Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 tại công ty cổ phần bảo hiểm Thái Sơn giai đoạn 2008 – 2010 - Pdf 23

Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của mình.
Trong bài luận văn tốt nghiệp, các số liệu là trung thực và xuất phát
từ tình hình thực tế của của công ty cổ phần bảo hiểm Thái Sơn.

Tác giả bài khoá luận tốt nghiệp.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Hoàng Văn Hưng
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT:
- GMIC Công ty cổ phần bảo hiểm Thái Sơn
- BH: Bảo hiểm
- HĐBH: Hợp đồng bảo hiểm.
- BHTNDS: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
- TNDS: Trách nhiệm dân sự.
- KTV: Khai thác viên.
- GĐV: Giám định viên.
- CSGT: Cảnh sát giao thông.
- KT-TK: Kế toán – Thống kê.
- GCNBH: Giấy chứng nhận bảo hiểm.
- GYCBH: Giấy yêu cầu bảo hiểm.
- ĐPHCTT: Đề phòng hạn chế tổn thất.
- Ban PHH: Ban phi hàng hải.
- ĐKBS: Điều Khoản bổ sung.
- TNDSHH: Trách nhiệm dân sự hàng hóa.
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
2
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm

ta cần phải tìm hiểu rõ về vấn đề này để phát huy một cách hiệu quả vai trò
tốt đẹp của bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3.
Với mục đích tìm hiểu, trao đổi, nghiên cứu sâu hơn về nghiệp vụ
bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, đánh giá về
phương thức triển khai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối
với người thứ 3. Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần bảo hiểm
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
3
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
Thái Sơn, em mạnh rạn chọn đề tài: “ Thực trạng triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 tại công ty cổ
phần bảo hiểm Thái Sơn giai đoạn 2008 – 2010 ”. Làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp của mình.
Với những ý kiến tham khảo và đánh giá dựa trên những biện pháp
tiến hành và các thành quả đã đạt được của công ty cổ phần bảo hiểm Thái
Sơn, em hy vọng sẽ đóng góp một phần cho công tác triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 cho các doanh
nghiệp bảo hiểm nói chung và cho công ty cổ phần bảo hiểm Thái Sơn nói
riêng.
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận bài khóa luận của em bao gồm 3
chương.
Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ
xe cơ giới đối với người thứ ba.
Chương 2 : Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ
xe cơ giới đối với người thứ 3 tại công ty cổ phần bảo hiểm Thái Sơn.
Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm triển khai tốt hơn
nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 tại công
ty cổ phần bảo hiểm Thái Sơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hữu Ái giảng viên khoa
Bảo Hiểm trường Đại học Lao Động Xã Hội đã nhiệt tình hướng dẫn em

Xe cơ giới là một loại xe chạy trên đường bộ, bằng chính động cơ của nó
và có ít nhất một chỗ ngồi. Xe cơ giới bao gồm rất nhiều loại xe khác nhau: Xe
mô tô 2 bánh, 3 bánh, xe ô tô chở người, chở hang hóa…và các loại xe chuyên
dung khác.
Khái niệm bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại hình bảo hiểm mà nguời
bảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người bảo hiểm
theo cách thức và hạn mức đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng với
điều kiện người tham gia bảo hiểm phải đóng một khoản phí tương ứng.
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
5
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
Mục đích của người tham gia chính là chuyển giao phần trách nhiệm dân
sự của mình mà chủ yếu là trách nhiệm bồi thường.
Khái niệm về bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ
ba.
Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là loại bảo
hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của chủ xe nên khái
niệm người thứ ba không bao gồm tất cả các nạn nhân bị thiệt hại về tài sản
hoặc tính mạng sức khỏe trong các vụ tai nạn do việc sử dụng xe gây ra.
( nguồn: wwwbaohiem24g.net).
Khái niệm người thứ ba.
Khái niệm người thứ ba chỉ bao gồm các nạn nhân mà trách nhiệm
bồi thường của chủ xe đối với thiệt hại của họ là loại trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo quy tắc bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới: bên thứ ba là
những người bị thiệt hại về thân thể hoặc tài sản do việc sử dụng xe cơ giới
gây ra, trừ những người sau:
Lái xe, phụ xe trên chính chiếc xe đó; Người trên xe và hành khách
trên chính chiếc xe đó Chủ sở hữu xe trừ trường hợp chủ sở hữu đã giao

