nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu thủy - Pdf 22

Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THÂN TÀU
THUỶ
1.1. Sự cần thiết bảo hiểm thân tàu thủy.
Trong ngành dịch vụ vận tải, mỗi loại hình vận tải: đường bộ, hàng không,
đường thuỷ, đường sắt đều tỏ ra những ưu thế nhất định. Tuy nhiên, trong
những loại hình đó, vận tải bằng đường thuỷ, đặc biệt là đường biển chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng giá trị giao dịch của tất cả những loại hình vận tải khác.
Điểm đó xuất phát từ việc vận tải biển do có những mặt thuận lợi hơn so với
các loại hình vận tải khác như:
- Có thể chở được những hàng hoá siêu trường, siêu trọng như: container,
hành rời, hàng bao với khối lượng lớn….
- Các tuyến vận chuyển đường biển rộng lớn nên trên cùng một tuyến có thể
tổ chức được nhiều chuyến tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều.
- Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa trên cơ sở lợi dụng
điều kiện tự nhiên của đường biển, do đó không phải đầu tư nhiều về vốn,
nguyên nhiên vật liệu, nhân lực cho tu bổ sửa chữa nâng cấp công nghệ. Đây
là nguyên nhân dẫn đến giá của vận chuyển đường biển thấp hơn so với các
phương tiện khác.
- Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh tế
với nước khác, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà nước, tăng thu
ngoại tệ….
Do đó vận chuyển bằng đường biển ngày càng phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt
giai đoạn hiện nay, quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế thì vai trò của vận tải
biển là rất quan trọng.
SV: LA VĂN HẢI
4
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
Tuy nhiên, vận tải biển cũng không phải là không có những khó khăn, rủi ro mà

(tankers) (11.356 chiếc), tàu chở hàng rời (6.139 chiếc), tàu chở khách (5.679
chiếc) và tàu chở container (3.165 chiếc). Theo số liệu của Cục Hàng hải VN,
hiện cả nước có 1.048 con tàu các loại với 2,4 triệu tấn trọng tải. Hằng năm, các
cảng biển VN tiếp nhận bình quân khoảng 75.000 lượt tàu, trong đó có 18.000
lượt tàu nước ngoài. Như vậy, nguy cơ xảy ra tai nạn trên các tuyến quốc tế là
rất cao. Chỉ riêng ở vùng biển Việt Nam, theo thống kê của Cục Hàng hải VN
từ năm 1992-2004 xảy ra 928 vụ tai nạn tàu thuỷ. Do phạm vi hoạt động rộng,
vận tải phụ thuộc phần lớn vào điều kiện tự nhiên do đó nguy cơ xảy ra tổn thất
là rất lớn về người vật chất và môi trường. Trong lịch, sử tồn tại những vụ tai
nạn có thể nói là thảm hoạ như: Titanic với 9.000 người chết, gần đây vụ tràn
dầu lớn nhất lịch sử Hàn Quốc với 10.000 tấn dầu đã đổ ra biển phía tây Hàn
Quốc của chiếc sà lan Samsung…
Như vậy, vận chuyển bằng đường biển là một loại hình vận tải quan trọng đối
với mỗi nền kinh tế. Tuy vậy, việc vận chuyển lại gặp rất nhiều rủi ro khó có thể
tránh khỏi những tổn thất nặng nề về nhân lực và tài chính. Như vậy, để giảm
được gánh nặng tài chính cũng như trách nhiệm đối với mình, các chủ tàu đã
tham gia bảo hiểm thân tàu là biện pháp ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất. Hoạt
động bảo hiểm thân tàu manh nha xuất hiện từ rất sớm nhưng mãi đến năm 1888,
luật bảo hiểm thân tàu biển mới chính thức đi vào cuộc sống. Đây là bộ luật bảo
hiểm tàu biển đầu tiên trên thế giới ra đời tại London, viết tắt là ITC (Institute
Time Clause).
SV: LA VĂN HẢI
6
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
1.2. Rủi ro và tổn thất trong hoạt động hàng hải.
1.2.1. Rủi ro trong hoạt động hàng hải.
Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển, sông
gây ra làm hư hỏng phương tiện và hàng hoá vận chuyển.
Rủi ro hàng hải gồm nhiều loại:

