HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
MÔN HỌC: Phân tích tài chính doanh nghiệp
Đề Tài: Phân tích môi trường ngành và chiến lược cạnh tranh của Công ty
TNHH thương mại và dịch vụ Tân Hiệp Phát.
Nhóm thực hiện : 1.Phạm Thị Thu.
2.Nguyễn Thị Phương.
3.Luyện Anh Thư.
4.Tạ Thị Phương.
Hà Nội, Năm 2014
PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TÂN HIỆP PHÁT .
I)Lịch sử công ty Tân Hiệp Phát:
Được thành lập từ năm 1994 với tiền thân là nhà máy bia Bến Thành, Tân
Hiệp Phát (THP) đã vươn vai trở thành tập đoàn nước giải khát hùng mạnh với
những dòng sản phẩm có lợi cho sức khoẻ. Tân Hiệp Phát là doanh nghiệp tiên
phong trong việc thay đổi thói quen giải khát của người dân Việt Nam: thân
thiện hơn với thức uống đóng chai có lợi cho sức khỏe.
Trụ sở chính tọa lạc tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, có quy mô nhà máy
sản xuất rộng hơn 110.000m2, với các thiết bị, dây chuyền công nghệ nghiên
cứu và sản xuất hiện đại bậc nhất Đông Nam Á.Công ty TNHH TM-DV Tân
Hiệp Phát là thành viên của Hiệp hội rượu bia và nướcgiải khát Việt Nam. Định
hướng phát triển của công ty là “Hôm nay phải hơn ngày hôm qua nhưng không
bằng ngày mai” cùng với phương châm “thỏa mãn cao nhất mọi nhu cầu hiện có
và tiềm ẩn của khách hàng”. Định hướng trên được xem là kim chỉ nam cho mọi
hoạt động của tập đoàn và cũng chính là động lực để vươn lên đến hoài bão đưa
công ty TNHH TM- DV Tân Hiệp Phát trở thành tập đoàn cung cấp thức uống
tầm cỡ châu Á.
Từ khi thành lập đến nay, với gần 20 năm hoạt động kinh doanh, sản xuất,
phục vụ các tầng lớp người tiêu dùng,Công ty TNHH TM-DV Tân Hiệp Phát đã
được khách hàng tin cậy và đánh giá cao chất lượng sản phẩm và phong cách
phục vụ. Công ty là đơn vị đạt liên tục 11 năm liền (từ 1999 – 2009) danh hiệu
“Hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn”, do báo Sài Gòn
không ngừng đầu tư phát triển hệ thống dây chuyền sản xuất, hiện đại hóa kỹ
thuật công nghệ, và tự hào là một trong những đơn vị trong nước sở hữu nhiều
công nghệ sản xuất, dây chuyền hiện đại bậc nhất như dây chuyền chiết lạnh vô
trùng Aseptic, dây chuyền công nghệ châu Âu, Nhật Bản. Thêm đó, Tân Hiệp
Phát có được đội ngũ 4000 cán bộ, nhân viên có chuyên môn, được đào tạo bài
bản trong và ngoài nước, có kinh nghiệm, nhiệt tình, tâm huyết vì sự phát triển
của công ty.
Hiện nay, Tân Hiệp Phát đã trở thành một trong những tập đoàn lớn nhất Việt
Nam với doanh thu tăng trưởng hàng năm ở mức hàng nghìn tỉ đồng, sản lượng
tăng trưởng bình quân từ năm 2007 đến năm 2013 là 40%, luôn dẫn đầu trên thị
trường nước giải khát trong nước và vươn tầm thế giới.
II)PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG NGÀNH.
2.1 Đối thủ cạnh tranh.
