Đánh giá thực trạng triển khai nghiệp vụ Bảo Hiểm thân tàu biển tại Cty cổ phần Bảo Hiểm PETROLIMEX - Pdf 79

Lời nói đầu
Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ của khu vực Đông Nam á,
dễ dàng cho việc thông thơng bằng đờng biển. Đội tàu biển của Việt Nam tuy
không lớn song các vụ tổn thất cũng gây không ít khó khăn cho các chủ tàu.
Hiện có rất nhiều doanh nghiệp triển khai bảo hiểm hàng hải nói chung và
bảo hiểm thân tàu nói riêng. Tuy nhiên tại Công ty cổ phần bảo hiểm
PETROLIMEX (PJICO) nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển đã và đang là một
trong nghiệp vụ chủ yếu của Công ty. Cùng với sự phát triển của đội tàu biển
Việt Nam, PJICO có định hớng nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển trong
những năm tới sẽ là một trong những nghiệp vụ mũi nhọn.
Chính vì vậy trong quá trình thực tập tại Phòng bảo hiểm Hàng Hải của
PJICO, cùng với sự hớng dẫn của các anh chị trong Phòng em tiếp cận với
nghiệp vụ trên và lựa chọn đề tài Đánh giá thực trạng triển khai nghiệp
vụ bảo hiểm thân tàu biển tại công ty cổ phần bảo hiểm
PETROLIMEX .
Chuyên đề gồm ba chơng:
Chơng I: Lý luận chung về nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu thuỷ.
Chơng II: Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển tại
PJICO.
Chơng III: Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ
bảo hiểm thân tàu biển của PJICO.
Do thời gian có hạn và kiến thức thực tế về nghiệp vụ cha nhiều nên rất
mong có đợc những ý kiến đóng góp của cô giáo hớng dẫn thực tập và các
anh chị trong Phòng bảo hiểm Hàng Hải để đề tài đợc hoàn thiện hơn.
1
Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2005
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Thu Hà
2
Chơng i
lý luận chung về nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu thủy

tăng thu nhập cho ngân sách, tăng vốn đầu t cho nền kinh tế v.v. hoạt động
bảo hiểm thân tàu đã ra đời khá sớm. Tuy nhiên, mãi đến năm 1888, luật bảo
hiểm thân tàu biển mới chính thức đi vào cuộc sống. Đây là bộ luật bảo hiểm
đầu tiên trên thế giới tại London, viết tắt là ITC (Institute Time Clause).
Để hạn chế bớt những nguy cơ có thể xảy ra chính các nhà bảo hiểm lại
bắt tay vào công cuộc tìm kiếm những phơng án tối u nhất cho việc đề phòng
và hạn chế tổn thất. Các hớng dẫn chỉ đờng, các tuyến đờng biển đợc nâng
cấp, các công trình vì sự an toàn đờng biển chính là biện pháp hữu hiệu nhất
trong đề phòng và hạn chế tổn thất. Lợi ích của các cá nhân, từng đơn vị
riêng lẻ giờ đây đã mang lợi ích cả xã hội, cộng đồng. Hao phí xã hội vì thế
đợc tối thiểu hoá. Không chỉ ngăn chặn hay bảo hiểm cho những tổn thất do
thiên tai gây ra, bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm thân tàu biển nói
riêng còn bảo vệ an toàn cho hành trình của các con tàu trớc những nguy cơ
đe doạ từ chính con ngời (cớp biển, manh nha của thuỷ thủ đoàn v.v. ).
Đội tàu biển Việt Nam tuy không lớn nhng lại nhỏ bé, cũ kỹ, độ tuổi của
các tàu quá lớn v.v. nên khả năng gặp tai nạn, rủi ro là rất lớn, và những vụ
tổn thất đó cũng gây ra không ít khó khăn cho các chủ tàu. Chính vì vậy nên
việc bảo hiểm thân tàu càng trở nên cần thiết không thể thiếu.
II. Rủi ro và tổn thất trong hoạt động hàng hải.
1. Rủi ro hàng hải
Theo lịch sử phát triển của bảo hiểm hàng hải, ban đầu ngời bảo hiểm chỉ
nhận bảo hiểm cho bốn rủi ro hiểm hoạ chính: chìm đắm, mắc cạn, đâm va.
Cùng với sự phát triển của thơng mại quốc tế và các đội tàu nhiều rủi ro phát
4
sinh. Để thu hút khách hàng, ngời bảo hiểm ngày càng nhận bảo hiểm thêm
cho nhiều rủi ro.
Theo nguyên nhân, ngày nay rủi ro hàng hải đợc phân thành: rủi ro do
thiên tai, rủi ro do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con
ngời.
Rủi ro do thiên tai: Đây là những rủi ro do thiên nhiên gây ra nh: biển