bảo hiểm kèm theo rủi ro thông thường với điều kiện trả thêm phụ phí đặc
biệt.
Việc xác định rủi ro rất quan trọng vì đây là cơ sở để tiến hành giám định và
bồi thường. Các rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm thì được nhà bảo hiểm bồi
thường, còn các rủi ro không thuộc phạm vi bảo hiểm thì không được bồi
thường.
1.2.2. Tổn thất trong hoạt động hàng hải.
1.2.2.1. Tổn thất toàn bộ thực tế.
- Tổn thất toàn bộ thực tế là toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồng
bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không
còn như lúc mới được bảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt, không lấy lại
được nữa.
1.2.2.2. Tổn thất toàn bộ ước tính.
- Tổn thất toàn bộ ước tính là trường hợp đối tượng được bảo hiểm bị thiệt
hại, mất mát chưa tới mức độ tổn thất toàn bộ thực tế, nhưng không thể
tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế; hoặc nếu bỏ chi phí ra cứu chữa thì chi
phí cứu chữa có thể bằng hoặc lớn hơn giá trị bảo hiểm.
SV: LA VĂN HẢI
8
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
1.2.2.3. Tổn thất riêng
- Tổn thất riêng là tổn thất chỉ gây thiệt hại cho một hoặc một số quyền lợi
của một trong các bên có liên quan trên tàu. Như vậy, tổn thất riêng chỉ liên
quan đến từng quyền lợi riêng biệt trên một con tàu. Trong tổn thất riêng,
ngoài thiệt hại vật chất còn phát sinh các chi phí liên quan đến tổn thất riêng
nhằm hạn chế những hư hại khi tổn thất xảy ra, gọi là chi phí tổn thất riêng.
Chi phí tổn thất riêng là những chi phí giảm tổn hại về thân tàu, hàng hoá để
giảm bớt hư hại hoặc để khỏi hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp dỡ, chi phí
gửi hàng, chi phí đóng gói lại, chi phí thay thế bao bì….

- Tổn thất chung phải xảy ra trong cuộc hành trình.
Hy sinh tổn thất chung gồm hai bộ phận đó là hy sinh tổn thất chung và chi phí
tổn thất chung
+ Hy sinh tổn thất chung là những thiệt hại hoặc chi phí do hậu quả trực tiếp
của một hành động tổn thất chung. Ví dụ, việc vứt bỏ hàng hoá vì lý do an toàn
của tàu, đốt vật phẩm trên tàu để thay nhiên liệu,…
+ Chi phí tổn thất chung là những chi phí phải trả cho người thứ ba trong việc
cứu tàu và hàng thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình.
Chi phí tổn thất chung bao gồm: chi phí cứu nạn, chí phí làm nổi tàu khi bị mắc
cạn, chi phí thuê kéo, lai dắt tàu khi bị nạn, chi phí tại cảng lánh nạn như: chi
phí ra vào cảng, chi phí xếp dỡ nhiên liệu,… vì an toàn chung của hoặc để sửa
chữa tạm thời, chi phí xếp hàng, chi phí lưu kho hàng hoá, tiền lương cho thuỷ
trưởng, thuyền viên, lương thực thực phẩm, nhiên liệu tiêu thụ tại cảng lánh
nạn….
SV: LA VĂN HẢI
10
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
Khi xảy ra tổn thất chung thì cần thiết phải có các hành động sau xác minh tổn
thất chung. Việc này thuộc thẩm quyền của người sở hữu tàu hoặc thuyền
trưởng:
+ Tuyên bố tổn thất chung
+ Mời giám định viên để giám định tổn thất của tàu và hàng.
+ Chỉ định chuyên viên tính toán tổn thất, phân bổ tổn thất chung.
+ Làm kháng nghị hàng hải (nếu liên quan đến người thứ ba).
1.2.2.5.Tổn thất riêng, hư hỏng chưa sửa chữa.
Tổn thất riêng, hư hỏng chưa sửa chữa là tổn thất hư hỏng nhưng không ảnh
hưởng đến hành trình và quá trình kinh doanh của con tàu. Người bảo hiểm
chịu trách nhiệm về sự giảm giá trị tàu do hư hỏng chưa sửa chữa gây ra song
không vượt quá phí tổn sửa chữa hợp lý gây ra.