• Thị trường bia
Thị trường bia Việt nam hiện nay khá đa dạng và sự cạnh tranh
cũng không kém phần gay gắt so với nhiều thị trường khác.Bên cạnh
những ông lớn như Heineken,Tiger của nước ngoài thì thị trường Việt
nam cũng được chiếm lĩnh bởi những đối thủ nặng cân như công ty bia
Hà Nội, Sabeco, công ty bia Đông nam Á….Chúng ta sẽ phân tích một số
đối thủ trực tiếp quan trọng nhất của Tân Hiệp Phát:
1.Tổng công ty bia rượu,nước giải khát Sài Gòn(SABECO):
Sabeco là đơn vị hàng đầu trong việc xây dựng chính sách xây
dựng và phát triển thị trường, hệ thống phân phối trong lĩnh vực kinh
doanh sản phẩm Bia của Việt Nam với sản lượng tiêu thụ chiếm giữ trên
35% thị phần.
Danh hiệu “Thương hiệu tín nhiệm" Bia Sài Gòn trong 22 năm. Sản phẩm
Bia Sài Gòn - Hàng Việt Nam chất lượng cao, được người tiêu dùng bình
chọn liên tục trong 12 năm từ 1997 – 2008. Sản phẩm Bia lon 333 đạt
Huy Chương Bạc tại cuộc thi bình chọn Bia quốc tế tổ chức tại
AUSTRALIA năm 1999, 2000 và 2001. Có hệ thống phân phối rộng
công ty đang chiếm thị phần lớn về nước giải khát có ga,nước uống tăng
lực và nước ép trái cây tại Việt nam.Giá cả của các sản phẩm pepsi tương
đối hợp lý với chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Một loại nước trái cây của Pepsi, Twister, cũng thành công trong
việc tăng thị phần, đứng thứ 7 trong các nhãn hiệu FMCG phát triển
nhanh nhất năm 2007.Nước tăng lực Sting – nhãn hiệu nước ngoài phát
triển nhanh nhất tại Việt Nam chỉ đứng thứ tư về tăng trưởng thị phần
trong năm 2007. Sting của PepsiCo tăng thêm 8% thị phần năm 2007.
Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng này đưa Sting đứng đầu về nước uống tăng
lực với thị phần tăng hơn 40% ở đô thị Việt Nam.
2. Công ty Tribeco:
Năm 2007 đã đánh dấu sự khởi đầu chiến lược Bắc tiến của
Tribeco với tham vọng trở thành tổ hợp kinh tế hàng đầu tại Việt Nam và
thị trường khu vực về ngành đồ uống. Tribeco có nguồn vốn đầu tư lớn
(Kinh Đô mua 20% cổ phần của Tribeco), đa dạng hoá lĩnh vực sản xuất
kinh doanh và điểm quan trọng là thừa hưởng hệ thống phân phối đang
hoạt động có hiệu quả của Kinh Đô với hơn 200 nhà phân phối, gần
200.000 đại lý và các điểm bán lẻ trên toàn quốc.hiện nay.
Tribeco liên tục đầu tư thiết bị công nghệ (ví dụ như: sản phẩm sữa
đậu nành bao bì bịch, hộp giấy được sản xuất bằng thiết bị Tetra Pak của
Thụy Điển và xử lý tiệt trùng theo công nghệ UHT-công nghệ tiên tiến
hiện nay, bảo toàn được các thành phần dinh dưỡng, các vitamin cũng
như hương vị thiên nhiên đặc trưng của sản phẩm; dây chuyền sản xuất
sữa đậu nành chai do Mỹ sản xuất, hiện đã khai thác được 85% công suất;
dây chuyền sản xuất nước ngọt đóng lon 330 ml là thiết bị nhập từ Mỹ tự
động hóa 100%, hiện khai thác được 82% công suất ) Chính vì vậy,
Tribeco đã nâng cao năng lực cạnh tranh, đến nay sản phẩm của Cty đã có
46 chủng loại sản phẩm nước giải khát có gas và không gas đóng trong
các loại bao bì: chai thủy tinh, lon, hộp, bịch, PET, của các dòng nhãn
hiệu Tribeco - Somilk - Trio – Trimilk.Giá cả các sản phẩm này ở mức
thị
• Thị trường quốc tế: khách hàng nước ngoài - người tiêu dùng,
nhà phân phối, đối tác nước ngoài.