nhiệm theo bảo hiểm này.
2. Tổn thất
Tổn thất trong bảo hiểm thân tàu biển là những thiệt hại, h hỏng của con
tàu đợc bảo hiểm do rủi ro gây ra.
Theo các điều kiện bảo hiểm, tổn thất tàu thuỷ bao gồm các loại sau đây:
2.1. Tổn thất toàn bộ thực tế
Tổn thất toàn bộ thực tế là tổn thất toàn bộ con tàu khi bị đắm, bị nổ
tung, bị phá huỷ, bị tớc quyền sở hữu do bị cớp, bị bắt vì buôn lậu, chở hàng
trái phép v.v. Khi bị tổn thất toàn bộ, bảo hiểm bồi thờng toàn bộ theo số tiền
bảo hiểm và không tính mức miễn đền.
2.2. Tổn thất toàn bộ ớc tính
Tổn thất toàn bộ ớc tính là dạng tổn thất tuy cha ở mức độ tổn thất toàn
bộ nhng khó có thể tránh khỏi hoặc muốn tránh khỏi phải bỏ ra một chi phí
lớn hơn số tiền bảo hiểm của con tàu đó.
Các dạng tổn thất toàn bộ ớc tính:
-Tàu bị cháy, bị mắc cạn, bị đắm nếu chi phí để sửa chữa, đa tàu ra khỏi
cạn v.v. sẽ lớn hơn số tiền bảo hiểm;
-Tàu bị mất tích, bị cớp không xác định đợc giá trị thực tế, do đó sẽ bồi
thờng theo tổn thất toàn bộ;
-Tàu h hỏng nghiêm trọng, chi phí để sửa chữa lớn hơn số tiền bảo hiểm.
Việc xác định tổn thất toàn bộ ớc tính phải căn cứ vào đơn bảo hiểm
hoặc luật bảo hiểm hàng hải quốc tế.
Nếu có tổn thất toàn bộ ớc tính xảy ra thì ngời đợc bảo hiểm từ bỏ con
tàu một cách hợp lý và nhận bồi thờng toàn bộ.
2.3. Tổn thất riêng
6
Khi tàu bị tổn thất riêng, chủ tàu phải chi phí để sửa chữa, tái tạo các
bộ phận bị h hại v.v. gọi là chi phí sửa chữa.
Có hai loại chi phí sửa chữa:
- Sửa chữa tạm thời ở cảng xảy ra tổn thất (dù có hay không có xởng sửa

Tổn thất riêng, h hỏng v.v. là những tổn thất, h hỏng nhng không ảnh h-
ởng đến hành trình và quá trình kinh doanh của con tàu. Ngời bảo hiểm chịu
trách nhiệm về sự giảm giá trị thân tàu do h hỏng cha sửa chữa gây ra.
2.6. Các chi phí cần thiết khác
Các chi phí cần thiết khác là những chi phí liên quan tới rủi ro và tổn
thất đợc bảo hiểm nh:
- Chi phí tố tụng, khiếu nại, đề phòng hạn chế tổn thất;
- Chi phí cứu hộ tàu và tài sản khác;
- Chi phí giám định tổn thất.
Những chi phí này ngời bảo hiểm phải trả.
III. Nội dung của bảo hiểm thân tàu
1. Đối tợng và phạm vi bảo hiểm
1.1. Đối tợng
Đối tợng bảo hiểm thân tàu thuỷ là toàn bộ con tàu bao gồm vỏ tàu,
máy móc, trang thiết bị trên con tàu đó có liên quan đến hoạt động của con
tàu. Nh vậy, thực chất bảo hiểm thân tàu thuỷ là bảo hiểm giá trị con tàu đó,
bao gồm giá trị vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị.
Trong bản kê khai hợp đồng bảo hiểm thân tàu thuỷ, chủ tàu phải nêu
rõ tên tàu, cảng đăng ký, quốc tịch tàu, năm và nơi đóng tàu, cấp tàu, trọng
tải v.v. Đồng thời, chủ tàu phải đảm bảo ba điều kiện quy định:
- Tàu đủ khả năng đi biển,
- Quốc tịch tàu không thay đổi suốt thời gian bảo hiểm,
- Hành trình con tàu phải hợp pháp.
Những quy định này phải đợc giải thích rõ ràng và chủ tàu phải tuân
thủ đúng quy định. Những quy định này có liên quan đến phạm vi bảo hiểm.
1.2. Phạm vi bảo hiểm
8
Xác định phạm vi bảo hiểm là xác định những rủi ro đợc bảo hiểm làm
căn cứ xét bồi thờng. Phạm vi bảo hiểm vừa có liên quan đến ngời bảo hiểm,
vừa liên qan đến ngời tham gia bảo hiểm.