hậu quả khi rủi ro xảy ra cho người tham gia bảo hiểm.
Hoạt động của xe cơ giới là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều nguy hiểm, tai
nạn rất dễ xảy ra. Khi rủi ro hay tai nạn bất ngờ xảy ra đều gây ra thiệt hại về
kinh tế, ảnh hưởng tới thu nhập, đời sống, sản xuất kinh doanh của các cá nhân,
doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, Thậm chí gây thiệt hại cả tính mạng. Hoạt
động bảo hiểm trước hết là nhằm khắc phục hậu quả của rủi ro và các nghiệp
vụ bảo hiểm xe cơ giới sẽ đảm bảo cho người tham gia bảo hiểm được trợ cấp
hoặc bồi thường về vật chất, tài chính để khắc phục hậu quả, ổn định đời sống,
sản xuất kinh doanh. Từ đó khôi phục và phát triển các hoạt động khác.
BHTNDS của chủ xe cơ không chỉ có vai trò to lớn đối với người bị
thiệt hại mà còn cả xã hội, nó là tấm lá chắn vững chắc cho các chủ xe khi
tham gia giao thông.
- Tạo tâm lý yên tâm, thoải mái, tự tin, khi điểu khiển các phương
tiện tham gia giao thông.
- Bồi thường chủ động, kịp thời cho chủ xe khi phát sinh TNDS,
trong đó có lỗi của chủ xe thì công ty bảo hiểm nơi mả chủ xe tham g ia ký
kết bảo hiểm tiến hành bồi thường nhanh chóng để các chủ xe phục
hồi lại tinh thần, ổn định sản xuất., phát huy quyền tự chủ về tài chính,
tránh thiệt hại về kinh tế cho chủ xe.
- Có tác dụng giúp cho chủ xe có ý thức trong việc đề ra các biện
pháp hạn chế, ngăn ngừa tai nạn băng cách thông qua bảo hiểm TNDS của
chủ xe.
- Góp phần xoa dịu, làm giảm bớt căng thẳng giữa chủ xe và người
bị nạn. Đây là mục đích cao cả trong nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ
xe đối với người thứ ba.
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
7
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
1.1.3.2 Bảo hiểm xe cơ giới góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất,
giúp cho cuộc sống của con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm

ưu hành gây tai nạn. Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước,
chỉ khi nào việc lưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe
đối với người thứ 3 thì đối tượng này mới được xác định cụ thể.
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
8
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
Bên thứ 3: là người bị thiệt hại về thân thể, tài sản do xe cơ giới gây
ra loại trừ người trên xe, lái phụ xe và hành khách trên chính chiếc xe đó.
TNDS là trách nhiệm được tính bằng tiền theo quy định của pháp
luật và sự phán quyết của toà án mà chủ xe phải gánh chịu do việc lưu hành
xe của mình gây thiệt hại cho bên bên thứ 3.
* Các điều kiện phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ 3:
- Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoẻ của bên thứ 3.
- Chủ xe (lái xe) phải có hành vi pháp luật. Có thể do vô tình hay cố
ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm các quy định
khác của Nhà nước...
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của chủ
xe (lái xe) với những thiệt hại của người thứ 3. Hành vi trái pháp luật phải
là nguyên nhân trực tiếp có ý thức quyết định dẫn đến thiệt hại thực tế xảy
ra, đó là kết quả tất yếu. Nếu không xác định được mối quan hệ này thì
không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp đó có những
hành vi trái pháp luật là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại, nhưng không
có mối quan hệ nhân quả không có trách nhiệm bội thường.
- Chủ xe phải có lỗi. Lỗi do trạng thái tâm lý của chủ xe nhận thức
được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó. Lỗi biểu hiện dưới hình
thức vô tình hay cố ý. Việc xác định hình thức và mức lỗi là căn cứ vào
diễn biến cụ thể của sự việc về thời gian, địa điểm, những điều kiện khách
quan và trình độ nhận thức của người gây thiệt hại. Lỗi là cơ sở để tính
toán trách nhiệm bồi thường của chủ xe khi gây ra tai nạn cho người thứ 3,
tuy nhiên không phải bất kỳ vụ tai nạn nào người lái xe cũng có lỗi. Thực

- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để tham gia giao
thông theo quy định của điều lệ trật tự an toàn giao thông đường bộ.
- Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông
đường bộ như:
- Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định an
toàn kỹ thuật và môi trường.
- Lái xe không có bằng lái hoặc bị tịch thu , bằng không hợp lệ.
- Lái xe bị ảnh hưởng của các chất kích thích như: rượu, bia,ma tuý...
- Xe chở chất cháy, chất nổ trái phép.
- Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau
khi sửa chữa.
- Xe đi vào đường cấm, đi đêm không có đèn, hoặc chỉ có đèn bên
phải.
- Thiệt hại do chiến tranh, bạo động.
- Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình
trệ sản xuất kinh doanh.
- Thiệt hại đối với tài sản bị cướp, mất cắp trong tai nạn.
- Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia, trừ khi có thoả thuận khác.
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
10
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
- Ngoài ra, người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm đối với tài
sản đặc biệt như vàng bạc, đá quý, tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài,
hài cốt.
- Tham gia bảo hiểm là giới hạn rủi ro được bảo hiểm và giới hạn
trách nhiệm của công ty bảo hiểm. Việc phân định các rủi ro được bảo
hiểm và các rủi ro loại trừ một mặt nhằm nâng cao ý thức trỏch nhiệm của
cỏc chủ phương tiện, mặt khác giúp công ty bảo hiểm giảm các vụ khiếu
lại.
1.2.3 Số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm.

hao phí vật chất và của chi phí y tế khác (thuốc men, dịch truyền, chi phí
chiếu chụp X quang).
+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập bị mất của người chăm sóc bệnh
nhân ( nếu có theo yêu cầu của bác sĩ trong trường hợp bệnh nhân nguy
kịch) và khoản tiền cấp dưỡng cho người mà bệnh nhân có nghĩa vụ nuôi
thường.
+ Khoản thu nhập bị mất hoặc giảm sút của người đó. Thu nhập bị
mát được xác định trong trường hợp bệnh nhân điều trị nội trú do hậu quả
của tai nụn. Nếu không xác định được mức thu nhập này, sẽ căn cứ vào
mức lương tối thiểu hiện hành. Khoản thiệt hại về thu nhập này không bao
gồm những thu nhập do làm ăn phi pháp mà có.
+ Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần.
- Trong trường hợp nạn nhân bị chết.
+ Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc, cứu chữa cho người thứ ba trước
khi chết (xác định tương tự như ở phần thiệt hại về sức khoẻ).
+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng người thứ ba (những chi phí do
hủ tục sẽ không được thanh toán).
+ Tiền trợ cấp cho những người mà người thứ ba phải cung cấp nuôi
dưỡng (vợ, cồng, con cái... đặc biệt trong trường hợp người thứ ba là lao
động chính trong gia đình). Khoản tiền trợ cấp này được xác định tuỳ theo
quy định của mỗi quốc gia, tuy nhiên sẽ được tăng thêm nếu hoàn tcảnh gia
đình thực sự khó khăn.
+ Tiền bồi thường tổn thất về mặt tinh thần cho những người thân
thích gần gũi nhất của nạn nhân.
+ Khi tính thiệt hại của con người chỉ tính đến những chi phí thực tế,
hợp lý.
+ Thu nhập của nạn nhân làm căn cứ tính phải là thu nhập chính
đáng, có tính chất thường xuyên và ổn định. Trường hợp nạn nhân bị mất
hoàn toàn khả năng lao động this được hưởng bồi thường cho tới khi chết.
* Xác định trách nhiệm bồi thường theo luật của người gây thiệt hại.