Áp lực từ khách hàng và nhà phân phối được thể hiện ở những
điểm sau:
• Vị thế mặc cả: do đặc điểm của ngành có nhiều nhà sản xuất,
cung cấp các sản phẩm về nước giải khát, chủng loại nước giải
khát đa dạng, phong phú do đó khách hàng có nhiều lựa chọn và
có thể so sánh sản phẩm cùng loại của nhiều công ty khác để từ
đó tạo áp lực về giá đối với công ty.
• Số lượng KH:
- Mua lẻ mua tiêu dùng: càng đông thì càng có lợi cho DN do
có thể tiêu thụ nhiều sản phẩm, tốn ít chi phí trong tiêu thụ
hơn, sản phẩm nhanh được biết đến.
- Nhà phân phối: Muốn thắng trong cuộc chiến giành thị phần
DN phải kéo người tiêu dùng về phía mình. Hệ thống các cửa
hàng, mạng lưới kinh doanh, kênh phân phối chính là các căn
cứ điểm của nhà sản xuất trong cuộc chiến giành thị trường;
các khách hàng trực tiếp này có khả năng tác động đến quyết
định mua hàng của người tiêu dùng. Do đó, yêu cầu đặt ra là
cần phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác để có được
những điểm phân phối chiến lược thông qua các chính sách
chiết khấu và hoa hồng cho đại lý bán lẻ. Có thể thấy, nhà
phân phối có thể coi là yếu tố sống còn đối với sự thành công
của một sản phẩm mới. Cùng là sản phẩm của THP nhưng bia
tươi LASER khi tung ra do chưa chuẩn bị kênh phân phối nên
đã thất bại, trong khi nước tăng lực Number 1, trà xanh không
độ …thì có thể nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường nhờ nắm
được hệ thống kênh phân phối trong cả nước.
• Độ nhạy cảm về giá: Với đời sống và mức thu nhập ngày một
càng thông thái hơn và đòi hỏi về các chỉ tiêu an toàn, tiêu chuẩn
chất lượng đối với sản phẩm cũng ngày càng cao hơn. Khách
hàng phản ứng rất nhạy cảm với các thông tin liên quan đến vệ
sinh an toàn thực phẩm và luôn sẵn sàng chuyển sang tiêu dùng
các sản phẩm thay thế nếu không tin tưởng vào sản phẩm cũ.
Khách hàng cũng ưu tiên lựa chọn các thương hiệu quen thuộc,
có uy tín và được quảng cáo nhiều. Hiệp hội người tiêu dùng, tổ
chức bảo vệ người tiêu dùng, Cục vệ sinh an toàn thực phẩm, bộ
tài nguyên môi trường, bộ văn hóa thông tin…sẽ tạo ra áp lực lớn
cho doanh nghiệp trong việc yêu cầu làm rõ, giải thích, sửa chữa,
khắc phục, chịu trách nhiệm trước pháp luật. Việc xây dựng uy
tín thương hiệu dựa trên chất lượng và độ an toàn của sản phẩm
có thể khá tốn kém, nhưng nó mang lại lợi ích lâu dài và bền
vững cho doanh nghiệp, đặc biệt là vị trí trong tâm trí người tiêu
dùng.
• Thông tin của khách hàng về sản phẩm: khách hàng nắm rõ thông
tin về sản phẩm thì sẽ tạo ra áp lực mặc cả lớn đối với doanh
nghiệp,đặc biệt là các nhà phân phối.( khi kh biết càng nhiều
thong tin về sản phẩm thì họ sẽ càng có niềm tin hơn khi lựa chọn
sản phẩm , vậy nên việc doanh nghiệp chú trọng trong việc cung
cấp thông tin một cách đầy đủ, đa dạng tới khách hàng cũng có
thể trở thành lợi thế của doanh nghiệp )
2.3.Nhà cung cấp.