Bốn điều kiện mà các chủ tàu thờng chọn lựa để tham gia bảo hiểm
thân tàu là:
2.1. Điều kiện bảo hiểm tổn thất toàn bộ (TLO)
Theo điều kiện này, ngời bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thờng:
a) Tổn thất toàn bộ thực tế. Trong điều kiện này, con tàu h hỏng không
còn nguyên vẹn hoặc bị tớc quyền sở hữu.
b) Tổn thất toàn bộ ớc tính là tổn thất toàn bộ thực tế không thể tránh khỏi
phải chi phí lớn hơn giá trị thực tế không thể tránh khỏi hoặc muốn tránh
khỏi phải chi phí lớn hơn giá trị cứu vãn đợc.
c) Chi cứu nạn là những chi phí phát sinh để cứu tàu khi gặp nạn trong tr-
ờng hợp khẩn cấp nh kéo tàu ra khỏi cạn v.v.
Chi phí này đợc phân bổ theo giá trị tàu đợc cứu kể cả hàng hoá đợc
cứu.
Tóm lại, điều kiện bảo hiểm tổn thất toàn bộ (TLO) có phạm vi hẹp
nhất. Nó chỉ bảo hiểm khi tàu bị tổn thất toàn bộ thực tế hoặc tàu nằm trong
nguy cơ tổn thất toàn bộ thực tế l à không tránh khỏi hoặc tránh khỏi bằng
cứu nạn.
2.2. Điều kiện bảo hiểm loại trừ tổn thất bộ phận (FOD)
Điều kiện bảo hiểm FOD có phạm vi rộng hơn TLO. Cụ thể:
- Bảo hiểm mọi tổn thất và chi phí mà TLO gánh chịu (a+b+c);
- Bảo hiểm thêm các tổn thất và chi phí:
d) Chi phí tố tụng, đề phòng và hạn chế tổn thất với điều kiện chi phí này
phát sinh rủ ro, tổn thất đợc bảo hiểm;
e) Chi phí trách nhiệm đâm va do chủ tàu đợc bảo hiểm gánh chịu với
chủ tàu hoặc chủ tài sản khác do chủ tàu có lỗi.
f) Chi phí đóng góp vào tổn thất chung.
2.3. Điều kiện bảo hiểm loại trừ tổn thất riêng về thân tàu (FPA)
10
Điều kiện bảo hiểm FPA vừa gánh chịu mọi tổn thất và chi phí của
FOD, vừa đảm trách thêm:

hạn chế trong một số bộ phận nhất
định
h. Tổn thất riêng vì cứu hoả, đâm va
khi cứu nạn
i. Tổn thất bộ phận khác do hành
động tổn thất chung
j. Tổn thất riêng vì mọi rủi ro tai nạn
khác
x
x
x
-
-
-
-
-
-
-
x
x
x
x
x
x
-
-
-
-
x
x