hại của người đi đường lại phát sinh trách nhiệm dân sự do đó bảo hiểm sẽ
bồi thường theo thiệt hại thực tế.
- Nếu hai hay nhiều xe cùng gây thiệt hại cho một hoặc một số người
thì các công ty bảo hiểm phải liên đới bồi thường cho nạn nhân theo mức
độ lỗi của họ gây ra.
Trách nhiệm bồi thường của mỗi bên = thiệt hại của nạn nhân x mức
độ lỗi của từng bên.
Trường hợp tai nạn xảy ra hoàn toàn do chất liệu, kết cấu, khuyết tật
của chủ xe hoặc lái xe gây ra vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ
thiệt hại cho dù họ không có lỗi.
1.2.3.2 Phí bảo hiểm.
* Khái niệm.
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm đóng cho
người bảo hiểm (công ty bảo hiểm) trên cơ sở mức trách nhiệm đã hình
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
13
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
thành nên quỹ tiền tệ tập trung đủ lớn và quỹ này dùng để bồi thường thiệt
hại khi xảy ra tai nạn phát sinh TNDS của chủ xe.
* Cách tính phí.
Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện: Người tham gia bảo
hiểm đóng phí bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 theo số
lượng đầu phương tiện của mình. Mặt khác các phương tiện khác nhau về
chủng loại, về độ lớn có xác suất gây ra tai nạn khác nhau. Do đó, phí bảo
hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phương tiện).
Phí bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 căn cứ
vào các yếu tố sau:
- Xác suất số vụ tai nạn phát sinh TNDS.
- TNDS phát sinh bình quân mỗi vụ tai nạn.
- Số xe tham gia bảo hiểm.

SixTi
f
1
1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
Ví dụ: Có số liệu thống kê 5 năm về tình hình tai nạn giao thông có
phát sinh TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, đối với xe có
trọng tải 3-5 tấn, như sau:
Năm
Số xe tham gia bảo
hiểm - Ci
(Chiếc)
Số vụ tai nạn- Si

(vụ)
Thiệt hại bình quân
1 vụ - Ti
(triệu đồng)
1 400.000 7000 5,1
2 700.000 10.200 5,4
3 650.000 9000 5,6
4 900.000 11.100 6,4
5 800.000 9. 250 6,9

Xác định phí bảo hiểm cho mỗi đầu xe trong năm thứ sáu, giả sử tỷ lệ phụ
phí là 20 %.
Trước hết ta tính phí thuần:
7000x5,1+10200x5,4+9000x5,6+11100x6,4+9250x6,9 276045
f = = =
34500000 34500000

năm
x Tỷ lệ phí ngắn hạn

Trường hợp đã đóng phí cả năm nhưng vào một thời điểm nào đó
phương tiện không hoạt động nữa hoặc chuyển chủ sở hữu mà không
chuyển quyền bảo hiểm thì chủ phương tiện sẽ được hoàn lại phí bảo hiểm
tương ứng với số thời gian còn lại của của năm (làm tròn tháng) nếu trước
đó chủ phương tiện chưa có khiếu lại nào và chưa được bảo hiểm bồi
thường.
Số phí hoàn lại được xác định như sau:
P
năm
x Số tháng xe không hoạt động
P
hoàn lại
=
12 tháng
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
16
P
ngắn hạn
P
năm.
x số tháng xe hoạt động
12 tháng
=
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
Ví dụ: Một chủ xe tham gia bảo hiểm TNDS với mức phí năm là
800.000 đồng. Nhưng khi xe hoạt động được 4 tháng thì bị hỏng không thể
tiếp tục hoạt động được nữa và trong thời gian trước khi ngừng hoạt động,

nạn, sau đó tiến hành giám định tổn thất.
* Giám định tổn thất: bao gồm giám định sơ bộ và giám định chi
tiết.
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
17
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
Ngay sau khi xảy ra tai nạn, đại diện doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cùng
với chủ xe hoặc đại diện chủ xe tiến hành điều tra sơ bộ về mức độ thiệt
hại. Việc giám định chi tiết sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm và chủ xe tiến
hành trước khi đưa xe đi sửa chữa. Sau khi đã xác định được chi tiết những
thiệt hại xảy ra,hai bên sẽ xây dựng phương án khắc phục và bồi thường.
Trong quá trình giám định nhất thiết phải có mặt cả đại diện của
doanh nghiệp bảo hiểm và nguời được bảo hiểm. Nhân viên bảo hiểm phải
chụp ảnh hiện trường và phối hợp với cơ quan công an để thu thập tư liệu
và lập biên bản giám định.
1.2.4.2 Công tác bồi thường.
Quy trình Giải quyết bồi thường của công ty bảo hiểm.
* Tiếp nhận và hoàn chỉnh hồ sơ.
Khi xảy ra tai nạn thuộc trách nhiệm bồi thường của công ty, nhà bảo
hiểm phải hướng dẫn và giúp chủ xe hoàn chỉnh hồ sơ đòi bồi thường, đồng
thời chủ xe phải cung cấp cho nhà bảo hiểm giấy tờ liên quan đến vụ tai
nạn. Thông thường một bộ hồ sơ đòi bồi thường như sau:
- Tờ khai tai nạn của chủ xe.
- Giấy yêu cầu đòi bồi thường.
- Biên bản khám nghiệm xe.
- Bản kết luận điều tra tai nạn (nếu có).
- Biên bản khám.nghiệm hiện trường.
- Chứng từ hoá đơn liên quan đến trách nhiệm của người thứ ba.
- Chỉ rõ nhận dạng nạn nhân và xe của họ, cung cấp tên và địa chỉ
những nhân chứng (nếu có).