Nhà cung ứng là những tổ chức cung cấp sản phẩm,nguyên vật liệu và
dịch vụ đầu
vào cho doanh nghiệp để doanh nghiệp đảm bảo thực hiện được các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Nhà cung ứng cung cấp vật tư đầu vào cho quá trình sản xuất kinh
doanh nên có tầm ảnh hưởng khá lớn đến doanh nghiệp. Chất lượng, giá
thành của vật tư ảnh hưởng tới chất lượng và giá của sản phẩm. Chính vì vậy
thường xuyên giá cả và nguồn cung ứng nguyên vật liệu nhằm ổn định đầu
vào cho sản xuất.
Yếu tố tiếp theo ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp là chất lượng
nguyên vật liệu đầu vào. Có thể nói chất lượng nguyên vật liệu đầu vào tốt
thì mới thuận lợi cho việc sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm. Chất lượng
nguyên vật liệu đầu vào càng tốt thì sản phẩm sản xuất ra càng có chất lượng
cao, tạo ra sức cạnh tranh của các mặt hàng công ty sản xuất ra và tạo lợi thế
cạnh tranh cho Tân Hiệp Phát. Từ đó tạo được thương hiệu cho Tân Hiệp
Phát. Chính vì lý do này mà tất cả các nguyên vật liệu mà công ty nhập mua
đều là của các nhà cung ứng có uy tín và chất lượng nguyên vật liệu cao.
Mặc dù Tân Hiệp Phát có mua nguyên vật liệu của các công ty trong nước
nhưng phần lớn là nhập khẩu từ nước ngoài, khiến chi phí vận chuyển tăng
cao. Đây là 1 điều bất lợi đối với THP. Chi phí cao dẫn đến giá thành và giá
cả của sản phẩm cũng cao, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm. Nhưng có
thể thấy rằng THP hoàn toàn chưa chủ động trong vấn đề nguyên liệu đầu
vào mà hoàn toàn là thu mua trên thị trường cũng như nhập khẩu từ nước
ngoài do đó chi phí cao( chi phí thu mua, vận chuyển ), chất lượng có thể
không ổn định, mang tính thời vụ, thời tiết và có thể chịu áp lực về giá của
nhà cung cấp, thụ động trong khâu sản xuất.
2.3.Sản phẩm thay thế.
Sản phẩm thay thế là sản phẩm có thể sử dụng thay thế nhau trong việc
thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người. Trong trường hợp nghiên cứu
công ty Tân Hiệp Phát ta nhấn mạnh đến nhu cầu giải khát.
Trên thị trường hiện nay, có hơn 3000 sản phẩm đồ uống. Vì thế, khả
năng thay thế cho những sản phẩm của THP là rất lớn. Ngoài các sản phẩm
có trong danh mục cạnh tranh trực tiếp( sản phẩm đồ uống, nước uống không
gas), còn có các sản phẩm thay thế đặc trưng:
• Nước tinh khiết, nước khoáng đóng chai.
• Các loại nước có gas.
• Các loại thức uống giải khát khác.