Bảo hiểm thân tàu là dạng bảo hiểm tài sản, cho nên số tiền bảo hiểm
đợc tính trên cơ sở giá trị theo giá thị trờng của đối tợng bảo hiểm. Điều đó
có nghĩa là số tiền bảo hiểm bao gồm giá trị vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị
trên con tàu. Thông thờng, chủ tàu bảo hiểm thấp hơn giá trị con tàu. Trong
trờng hợp chủ tàu tham gia bảo hiểm theo điều kiện bồi thờng tổn thất đầu
tiên, khi có tổn thất phát sinh, nếu các tổn thất nhỏ hơn hoặc bằng số tiền
bảo hiểm, bảo hiểm sẽ bồi thờng theo thiệt hại thực tế; nếu tổn thất lớn hơn
số tiền bảo hiểm, bảo hiểm sẽ bồi thờng bằng số tiền bảo hiểm.
Chủ tàu không chỉ đăng kí bảo hiểm con tàu mà con đăng ký bảo hiểm
cớc phí chuyên chở hàng hoá, chi phí điều hành.
Cớc phí chuyên chở hàng hoá là số tiền cớc mà chủ tàu phải trả lại cho
chủ hàng do chủ tàu không đa hàng về đến bến (vì bị thất lạc, tổn thất). Theo
quy định, tiền bảo hiểm cớc phí cao nhất bằng 25% số tiền bảo hiểm thân
tàu.
Chi phí điều hành là những chi phí quản lý, lãi kinh doanh v.v Chủ
tàu bảo hiểm thêm chi phí điều hành nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh.
Số tiền bảo hiểm chi phí điều hành (theo quy định của ITC sửa đổi ngày
01/10/1983) cao nhất bằng 25% số tiền bảo hiểm thân tàu.
Vậy số tiền bảo hiểm thân tàu gồm: Số tiền bảo hiểm thân con tàu, số
tiền bảo hiểm cớc phí chuyên chở và số tiền bảo hiểm chi phí điều hành.
4. Phí bảo hiểm thân tàu thuỷ
Khi đã xác định đợc số tiền bảo hiểm ngời ta xác định tiếp phí bảo
hiểm mà chủ tàu phải nộp.
Phí bảo hiểm là số tiền mà ngời tham gia bảo hiểm (chủ tàu) nộp cho
ngời bảo hiểm trên cơ sở số tiền bảo hiểm và tỷ lệ phí (bảo hiểm).
Phí bảo hiểm thân tàu thuỷ có thể bao gồm:
- Phí bồi thờng cho tổn thất toàn bộ;
13
- Phí bồi thờng tổn thất bộ phận bao gồm các chi phí sửa chữa tạm thời,
chính thức và cha sửa chữa;

+R
3
R
1
: Tỷ lệ phí bồi thờng tổn thất toàn bộ
R
2
: Tỷ lệ phí bồ thờng tổn thất bộ phận
R
3
: Tỷ lệ phụ phí
R
2
: phụ thuộc vào tình trạng bảo dỡng sửa chữa, vào tuyến đờng và phạm
vi hoạt động của tàu, vào tình trạng tổn thất các năm trớc đó của đội tàu (trên
tuyến đờng) v.v.
R
3
:

phụ thuộc vào chi phí quản lý hành chính, chi phí đề phòng hạn chế
tổn thất, lập quỹ dự phòng, tỷ lệ lạm phát mất giá đồng tiền v.v.
C3: Có những công ty lại chia tỷ lệ phí thành hai bộ phận là
R = R
1
+ R
2
R
1
: Tỷ lệ phí chính thống

cả năm
x tỷ lệ phí hoàn lại x
Bởi vì đây là bảo hiểm tài sản nên thời gian hoạt động thờng là một
năm.
Số ngày ngừng hoạt động
365 ngày
15
5. Quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong bảo hiểm thân tàu thuỷ
5.1. Ngời bảo hiểm
Thực chất ngời bảo hiểm chính là các doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh
nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp đợc thành lập và hoạt động kinh doanh bảo
hiểm và tái bảo hiểm.
Trong bảo hiểm thân tàu biển, các Công ty bảo hiểm có trách nhiệm
bồi thờng tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm trong trờng hợp xẩy ra tổn thất
cho chủ tàu (ngời đợc bảo hiểm). Quyền lợi mà ngời bảo hiểm đợc hởng
chính là mức phí mà họ thu đợc.
5.2. Ngời đợc bảo hiểm- ngời tham gia bảo hiểm
Bảo hiểm thân tàu biển là nghiệp vụ bảo hiểm tài sản. Vì vậy mà chủ sở
hữu con tàu là ngời tham gia bảo hiểm đồng thời là ngời đợc bảo hiểm.
Ngời tham gia bảo hiểm - ngời đợc bảo hiểm có thể là chủ tàu, có thể là
chủ hàng, có thể là thuyền trởng (nếu thuyền trởng cũng có quyền sở hữu con
tàu), có thể là ngời thuê tàu, có thể là một cá nhân, một tập thể các chủ sở
hữu hoặc một doanh nghiệp.
iv. Quy trình khai thác bảo hiểm thân tàu
1. Công tác khai thác
Bất kỳ doanh nghiệp bảo hiểm nào muốn bán đợc sản phẩm của mình
cũng đều cần đến công tác khai thác bảo hiểm. Đó chính là cần đến hệ thống
phân phối - tức là cần đến các yếu tố con ngời và phơng tiện vật chất nhằm
trao đổi thông tin và chuyển giao sản phẩm từ doanh nghiệp, ngời bán sang
ngời mua. Nhờ có hệ thống phân phối, ngời mua có thể mua đợc sản phẩm