+ Lái xe không có bằng lái hợp lệ.
+ Xe chở quá trọng tải hoặc số hành khách quy định...
Nói chung, trách nhiệm của các công ty bảo hiểm là giúp đỡ các đơn
vị, chủ xe có tai nạn xảy ra, động viên thường xuyên có khen thưởng xứng
đáng đối với những đơn vị thực hiện tốt công tác phòng ngừa, hạn chế tổn
thất. Đồng thời công ty bảo hiểm là người đảm bảo thanh toán, bồi thường
chính xác đầy đủ, kịp thời. Bảo hiểm luôn phối hợp cùng với các cơ quan
chức năng thực hiện tuyên truyền giác ngộ người tham gia bảo hiểm cũng
như việc chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông, thực hiện.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình triển khai nghiệp vụ bảo
hiểm TNDS bắt buộc của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3.
1.3.1 Các yếu tố chủ quan:
* Vốn của doanh nghiệp bảo hiểm: Vốn là một trong những điều
kiện tiền đề quan trọng của mọi hoạt động kinh doanh. Đối với công tác
triển khai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ
3 của các doanh nghiệp bảo hiểm, vốn giữ một vai trò rất quan trọng. Khi
có tiềm lực về vốn, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cải thiện hệ thống sản phẩm,
mở rộng phạm vi hoạt động, tăng chi đầu tư ban đầu cho các hoạt động
khai thác, ĐPHCTT, từ đó góp phần làm tăng doanh thu, giảm chi phí và
đồng thời làm tăng lợi nhuận cho công ty. Ngược lại, nếu không có đủ vốn
thì sản phẩm không được cải thiện, phạm vi hoạt động hẹp. Khả năng tài
chính thấp không đáp ứng được nhu cầu của lượng khách hàng tiềm năng
lớn như hiện nay sẽ dẫn tới nguy cơ thua lỗ.
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
19
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
* Công tác Marketing sản phẩm của nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của
chủ xe cơ giới đối với người thứ 3: Doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh về
nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 thì phải
có một quá trình tìm hiểu nhu cầu của thì trường về sản phẩm này. Từ đó

thuyết và giải quyết các thắc mắc của khách hàng, từ đó tạo niềm tin nơi
khách hàng và tạo tiền đề cho
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
20
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
* Dịch vụ chăm sóc khách hàng: Nếu như dịch vụ chăm sóc khách
hàng của các công ty bảo hiểm mà chu đáo thì sẽ chiếm lĩnh được niềm tin
của khách hàng và làm tăng uy tín cho công ty. Nghiệp vụ bảo hiểm TNDS
bắt buộc của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 là một nghiệp vụ mang tính
trừu tượng, vì vậy rất cần có sự tư vấn và chăm sóc của nhân viên chuyên
môn. Khi mà khách hàng còn chưa có được các thông tin cần thiết về sản
phẩm bảo hiểm thì họ sẽ chưa tham gia, khi đó nếu như các nhân viên
chăm sóc khách hàng cung cấp cho họ những thông tin cần thiết họ sẽ hiểu
và tham gia.
* Mạng lưới các đại lý, các địa điểm bán lẻ và các kênh phân phối về
bảo hiểm TNDS bắt buộc của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3: Nếu như
doanh nghiệp bảo hiểm triển khai một hệ thống đại lý và các kênh bán lẻ
lan rộng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả của công tác khai thác và tăng
doanh thu cho doanh nghiệp bảo hiểm.
* Các quyết định của công ty ban hành có liên quan tới nghiệp vụ
bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới cũng có tác động không nhỏ tới tình
hình triển khai nghiệp vụ này của công ty. Nếu công ty ban hành các quy
đình nhằm đảm bảo các quyền lợi cho khách hàng thì họ sẽ nhiệt tình tham
gia bảo hiểm tại công ty. Công ty có chế độ đãi ngộ tốt với nhận viên thì sẽ
có được đội ngũ nhân viên trung thành và có trách nhiệm với công việc.
1.3.2 Các yếu tố khách quan:
* Bối cảnh nền kinh tế thế giới: Nó có tác động không nhỏ tới hoạt
động kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm kéo theo đó nó
cũng tác động tới hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS bắt buộc
của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3. Khi mà nền kinh tế thế giới ổn định