hưởng dẫn đến các bệnh liên quan đến tim mạch, béo phì ), vì thế thị trường
nước uống không gas đang ngày càng áp đảo các loại nước có gas. Cụ
thể, năm 2007, các loại nước uống có gas chiếm 20,46% trong cơ cấu sản
phẩm nước giải khát thì đến nay đã giảm còn 18% và nước uống không có
gas tăng từ 5,93% lên 7,76%; nước hoa quả các loại tăng từ 5,20% lên
6,97%. Hai loại nước này dự kiến sẽ còn tăng mạnh và đến năm 2015 sẽ
chiếm trên 16% trong cơ cấu sản xuất nước giải khát, còn nước uống có gas
cùng thời điểm này giảm xuống dưới 16%. Trong tương lai, khả năng thay
thế của các sản phẩm đồ uống không gas cho các sản phẩm đồ uống có gas,
mặc dù không thể toàn bộ, hoàn toàn nhưng chắc chắn hứa hẹn một tiềm
năng phát triển vượt bậc của sản phẩm đồ uống không gas, bổ sung dinh
dưỡng, thiết yếu cần thiết cho con người. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng
định rằng, sản phẩm nước uống đóng chai, không gas dù có tốt, bổ sung dinh
dưỡng thiết yếu thì cũng không thể so với các sản phẩm dùng tự nhiên, tự
chế biến( nước sinh tố, hoa quả ), và cũng có thể thấy, hầu hết các sản phẩm
nước uống đóng chai, nước giải khát hiện có trên thị trường nói chung và của
THP nói riêng đang bỏ qua một thị trường tiềm năng- tập trung vào đối
tượng khách hàng tiềm năng- trẻ sơ sinh, có thể nhận thấy rõ ngoài các sản
phẩm sữa thì chưa có một sản phẩm nước giải khát đóng chai nào đánh vào
thị trường này.
Như vậy có thể thấy áp lực cạnh tranh của từ sản phẩm thay thế trong
ngành nước giải khát là tương đối lớn. Áp lực về sản phẩm thay thế có thể
làm giảm thị phần của doanh nghiệp trên thị trường. Mặt khác, đặc điểm từ
các sản phẩm thay thế là bất ngờ và không thể dự báo trước được, nên mặc
dù đang ở vị trí tương đối cao nhưng ngành nước giải khát vẫn phải đối mặt
với các áp lực sản phẩm thay thế nên cần phải có sự cố gắng trong việc cải
tiến sản phẩm của mình cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.
2.4.Đối thủ tiềm ẩn.
Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:
• Sức hấp dẫn của ngành nước giải khát:
nghiệp sản xuất. Hơn nữa, đây cũng là ngành đòi hỏi chi phí về nghiên
cứu, phát triển cao bởi tính đa dạng của các sản phẩm giải khát, đồ
uống trên thị trường, một sản phẩm mới gia nhập sẽ không thể thu hút,
đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng nếu vẫn chỉ cung cấp
những tính năng, công dụng, giá trị như các sản phẩm cũ, đã tồn tại
trên thị trường và nằm trong danh sách tiêu dùng quen thuộc của
người tiêu dùng, chỉ khi cung cấp những sản phẩm với đặc điểm, tính
năng mới phù hợp, đáp ứng, kích thích nhu cầu của những người tiêu
dùng từ khó tính nhất mới có thể tồn tại và phát triển. Và tất nhiên,
yếu tố khoa học, công nghệ là điều không thể thiếu.
Sức mạnh cạnh tranh : thị trường nước giải khát Việt nam hiện nay
khá hấp dẫn,thu hút sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn trong và
ngoài nước, họ đều có một thị phần, tiếng nói nhất định trên thị
trường. Do đó, các đối thủ mới muốn gia nhập phải đầu tư mạnh mẽ
để thay đổi sự trung thành của các khách hàng hiện tại. Hơn nữa, một
đặc điểm của ngành nước giải khát Việt Nam hiện nay đó là các doanh
nghiệp có được lợi thế nhờ quy mô có nghĩa là những doanh nghiệp
lâu đời với quy mô, thị trường lớn cùng với việc đa dạng hóa sản
phẩm, họ có khả năng giảm thiểu chi phí, giảm giá cả và tăng doanh
thu; điều đó có thể gây áp lực đối với các doanh nghiệp mới gia nhập
ngành đặc biệt trong áp lực về giá và như vậy là khả năng chống chọi
sẽ là không cao khi mà quy mô về vốn và công nghệ của họ chưa thực
sự lớn, và bởi người tiêu dùng cũng cần phải có thời gian để đánh giá
về chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp do đó nếu sản phẩm của
doanh nghiệp không đủ mới tức là không có tính năng nổi trội thì rất
khó cạnh tranh.