kiếm các doanh nghiệp bảo hiểm phù hợp. Môi giới đợc hởng hoa hồng do
doanh nghiệp bảo hiểm chi trả. Phân phối qua môi giới làm tăng uy tín cho
doanh nghiệp nhng có nhợc điểm là doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không đợc
tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nếu không có sự đồng ý của môi giới.
17
1.1.5. Các hệ thống phân phối khác
Ngoài việc sử dụng các hệ thống phân phối nh vừa đề cập ở trên, các
doanh nghiệp bảo hiểm còn cung cấp dịch vụ cho khách hàng thông qua gửi
th trực tiếp, qua điện thoại, qua mạng máy tính (thơng mại điện tử), qua việc
quảng cáo trên các phơng tiện thông tin đại chúng: vô tuyến truyền hình, đài
phát thanh, báo, tạp chí v.v.
Việc sử dụng hệ thống phân phối này giúp doanh nghiệp giảm đợc một
số chi phí trung gian, do đớ tạo điều kiện giảm giá và tăng một số lợi thế
cạnh tranh. Nhng hệ thống phân phối này chỉ thành công khi áp dụng với một
số sản phẩm đơn giản, công nghệ phát triển và khách hàng có đợc thói quen
mua sản phẩm.
1.2. Lựa chọn hệ thống phân phối sản phẩm bảo hiểm
Hệ thống phân phối mà doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng sẽ tác động
đến loại hình sản phẩm, mức giá của sản phẩm cũng nh phơng thức qua đó
sản phẩm đợc truyền thông. Trớc khi lựa chọn một số cơ cấu các hệ thống
phân phối cụ thể, doanh nghiệp phải đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng
hệ thống phân phối trong mối quan hệ với nhu cầu của doanh nghiệp. Hệ
thống phân phối đợc lựa chọn phải là hệ thống sao cho việc phân phối đạt
hiệu quả nhất. Nhng cũng cần lu ý rằng hệ thống phân phối đợc coi là hiệu
quả đối với sản phẩm này hoặc trên thị trờng mục tiêu này, có thể không hiệu
quả đối với sản phẩm khác hoặc trên thị trờng mục tiêu khác.
Nhìn chung, khi lựa chọn hệ thống phân phối, doanh nghiệp bảo hiểm
phải xem xét các nhân tố:
- Đặc tính của ngời mua trên thị trờng mục tiêu: Đây là nhân tố cơ bản
quyết định việc lựa chọn hệ thống phân phối. Vì mục đích chính của phân