cấu trúc nổi được phép hoạt động trên vùng biển, hệ thống sông của nước Việt
Nam.
Đối tượng của bảo hiểm thân tàu là toàn bộ con tàu bao gồm vỏ tàu, máy móc,
trang thiết bị trên con tàu đó có liên quan đến hoạt động của con tàu. Như vậy,
thực chất của bảo hiểm thân tàu là giá trị của con tàu đó, bao gồm giá trị của vỏ
tàu và máy móc thiết bị.
Trong bản kê khai hợp đồng bảo hiểm thân tàu chủ tàu phải kê khai những thông
tin như: nêu rõ tên tàu, cảng đăng kí, quốc tịch năm và nơi đóng, cấp tàu, trọng
tải… đồng thời, chủ tàu phải đảm bảo ba điều kiện quy định:
+ Tàu đủ khả năng đi biển.
+ Quốc tịch của tàu không thay đổi trong suốt thời gian bảo hiểm.
+ Hành trình của con tàu là hợp lý.
SV: LA VĂN HẢI
12
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
+ Nhân sự tổ chức trên tàu phải hợp lý….
Chủ tàu có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác và trung thực các thông tin
liên quan đến tàu theo đúng hợp đồng bảo hiểm. Nếu có sai sót nhà bảo hiểm có
thể chỉ bồi thường một phần hoặc từ chối bồi thường toàn bộ.
1.3.1.2. Phạm vi bảo hiểm.
Phạm vi bảo hiểm là cơ sở để xác định chi phí hay tổn thất có được bảo hiểm chi
trả, bồi thường trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm. Phạm vi bảo hiểm thân
tàu thường liên quan đến liên quan đến các rủi chìm đắm, mắc cạn, cháy nổ, đâm
va. Phạm vi bảo hiểm còn liên bao gồm tàu mất tích tàu hư hại do lỗi lầm của
thuyền trưởng, thuyền viên,….
Phạm vi bảo hiểm gồm rủi ro được bảo hiểm và rủi ro không được bảo hiểm (hay
là rủi ro loại trừ). Rủi ro loại trừ bao gồm: rủi ro về chiến tranh, đình công, rủi ro
do cố ý, lỗi lầm của người được bảo hiểm, rủi ro hạt nhân, hành động phá hoại
của khủng bố, rủi ro nhiễm phóng xạ….

g) Tổn thất bộ phận của tàu do hành động tổn thất chung và chỉ hạn chế một bộ
phận nhất định của tàu như những bộ phận dễ hư hỏng do tổn thất chung gây ra.
Chẳng hạn như hệ thống đèn điện, máy ướp lạnh, buồm, neo, tời, nồi hơi phụ….
h) Tổn thất riêng, tổn thất bộ phận của tàu do va chạm với tàu khác trong khi cứu
nạn hay do cứu hoả trên tàu.
Điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro (ITC): điều kiện bảo hiểm các rủi ro mà FPA đã
bảo hiểm, ITC còn bảo hiểm thêm:
SV: LA VĂN HẢI
14
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
i) Tổn thất bộ phận của tàu do hành động tổn thất chung gây ra ngoài những bộ
phận nhất định đã kể ở điểm (g).
k) Tổn thất riêng, tổn thất bộ phận của tàu và máy móc thiết bị do tai nạn bất ngờ
gây ra ngoài điểm (h).
Bảng 1.1: So sánh bốn điều kiện bảo hiểm thân tàu: TLO, FOD, FPA, ITC.
Phạm vi bảo hiểm TLO FOD FPA ITC
a. Tổn thất toàn bộ thực tế
b. Tổn thất toàn bộ ước tính.
c. Chi phí cứu nạn
d. Chi phí tố tụng, đề phòng hạn chế tổn
thất.
e. Chi phí trách nhiệm đâm va.
f. Chi phí đóng vào tổn thất chung.
g. Tổn thất bộ phận nhất định do hành
động tổn thất chung và chỉ hạn chế
một số bộ phận nhất định.
h. Tổn thất riêng vì cứu hoả, đâm va khi
cứu nạn hoặc cứu hoả.
i. Tổn thất bộ phận khác do hành động