Tuy nhiên, phải kể đến, hiện nay, có rất nhiều công ty giải khát ở Hàn
Quốc, Nhật Bản muốn xâm nhập thị trường Việt Nam. So với công ty
giải khát Việt Nam, họ có ưu thế về vốn, về công nghệ và tính truyền
thống độc đáo. Do đó, sự xâm nhập thị trường của họ sẽ gây ảnh
hoá sản phẩm, không thể không kể đến sự thành công nhờ chiến lược Marketing
hiệu quả của Tân Hiệp Phát .
1.Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm .
Đầu tiên xin kể đến chiến lược đa dạng hóa sản phẩm , Tân hiệp phát đã kết hợp
nhuần nhuyễn giữa các chiến lược trong quá trình đa dạng hóa sản phẩm của
mình đó là : Đa dạng hóa đồng tâm (sản phẩm mới có cùng công nghệ với sản
phẩm cũ) , Đa dạng hóa ngang( sản phẩm khác nhưng trong cũng lĩnh vực với
sản phẩm cũ), đa dạng hóa hỗn hợp( sản phẩm mới trong lĩnh vực mới )
Qua nhiều năm nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu của thị trường Tân Hiệp Phát
liên tục đưa ra các sản phẩm nhiều loại khác nhau chủ yếu tập trung vào thị
trường giải khát
Tiền thân là nhà máy bia dần dần Tân Hiệp Phát đã đầu tư dây chuyền để sản
xuất các loại đồ uống giải khát khác nhau, quá trình phát triển:
- Năm 1994: Hình thành phân xưởng nước giải khát Bến Thành sản xuất
nước ngọt,đồ uống có gas .Bia ‘Bến Thành “ luôn đạt ‘Hàng Việt Nam
chất lượng cao ‘ cho đến nay.
- Năm 1995 : hình thành phân xưởng sản xuất sữa đậu nành đóng chai
220ml để bán lẻ tại chỗ và phân phối cho các đại lý.
- Năm 1996: đầu tư dây chuyền công nghệ sản xuất bia tươi của Đức và
cho ra đời bia tươi Flash được người tiêu dùng ưa chuộng.
- Năm 1999: Tân Hiệp Phát đổi tên xưởng giải khát Bến Thành thành Nhà
máy nước giải khát Bến Thành sản xuất bia tươi, bia chai, bia hơi,sữa đậu
nành .
- Năm 2001: Đầu tư công nghệ sản xuất , đưa ra sản phẩm mới nước tăng
lực number One đóng chai đầu tiên ở Việt Nam , đã giành được thị phần
rất lớn chỉ sau mấy tháng tung ra sản phẩm .Chính nhờ vào sự khác biệt
về sản phẩm cũng như chinh phục khách hàng bằng chất lượng và giá cả.
- Năm 2003: không chỉ dừng lại với dòng sản phẩm Number One mà Tân
Hiệp Phát đầu tư thiết bị hiện đại nhất Châu Âu để sản xuất bia tươi Laser
là sản phẩm bia tươi đóng chai lần đầu tiên được sản xuất ở Việt Nam. Và
niên ,cao tuổi,trong khi các sản phẩm Trà xanh không độ đang dần bão
hòa.Như vậy doanh nghiệp luôn đặt chiến lược đa dạng hoá sản phẩm ở
tầm quan trọng, liên tục cải tiến các dòng sản phẩm để phù hợp với nhu
cầu của người tiêu dùng.Cũng chính nhờ vào chiến lược khác biệt hoá sản
phẩm đã giúp doanh nghiệp là đơn vị tiên phong trong đồ uống đóng
chai,cũng như nước uống không ga ,có nguồn gốc thiên nhiên tốt cho sức
khoẻ …tạo được vị thế trong lòng người tiêu dùng.