hành công vụ một cách mẫn cán, chấp hành nghiêm chỉnh những chỉ thị, ý
kiến của doanh nghiệp bảo hiểm. Nếu chuyên viên giám định do doanh
nghiệp bảo hiểm chỉ định, lựa chọn sẽ đợc uỷ nhiệm một số quyền hạn nhất
định, song không đợc nhợng lại sự uỷ quyền này cho ngời khác, lợi ích của
họ phải độc lập với lợi ích của ngời tham gia bảo hiểm.
2.1. Yêu cầu
19
Ghi nhận thiệt hại phải đảm bảo chính xác, kịp thời, khách quan và
trung thực. Ghi nhận thiệt hại tức là ghi lại thực trạng và xác định lại thiệt
hại, mức độ trầm trọng và nguyên nhân gây thiệt hại. Công việc giám định
chỉ đợc tiến hành khi bên tham gia bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm yêu
cầu. Để đảm bảo tính khách quan, một số nghiệp vụ bảo hiểm trong quá trình
giám định phải có sự chứng kiến của các bên liên quan. Ví dụ: Giám định tổn
thất đối với nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất, nhập khẩu cần mời cơ quan
vận chuyển, công ty bốc dỡ hàng và phía nhận hàng chứng kiến. Những thiệt
hại đợc ghi nhận phải thể hiện trong Biên bản giám định tổn thất.
Đề xuất các biện pháp bảo quản và phòng ngừa thiệt hại, phải kịp thời
và đúng quyền hạn. Khi rủi ro tổn thất xảy ra, chuyên viên giám định có
nghĩa vụ can thiệp để giảm thiểu độ trầm trọng của tổn thất và tình trạng gia
tăng thiệt hại. Sự can thiệp của chuyên viên giám định là đa ra các biện pháp
cứu hộ và an toàn đối với tài sản đợc bảo hiểm và tài sản, tính mạng của ngời
thứ ba, thu gom, đóng gói gia công lại bao bì chứa hàng, bảo vệ tài sản để
tránh mất cắp. Tuy nhiên, chuyên viên giám định không đợc vợt quyền và
làm thay ngời đợc bảo hiểm. Nếu phát hiện tổn thất có tính hệ thống, chuyên
viên giám định phải tìm hiểu nguyên nhân, cách giải quyết và thông báo cho
doanh nghiệp bảo hiểm đã uỷ nhiệm lựa chọn mình làm ngời giám định.
Những thông tin mà chuyên viên giám định cung cấp cho doanh nghiệp
bảo hiểm dù là tự nguyện, nhng nội dung của nó là tất cẩ những chi tiết về
những sự kiện đã xảy ra tổn thất, tình trạng mất cắp, các quyết định của cơ
quan công an và chính quyền địa phơng. Những thông tin này sẽ không có

hoặc chi trả bảo hiểm và khiếu nại ngời thứ ba. Vì vậy, nội dung văn bản này
phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, rõ ràng, cụ thể. Các số liệu phải phù
hợp với thực trạng và không đợc mâu thuẫn khi đối chiếu với các giấy tờ có
liên quan. Với những vụ tổn thất lớn, nghiêm trọng và phức tạp cần phải lấy ý
kiến tập thể của những ngời liên quan và lãnh đạo doanh nghiệp bảo hiểm tr-
ớc khi hoàn tất biên bản giám định. Thông thờng biên bản giám định đợc lập
ở hiện trờng và sau khi đã thống nhất phải lấy chữ ký của các bên có liên
quan. Biên bản giám định chỉ cấp cho ngời có yêu cầu giám định. Không đợc
21
tiết lộ nội dung giám định cho ngời khác khi cha có yêu cầu của doanh
nghiệp bảo hiểm.
3. Công tác bồi thờng
Bồi thờng và chi trả tiền bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt động
kinh doanh bảo hiểm. Bởi vì khi mua bảo hiểm, có nghĩa là khách hàng đã trả
tiền cho các sản phẩm bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thờng
hoặc trả tiền bảo hiểm một cách nhanh chóng và đầy đủ nếu không may họ
xảy ra tổn thất. Chính vào thời điểm tổn thất xảy ra, phía khách hàng thờng bị
những cú sốc lớn về tinh thần, đặc biệt là những trờng hợp ngời đợc bảo
hiểm tử vong hay thơng tật toàn bộ vĩnh viễn. Vào lúc này thì năng lực, sự
trung thực, tính hiệu quả, sự tế nhị và tính nhân đạo của doanh nghiệp bảo
hiểm đợc thừa nhận qua cách xử sự của mình với các nạn nhân của sự kiện đ-
ợc bảo hiểm. Nếu giải quyết tốt thì đó là cách quảng cáo tốt nhất đối với một
doanh nghiệp bảo hiểm. Nhận thức đợc vai trò của công tác bồi thờng và chi
trả bảo hiểm nên nhiều công ty bảo hiểm trên thế giới đã nêu thành những
triết lý kinh doanh.
Hãy đối xử với khách hàng theo cách mà bạn muốn đ ợc đối xử trong
trờng hợp bạn gặp tổn thất
(Công ty bảo hiểm tài sản Clubb Corporation)
Bồi th ờng là cơ hội để chúng tôi thực hiện cam kết của mình
(Tập đoàn bảo hiểm quốc tế Mỹ AIA)