x
-
-
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
(Nguồn: Giáo trình kinh tế bảo hiểm của bộ môn kinh tế bảo hiểm)
SV: LA VĂN HẢI
15
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
1.3.2.2. Điều kiện bảo hiểm ITC.
Thông thường các chủ tàu ở nước ta tham gia điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro ITC.
Hiện nay các chủ tàu tham gia chủ yếu theo điều khoản bảo hiểm thời hạn thân
tàu của Hiệp hội bảo hiểm London gồm ITC 1/10/1983 và ITC 01/11/1995.
Trong đó, ITC năm 1995 được ưa thích hơn, ITC năm 1995 có một số nội dung
cơ bản sau:
a) Điều khoản bảo hiểm thời hạn thân tàu: Gồm 27 điều khoản được đánh số từ 1
tới 27. Nội dung cơ bản gồm
- Điều khoản 2: Tiếp tục bảo hiểm: Nếu khi hết hạn bảo hiểm này mà tàu đang ở
ngoài biển và đang bị nguy hiểm hoặc mất tích với điều kiện đã khai báo cho
người bảo hiểm trước khi kết thúc thời hạn bảo bảo hiểm này, tàu được nhận bảo
hiểm cho tới về cảng kế tiếp an toàn hoặc nếu tàu đang ở cảng và còn hiểm nguy

được bảo hiểm.
+ Manh động của thuyền trưởng, sỹ quan hay thuỷ thủ.
+ Va chạm với máy bay, máy bay trực thăng hoặc vật tương tự hoặc các vật rơi
từ đó.
- Điều khoản 7: Rủi ro ô nhiễm.
Bảo hiểm ITC bảo hiểm tổn thất hay tổn hại của tàu gây ra từ quyết định của một
chức trách nhà nước hành động theo thẩm quyền được giao phó để phòng ngừa
hoặc hạn chế rủi ro ô nhiễm hay tổn hại tới môi trường hay nguy cơ gây ô nhiễm
và tổn hại môi trường, trực tiếp gây ra bởi tổn hại của tàu mà người bảo hiểm
phải gánh chịu trách nhiệm theo bảo hiểm này, với điều kiện là hành động của
chức trách nhà nước không phải do thiếu mẫn cán hợp lý của người được bảo
SV: LA VĂN HẢI
17
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
hiểm, chủ tàu, hay người quản lý tàu, trong việc phòng ngừa hay hạn chế rủi ro
hay nguy cơ đó.
- Điều khoản 8: 3/4 Trách nhiệm đâm va: người bảo hiểm thoả thuận bồi thường
cho người được bảo hiểm ba phần tư mọi số tiền mà người được bảo hiểm có
trách nhiệm pháp lý định phải bồi thường thiệt hại về:
+ Tổn thất hay tổn hại gây cho tàu khác hay tài sản trên tàu khác.
+ Chậm trễ hay thiệt hại do mất sử dụng tàu khác hay tài sản trên tàu đó.
+ Tổn thất chung, cứu nạn hay cứu hộ theo hợp đồng của tàu khác ấy hay tài sản
trên ấy.
Để được bồi thường khoản này, tàu phải đâm va với tàu khác và cả hai tàu đều
có lỗi, bồi thường phải được tính trên nguyên tắc trách nhiệm chéo.
Bồi thường mỗi vụ không được vượt quá ba phần tư giá trị bảo hiểm của tàu
được bảo hiểm đối với mỗi vụ đâm va.
- Người bảo hiểm cũng bồi thường ba phần tư phí tố tụng mà người được bảo
hiểm đã chi trả hay người được bảo hiểm có thể phải trả trong tranh cãi về trách