Tân hiệp Phát đầu tư xây dựng phòng nghiên cứu phát triển sản phẩm
mới, điều này đã giúp tập đoàn trở thành một đơn vị tiên phong trên thị
trường với việc dẫn đầu về mẫu mã, giá cả, chất lượng tốt .Doanh nghiệp
cũng tận dụng lợi thế về công nghệ ngoài việc nâng cao chất lượng sản
phẩm còn đưa ra mẫu bao bì đóp gói đẹp mắt.
2.Chiến lược Marketing .
Trong môi trường kinh doanh đầy tính cạnh tranh như hiện nay, các doanh
nghiệp luôn đứng trước những khó khăn và thách thức lớn. Một trong những
yêu cầu cốt yếu của doanh nghiệp để khẳng định vị thế của mình là phải có
chiến lược marketing nhằm quảng bá sản phẩm đáp ứng yêu cầu của người tiêu
dùng. Chiến lược marketing hiệu quả hay không có ý nghĩa quan trọng đến sự
phát triển của doanh nghiệp.
Tập đoàn Tân Hiệp Phát là một trong những doanh nghiệp tiêu biểu thành
công trong chiến lược marketing.Và chìa khóa cho sự thành công ấy chính là
chiến lược tập trung.Nhà lãnh đạo marketing sẽ nhận ra rằng họ không thể làm
được tất cả mọi thứ cho khách hàng và người tiêu dùng.Nên định hướng của
Tân Hiệp Phát là việc cần lựa chọn ra cái gì là quan trọng nhất, bởi các nguyên
nhân:
1. Nguồn lực thì có hạn trong khi đó quá nhiều việc muốn làm. Trong thời
kỳ bất ổn như hiện nay, chúng ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều hạn chế về
nguồn lực và chúng ta phải chọn lựa cái nào chúng ta có thể làm tốt.
2. Việc triển khai thực hiện sẽ tốt hơn nếu chúng ta biết tập trung vào những
mục tiêu thiết yếu, biết cái gì thực sự cần đối với doanh nghiệp của chúng
Number 1 bổ sung năng lượng cần thiết cho cơ thể, có hương vị độc đáo, bổ
dưỡng, mới lạ, mang đến cảm giác thú vị sảng khoái cho người sử dụng. Đây
chính là ưu điểm vượt trội của number 1 so với các loại nước tăng lực khác.
Number 1 là sản phẩm tiên phong cho loại nước ngọt đóng chai đầu tiên . Điều
này kích thích tính tò mò muốn tìm hiểu và sử dụng sản phẩm của người tiêu
dùng. Mặt khác phần lớn người tiêu dùng Việt Nam là giới trẻ, họ thường có
khuynh hướng thưởng thức sản phẩm tại chỗ và thưởng thức với đá mà điều này
dường như chỉ có Number 1 làm được lúc bấy giờ. Đồng thời khi tung ra một
sản phẩm thức uống bổ dưỡng đóng chai là một thách thức lớn đối với các
doanh nghiệp trong nước bị hạn chế về nguồn lực tài chính và công nghệ.
Nhưng THP đã táo bạo đầu tư vào đó trên cơ sở thẩm định đúng đắn thực trạng
môi trường marketing ở khu vực Asian và Việt Nam, đặc biệt là tìm hiểu nhu
cầu của khách hàng. Do đó Number 1 nhanh chóng khẳng định thương hiệu và
chiếm lĩnh thị trường.
Trà xanh 0 độ
Sản phẩm trà xanh gần gũi với người tiêu dùng Việt Nam nhưng độc đáo vì
được đóng chai được sản xuất trong điều kiện đặc biệt để giữ lại các chất bổ
dưỡng có lợi cho cơ thể ,sản phẩm được đầu tư kỹ càng từ việc lựa chọn tên
thương hiệu kiểu dáng bao bì : màu xanh lá cây tạo cảm giác gắn kết với thiên
nhiên, và sử dụng Number One là thương hiệu bảo trợ . Trà Xanh không độ với
phân khúc đánh vào khách hàng trung niên và người cao tuổi nhưng sản phẩm
lại có vị quá ngọt không phù hợp với khẩu vị của khách hàng mục tiêu . Do đó
Tân Hiệp phát đã có sự cải tiến và đưa ra sản phẩm Trà xanh không độ ít đường,
vị ngon không đổi.