báo chấp nhận bồi thờng và đề xuất các hình thức bồi thờng cho khách hàng.
Thờng có ba hình thức bồi thờng: Thanh toán bằng tiền mặt, sửa chữa tài sản,
thay thế mới tài sản. Nếu số tiền bồi thờng hoặc chi trả quá lớn, doanh nghiệp
bảo hiểm có thể thoả thuận với khách hàng về ký hạn thanh toán, thời gian,
lãi suất trả chậm v.v.
Phần lớn các vụ tổn thất đợc giải quyết bồi thờng hoặc chi trả rất nhanh
chóng, ngay sau khi khách hàng tập hợp đợc các giấy tờ chứng minh cần thiết
cùng với đơn khiếu nại hoặc ngay sau khi chuyên viên giám định xác định đ-
ợc số tiền thiệt hại do tổn thất gây ra và lập biên bản giám định. Tuy nhiên,
23
trong một số trờng hợp, việc thanh toán bồi thờng, chi trả đòi hỏi thời hạn
dài, khiến khách hàng phật ý, thậm chí công phẫn. Ví dụ:
- Số tiền thiệt hại phải bồi thờng không thể xác định đợc ngay (nh ngời bị
thơng cần có thời gian bình phục, số tiền bồi thờng thiệt hại kinh doanh chỉ
có thể biết đợc sau khi doanh nghiệp hoạt động trở lại v.v.).
- Trách nhiệm, nguyên nhân gây thiệt hại không thể xác định đợc ngay
nên các bên phải thảo luận và gây tranh chấp, buộc toà án phải can thiệp.
- Có nhiều bên thụ hởng bồi thờng, đòi hỏi phải tính toán, phân bổ kéo
dài (nh phân bổ tổn thất chung trong bảo hiểm hàng hải).
- Ngời thứ ba cố tình gây khó dễ khi xác định mức độ thiệt hại liên quan
đến bên họ, nhất là những thiệt hại về kinh doanh.
Những trờng hợp trên, đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải giải quyết
và xử lý theo nguyên tắc mềm dẻo, hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp
của toà án. Có nh vậy mới giữ đợc uy tín cho doanh nghiệp bảo hiểm, hạn
chế chi phí bồi thờng, bởi vì một sự dàn xếp đạt đợc nhanh chóng sẽ có lợi
hơn là quyết định xét xử sau nhiều năm tố tụng.
Bớc 4: Truy đòi ngời thứ ba
Cuối cùng, bộ phận thanh toán bồi thờng phải áp dụng các biện pháp để
tiến hành truy đòi ngời thứ ba nếu họ liên đới trách nhiệm trong trờng hợp
tổn thất xảy ra hoặc với các nhà bảo hiểm khác trên thị trờng tái bảo hiểm.

Công tác tuyên truyền quảng cáo là một trong số công cụ xúc tiến bán
hàng của các doanh nghiệp.
Quảng cáo là công cụ truyền thông phi cá nhân phải trả tiền. Truyền
thông đó có thể là về doanh nghiệp hay về sản phẩm và do một nhà tài trợ
xác định tạo ra và đợc truyền qua các phơng tiện thông tin đại chúng.
Các phơng tiện thông tin đại chúng truyền thống đợc sử dụng để quảng
cáo bao gồm: Vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, thử gửi trực tiếp, tạp chí
hay các phơng tiện ngoài trời nh bảng hiệu, áp phích. Mạng internet cũng
đang trở thành một dạng phơng tiện thông tin đại chúng đợc chấp nhận bởi vì
các doanh nghiệp bảo hiểm đã và đang xây dựng những website cho phép ng-
25

Trích đoạn Công tác tuyên truyền quảng cáo Phân tích hiệu quả kinh doanh bảo hiểm Phân tích hiệu quả triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển của Tỷ trọng và thị phần của nghiệp vụ Mục tiêu của PJICO trong việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status