc BHYT khi họ không may gặp phải rủi
ro ốm đau bệnh tật mà cơ quan BHYT chỉ là trung gian thanh toán chi phí khám chữa
bệnh cho ngời tham gia thông qua hợp đồng khám chữa bệnh với các cơ sở y tế.
+ Bảo hiểm y tế góp phần cùng với các loại hình bảo hiểm con ngời khác khắc
phục nhanh tróng những hậu quả xảy ra đối với con ngời. Vì vậy nó luôn đợc Chính
phủ các nớc quan tâm.
+ Bảo hiểm y tế còn góp phần nâng cao chất lợng khám chữa bệnh và điều trị,
nâng cấp các cơ sở y tế, từ đó làm cho chất lợng phục vụ của ngành y tế không ngừng
đợc nâng cao. Trong khi nguồn ngân sách Nhà nớc đầu t cho y tế còn hạn hẹp thì việc
huy động các nguồn vốn khác bổ sung cho chi tiêu của ngành còn triển khai rất chậm
và thiếu đồng bộ. Việc thu viện phí chỉ thu đợc khối lợng rất ít song lại tạo rất nhiều
khe hở cho rất nhiều loại tiêu cực phát triển, dẫn đến một thực tế là trong khi bệnh
nhân phải tăng phí tổn khám chữa bệnh, đầu t ngân sách Nhà nớc không hề bị giảm
bớt mà bệnh viện vẫn xuống cấp. Bên canh đó, việc khai thác các nguồn đóng góp của
nhân dân, của các tổ chức kinh tế, nguồn viện trợ trực tiếp chậm đợc thể chế hoá và ch-
a đợc hoà chung vào ngân sách y tế làm hạn chế việc phát huy các nguồn vốn quan
trọng này. Do đó khi thực hiện, BHYT sẽ tạo ra một nguồn kinh phí hỗ trợ cho ngành
y tế nhằm góp phần nâng cao chất lợng khám chữa bệnh và điều trị, nâng cấp các cơ sở
y tế, làm cho chất lợng phục vụ của ngành y tế ngày càng tốt hơn, đáp ứng đợc nhu cầu
về chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong giai đoạn hiện nay, cũng nh quá trình xã hội hoá
công tác chăm sóc sức khẻo trong tơng lai.
2. Tổ chức của hệ thống BHYT Việt Nam.
Hệ thống BHYT Việt Nam, hiểu theo nghĩa rộng là một hệ thống các mối quan hệ
ba bên: tổ chức BHYT, ngời tham gia BHYT và cơ sở khám chữa bệnh theo hợp đồng
Cơ sở khám chữa bệnh
3.1. Đối tợng của BHYT.
BHYT có hai hình thức chủ yếu là: BHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc.
3.1.1. BHYT bắt buộc:
Theo điều lệ BHYT kèm theo Nghị định 58/1998/CP của Chính phủ 13/8/1998
ban hành sửa đổi một số điều lệ BHYT ban hành theo Nghị định 2999/1992/HĐBT của
Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) đối tợng của BHYT đợc quy định nh sau:
a. Ngời sử dụng lao động, ngời lao động Việt Nam trong danh sách lao động th-
ờng xuyên, lao động từ 3 tháng trở lên làm việc trong:
+ Các doanh nghiệp Nhà nớc, kể cả các doanh nghiệp thuộc lực lợng vũ trang.
+ Các tổ chức kinh tế thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn
thể, tổ chức chính trị - xã hội.
+ Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp tập
trung, các cơ quan, tổ chức nớc ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trờng hợp các
điều ớc Quốc tế mà nớc ta tham gia ký kết hoặc quy định khác.
+ Các đơn vị, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên.
b. Cán bộ, công chức và ngời lao động làm việc trong các cơ quan hành chính sự
nghiệp, cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, hội đoàn thể quần chúng hởng l-
ơng từ ngân sách Nhà nớc kể cả ngời trong thời gian tập sự và ngời có hợp đồng lao
động thờng xuyên từ 3 tháng trở lên. Riêng đối với cán bộ sự nghiệp ở xã đợc thực
hiện theo quy định hiện hành của Nhà nớc.
c. Cán bộ hởng sinh hoạt phí hàng tháng tại xã phờng, thị trấn theo quy định tại
Nghị định số 09/1998/NĐ-CP, ngày 23/01/1998 của Chính phủ bao gồm:
+ Bí th, Phó bí th Đảng uỷ xã (Bí th, Phó bí th chi bộ xã ở những nơi cha có Đảng
bộ).
+ Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, Phó Chủ tịch UBND xã, Chủ tịch Mặt trận, Tr-
ởng các đoàn thể nhân dân xã (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh), Chỉ huy trởng Ban chỉ huy quân sự xã, Trởng
công an xã.
+ Uỷ viên UBND xã.
Bảo hiểm y tế tự nguyện là một trong hai hình thức BHYT đợc Chính phủ cho
phép triển khai và tổ chức thực hiện trong phạm vi toàn quốc. BHYT tự nguyện áp
dụng cho tất cả các đối tợng ngoài những đối tợng BHYT bắt buộc, kể cả ngời nớc
17
ngoài đến làm việc và học tập, du lịch tại Việt Nam. Nh vậy, đối tợng của BHYT tự
nguyện có số lợng rất đông đảo, đa dạng về thành phần và nhận thức xã hội, có điều
kiện kinh tế và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ khác nhau.
Hiện nay BHYT Việt Nam đang thực hiện BHYT tự nguyện cho những đối tợng
sau:
+ BHYT tự nguyện cho học sinh - sinh viên đang học các trờng quốc lập, dân lập
bán công từ bậc Tiểu học đến bậc Đại học, trừ các đối tợng thuộc diện chính sách u đãi
xã hội của Nhà nớc, đã đợc Nhà nớc cấp thẻ BHYT nh: các học sinh - sinh viên đã đợc
cấp thẻ T8 (cho ngời nghèo) và các đối tợng đã có thẻ BHYT nhân đạo.
+ Đối tợng là ngời nông dân.
+ Đối tợng là ngời nghèo.
Ngời thuộc diện quá nghèo đợc miễn nộp một phần viện phí quy định tại Nghị
định 95/CP ngày 24/08/1994 của Chính phủ. Việc xác định hộ đói, nghèo đợc áp dụng
thống nhất theo chuẩn mực của Nhà nớc công bố theo từng thời kỳ. Ngời thuộc diện
quá nghèo đợc cấp thẻ BHYT thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh.
Trong tháng 12/2001, BHYT Hà nội đã chính tổ chức thí điểm BHYT toàn dân ở
huyện Sóc Sơn. Điều này đã thực sự mở rộng đối tợng tham gia tự nguyện và nếu ch-
ơng trình này thành công thì nó sẽ là cơ sở để nhân rộng mô hình ra cả nớc. Từ đó sự
nghiệp chăm sóc sức khoẻ của nhân dân ngày càng đợc phục vụ tốt hơn.
3.2. Phạm vi Bảo hiểm y tế.
a. ngời có thẻ BHYT bắt buộc đợc hởng chế độ BHYT khi khám chữa bệnh ngoại
trú và nội trú gồm:
+ Khám bệnh, chuẩn đoán và điều trị.
+ Xét nghiệm, chiếu chụp X-quang, thăm dò chức năng.
+ Thuốc trong danh mục của Bộ y tế.
+ Máu, dịch truyền.
4. Mức đóng và phơng thức đóng BHYT.
4.1. Mức phí Bảo hiểm y tế.
Phí BHYT là một khoản tiền mà ngời tham gia BHYT đóng cho cơ quan BHYT
trên cơ sở tổng quỹ lơng hàng tháng, nhờ đó cơ quan BHYT sẽ đứng ra thanh toán các
khoản chi phí BHYT cho ngời tham gia khi họ gặp phải những rủi ro ốm đau, bệnh tật.
Phí BHYT có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp y tế, nó là nguồn hình thành chính
cho quỹ BHYT, quỹ khám chữa bệnh, từ đó cơ quan BHYT có thể trợ cấp, chi trả cho
ngời tham gia khi họ gặp rủi ro ốm đau, bệnh tật. Nó là cơ sở để thực hiện công bằng
19