trên địa bàn nước ta cũng ảnh hưởng tới kết quả hoạt động triển khai
nghiệp vụ bảo hiểm TNDS bắt buộc của chủ xe cơ giới đối với người thứ
ba. Nếu như số lượng xe tham gia giao thông trên địa bàn nước ta càng lớn
thì một điều chắc chắn là số lượng xe tham gia bảo hiểm cũng tăng lên và
làm tăng doanh thu cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Ngược lại, nếu số
lượng xe tham gia giao thông mà ít thì số lượng khách hàng tham gia bảo
hiểm xe cơ giới cũng ít theo và kéo theo doanh thu phí nghiệp vụ bảo hiểm
xe cơ giới tại các công ty bảo hiểm cũng thấp.
* Mức độ cạnh tranh về nghiệp vụ bảo hiểm TNDS bắt buộc của chủ
xe cơ giới đối với người thứ 3 của các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị
trường tác động tới kết quả triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này trên thị
trường. Theo thống kê của hiệp hội bảo hiểm năm 2011 có 29 doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ do vậy công tác triển khai nghiệp vụ bảo
hiểm này cũng gặp không ít khó khăn do phải cạnh tranh với nhiều công ty
bảo hiểm. Vì vậy việc đề ra các biện pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh
cho sản phẩm bảo hiểm của mình là rất cần thiết.
* Sự liên kết giữa các công ty bảo hiểm thông qua hiệp hội bảo hiểm.
Nếu như các công ty bảo hiểm có sự tương trợ và chia sẻ lẫn nhau thì sẽ tạo
được một thị trường bảo hiểm lớn mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm có thể
kết hợp với nhau để đồng bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm đối với nhứng hợp
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
22
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
đồng mang giá trị lớn. Thông qua đó sẽ xây dựng được một sân chơi lành
mạnh và cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp bảo hiểm.
1.4 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3.
* Đối với công tác khai thác:
+) Các chỉ tiêu mức độ khai thác như: Số hợp đồng khai thác, Doanh
thu phí bảo hiểm của các loại xe cơ giới..

+ Chỉ số hoàn thành kế hoạch ( i
HK
)
y
1
Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
23
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Bảo Hiểm
i
HK
=
y
k
+ Chỉ số thực hiện ( i )
y
1
i =
y
o
Trong đó: y
1,
y
o,
y
k
là mức độ khai thác kỳ báo cáo, kỳ gốc và kỳ kế
hoạch. Các mức độ trên (y
1,
y
o,

Số vụ cần giám định phát sinh trong năm

Số vụ còn tồn đọng
+) Tỷ lệ tồn đọng = x 100
Số vụ cần giám định phát sinh trong năm
+) Số vụ cần bồi thường phát sinh trong năm.
+) Số vụ cần bồi thường năm trước chuyển sang.
+) Số vụ đã bồi thường.
+) Số vụ còn tồn đọng.
Số vụ đã bồi thường
+) Tỷ lệ giải quyết bồi thường = x 100
Tổng số vụ cần bồi thường
Số vụ còn tồn đọng
+) Tỷ lệ tồn đọng = x 100
Tổng số vụ cần bồi thường
+) Tổng chi bồi thường.
+) Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn chi bồi thường ( ci)
Công thức:
Chi bồi thường năm i - Chi bồi thường năm i-1
ci = x 100
Chi bồi thường năm i-1
+) Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn chi bồi thường ( Ci).
Công thức:
Chi bồi thường năm i - Chi bồi thường năm gốc
Ci = x 100
Chi bồi thường năm gốc

Sinh viên: Hoàng văn Hưng Lớp: Đ3BH4
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status