nhiễm chảy ra từ tàu.
+ Chi trả cho bất kì chi phí nào mà người được bảo hiểm phải trả cho người cứu
hộ hoặc thu lao cho sự cố gắng giảm thiểu tổn hại đến môi trường.
- Điều khoản 12: Miễn thường.
+ Không bồi thường theo bảo hiểm này một khiếu nại mà giá trị có thể phải chi
trả dưới mức miễn thường, nếu giá trị chi trả lớn hơn mức miễn thường thì nhất
thiết giá trị chi trả phải được khấu trừ.
SV: LA VĂN HẢI
19
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
+ Trong trường hợp khiếu nại do thời tiết xấu kéo dài cũng được coi như một tai
nạn, mức miễn thường trong trường hợp này được tính theo một tỉ lệ số ngày
thời tiết xấu trên số ngày bảo hiểm so với mức miễn thường đã quy định.
+ Loại trừ tất cả các loại lãi, lợi nhuận nào.
- Điều khoản 14: Mới thay cũ: bồi thường không khấu trừ trường hợp mới thay
cũ.
- Điều khoản 15: Công tác vỏ tàu: trong mọi trường hợp không bồi thường công
tác vỏ tàu: cạo, thổi cát và công tác chuẩn bị bề mặt khác hay sơn vỏ tàu.
- Điều khoản 16: Lương và thưởng: ngoài trường hợp tổn thất chung là nhằm
mục đích đưa tàu đến một cảng khác để sửa chữa tổn hại được bảo hiểm hoặc
chạy thử cho việc sửa chữa đó, còn không chấp nhận bồi thường chi phí lương và
thưởng.
- Điều khoản 17: Công tác phí: nhà bảo hiểm không bồi thường chi phí mà người
bảo hiểm sử dụng để chứng minh tổn thất được bồi thường.
- Điều khoản 18: Tổn hại sửa chữa
+ Hạn mức bồi thường tổn hại sửa chữa là số giảm giá trị hợp lý trị giá thị trường
của tàu vào lúc bảo hiểm này kết thúc do những tổn hại sửa chữa gây ra, song
không vượt quá phí tổn sửa chữa hợp lý.
+ Không chịu chi phí này trong trường hợp tổn thất toàn bộ.

- Điều khoản 1: Hiểm hoạ gây ra bởi: chiến tranh, nội chiến, cách mạng phiến
loạn; chiếm, bắt giữ, cầm chế hay giam hãm; mìn, ngư lôi, bom không người
thừa nhận hoặc vũ khí chiến tranh không người thừa nhận…
- Điều khoản 2: kết hợp điều khoản.
- Điều khoản 3: Giam hãm.
SV: LA VĂN HẢI
21
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
- Điều khoản 5: Loại trừ: tổn thất tổn hại gây ra bởi:
+ Chiến tranh bùng nổ do các giữa các nước: Anh, Mỹ, Pháp, Nga, Trung Quôc.
+ Trưng dụng về tàu.
+ Chiếm, bắt giữ, cầm chế, giam hãm, tịch thu hay truất hữu bởi hay lệnh của
chính phủ…
+ Giữ, cầm chế, giam hãm, tịch thu hay truất hữu theo luật lệ kiểm dịch hoặc
xâm phạm hải quan…
+ Hậu quả của thủ tục pháp lý thông thường của việc không cung cấp đảm bảo
hoặc không thanh toán tiền phạt hay tiền chế tài hoặc nguyên nhân tài chính nào.
+ Cướp biển
+ Mọi tổn thất, tổn hại, trách nhiệm hoặc chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra
bởi hoặc nguồn gốc bởi phóng xạ, chất độc, chất gây nổ hoặc gây nguy hiểm từ
lò phản ứng hạt nhân, bộ phận lắp giáp phản ứng hạt nhân hoặc thành phần hạt
nhân đi kèm.
+ Mọi vũ khí chiến tranh sử dụng hoặc có thành phần hợp nhất nguyên tử hay
hạt nhân…
- Giữ, cầm chế, giam hãm, tịch thu hay truất hữu theo luật lệ kiểm dịch hoặc vì
lý do vi phạm luật hải quan hay thương mại,
- Hậu quả của thủ tục pháp lý thông thường của việc không cung cấp đảm bảo
hoặc không thanh toán tiền phạt hay tiền chế tài hoặc nguyên nhân tài chính nào.
- Điều khoản 6: Kết thúc bảo hiểm: Điều khoản bảo hiểm chiến tranh và đình

- Phí bồi thường cho tổn thất bộ phận bao gồm cả các chi phí sửa chữa tạm
thời, chính thức và chưa sửa chữa.
SV: LA VĂN HẢI
23
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
- Phụ phí bao gồm chi phí quản lý, chi phí đề phòng hạn chế tổn thất, chi phí
tuyền truyền quảng cáo…
Vậy phí :