Trà thảo mộc Dr.Thanh nổi tiếng là : “ Trà thảo mộc thanh lọc cơ thể không lo
bị nóng” đáp ứng sự thay đổi trong phong cách sống ngày càng mang tính di
động và nhu cầu ngày càng lớn đối với các sản phẩm có lợi cho sức khoẻ .
Bao bì nhựa, màu đỏ tươi tắn với chữ DR.Thanh đen tạo cảm giác thanh khiết,
mát mẻ. Tên Dr.Thanh cũng nói lên tính năng của sản phẩm là giúp “Thanh lọc
cơ thể” và cũng là tên của người sáng lập công ty cho thấy được tham vọng đưa
giải pháp quản lý kênh phân phối trên nền tảng Acumatica cho hơn 200 nhà
phân phối và 1.600 nhân viên bán hàng trên khắp cả nước. Hệ thống đã được
đưa vào hoạt động từ tháng 9/2013. Điểm nổi bật trong các giải pháp của
Acumatica là hỗ trợ không giới hạn số lượng người dùng, điều này cho phép
Tân Hiệp Phát dễ dàng mở rộng mạng lưới các nhà phân phối của mình mà
không phải lo lắng về các khoản đầu tư vào bản quyền phần mềm phát sinh.
Ông Peter Phạm - cố vấn kỹ thuật của DMSpro khẳng định: Nền tảng công nghệ
dễ tương thích của giải pháp Acumatica sẽ mang lại nhiều lợi thế giúp Tân Hiệp
Phát tăng thêm khả năng cạnh tranh của mình.
4, Chiêu thị
THP chú trọng vào các khâu quảng cáo, marketing, tiếp thị… để đảm bảo cung
cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm cho người tiêu dùng.Mỗi khi tung ra sản
phẩm mới THP lựa chọn giải pháp truyền thông bùng nổ với quảng cáo truyền
hình, báo chí, PR, …ngoài ra còn có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp thường
xuyên có chính sách hỗ trợ bán hàng , các hình thức khuyến mãi, đồng thời
tham gia các hoạt động xã hội để tiếp cận khách hàng tạo ấn tượng trong trí nhớ
người tiêu dùng.Với mỗi dòng sản phẩm doanh nghiệp có các chính sách khác
nhau một cách linh hoạt. Tiếp thị trực tuyến bằng các công cụ như: e-mail, hiển
thị quảng cáo trong kết quả tìm kiếm trực tuyến… được THP khai thác triệt để
như một công cụ kết nối giới trẻ rất thành công.
Lần đầu tiên ra mắt công chúng number 1 xuất hiện bằng một chuỗi quảng cáo
chuyên nghiệp với nhiều hình ảnh khác nhau được thực hiện bởi công ty có
tiếng từ nước ngoài với mức chi phí quảng cáo rất lớn , với câu quảng cáo được
nhắc đi nhắc lại nhiều lần với thông điệp “ Number One , nay đã có mặt ở Việt
Nam “ mà không nhấn mạnh vào tính năng của sản phẩm chỉ nhấn mạnh tới
đặc điểm nổi trội là nước nước uống đóng chai đầu tiên ở Việt Nam, cùng với
việc đầu tư lớn cho quảng cáo đã giúp sản phẩm được người tiêu dùng tin
cậy.Ngoài ra công ty còn thực hiện nhiều chương trình như: “ Cùng uống cùng
vui cùng khui giải thưởng” là chương trình bật nắp trúng thưởng giành cho
người tiêu dùng nhằm kích cầu .Cùng với các hoạt động tài trợ bóng đá , đua xe