Trong đó:
Tỷ lệ phí phụ thuộc vào độ tuổi, tầm vóc, trang thiết bị của tàu. Tàu càng già
(trên 15 tuổi), tầm vóc càng lớn, trang thiết bị kém hiện đại… thì tỉ lệ phí cao.
+ Phí bồi thường tổn thất bộ phận phụ thuộc vào tình trạng bảo dưỡng sửa chữa,
vào tuyến đường và phạm vi hoạt động của tàu, vào tình trạng tổn thất các năm
trước đó của đội tàu…
+ Phụ phí khác thì phụ thuộc vào chi phí quản lý hành chính, chi phí đền phòng
và hạn chế tổn thất, lập quỹ dự phòng, tỷ lệ lạm phát mất giá của đồng tiền…
Trong bảo hiểm tàu thuỷ do giá trị phí tham gia bảo hiểm lớn, nên khi tàu ngừng
hoạt động liên tục trong 30 ngày trở lên thì được người bảo hiểm hoàn lại phí.
Mỗi nước có một quy định về giá trị hoàn lại phí nhưng, nhìn chung tỷ giá trị
hoàn lại luôn nhỏ hơn 100%. Cụ thể:
SV: LA VĂN HẢI
24
Phí bảo
hiểm thân
tàu
Phí bồi
thường tổn
thất toàn

giám định tình trạng tàu trước khi nhận bảo hiểm.
- Thu phí bảo hiểm, quyền khiếu nại về phí.
- Sử dụng phí bảo hiểm theo đúng quy định pháp luật.
- Có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp thông tin về đối tượng bảo hiểm
đầy đủ, trung thực.
- Quyền yêu cầu đối tượng bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế
tổn thất.
- Có quyền kiểm tra đối tượng bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm khi cần thiết.
- Có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi người tham gia bảo hiểm vi
phạm cam kết (hợp đồng bảo hiểm).
- Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi
thường cho người bảo hiểm do lỗi của bên thứ ba gây ra.
SV: LA VĂN HẢI
25
Số phí bảo
hiểm đã
đóng
Số phí
hoàn lại
Tỷ lệ phí
hoàn lại
x
x
=
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
b) Nghĩa vụ:
Bên cạnh các quyền lợi trên, thì người bảo hiểm phải thực hiện các nghĩa vụ chủ
yếu sau đối với người tham gia bảo hiểm:
- Giải thích cho bên mua bảo hiểm các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và

hiểm, thực hiện việc kiểm tra và sửa chữa đúng hạn định.
- Cung cấp đầy đủ, trung thực về đối tượng bảo hiểm.
- Phải kịp thời áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm cứu giúp, bảo vệ người,
phương tiện và tài sản để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất và báo cáo ngay cho chính
quyền địa phương nơi gần nhất để lập biên bản quy định.
- Phải thông báo cho công ty biết ngay có thể để thực hiện giám định.
1.4. Các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả của một nghiệp vụ bảo hiểm.
1.4.1. Chỉ tiêu đánh giá kết quả.
Kết quả kinh doanh nói chung và kết quả kinh doanh bảo hiểm nói riêng được
thể hiện chủ yếu ở hai chỉ tiêu là doanh thu và lợi nhuận.
Doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm phản ánh tổng hợp kết quả kinh doanh
trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Nó là cơ sở để tính các chỉ tiêu
khác có liên quan phục vụ phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp
bảo hiểm. Chỉ tiêu doanh thu trong doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm: doanh thu
về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm; thu nhập từ đầu tư và các
khoản thu khác. Doanh thu của doanh nghiệp thường đề cập đến: doanh thu thực
hiện và doanh thu kế hoạch:
Doanh thu thực hiện là doanh thu thực tế đạt được trong kỳ. Doanh thu kế hoạch
là doanh thu mà doanh nghiệp đặt ra trước cho kỳ dựa trên sự phân tích những
SV: LA VĂN HẢI
27
Chuyªn ®Ò thùc tËp
GVHD: TS. Phạm Thị Định
điều kiện thuận lợi và khó khăn mà doanh nghiệp có được hay phải đối mặt.
Doanh thu năm trước, năm sau là doanh thu thực tế đạt được trong các năm đó.
Chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm là toàn bộ số tiền doanh nghiệp bảo hiểm chi
ra trong kỳ phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh trong vòng một năm.
Cũng như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật chất khác chi
phí của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm chi phí cố định và chi phí lưu động. Chi
phí cố định là các khoản chi phí không phụ thuộc khối lượng đầu ra (sản phẩm).

doanh
thu
Tổng
chi phí
Lợi nhuận
sau thuế
Lợi nhuận
trước thuế
Thuế thu nhập
doanh nghiệp
phải nộp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status