ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
Đàm Thị Ngọc Thân
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA AXIT SILICIC
TỚI ĐIỆN TÍCH BỀ MẶT VÀ ĐẶC TÍNH KEO
CỦA KHOÁNG VẬT GƠTIT Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Khoa học Môi trường
(Chương trình đào tạo chất lượng cao)
Hà Nội – 2014
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm ở Bộ môn Thổ
nhưỡng và Môi trường đất, khóa luận tốt nghiệp này đã được hoàn thành với
tất cả nỗ lực và sự cố gắng. Kết quả này có được là từ sự chỉ bảo, giúp đỡ tận
tâm và nhiệt tình của thầy cô, anh chị, các bạn và sự lao động hăng say của bản
thân.
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở Bộ môn Thổ
nhưỡng và Môi trường đất
,
Khoa
Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự
nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em có thể
học tập và làm việc tại Bộ môn trong suốt những năm học vừa qua.
Đặc biệt, với lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc, em xin chân thành
cảm ơn TS. Nguyễn Quang Hải – Viện Thổ nhưỡng Nông hóa và TS. Nguyễn
Ngọc Minh – Bộ môn Thổ nhưỡng và Môi trường đất
,
Khoa
Môi trường,
trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ em
trong suốt quá trình em thực hiện khóa luận. Cảm ơn các thầy đã không quản
ngại khó khăn, chỉ dẫn, góp ý để em hoàn thành khóa luận này. Cảm ơn đề tài
Nafosted (Mã số: 105.08-2013.01) đã hỗ trợ kinh phí thực nghiệm.
Cuối cùng em xin gửi sự biết ơn chân thành tới người thân, bạn bè và
các anh chị em cùng làm việc trong phòng thí nghiệm Bộ môn Thổ
nhưỡng và Môi trường Đất đã luôn ở bên em, đó là nguồn động lực to lớn
Silic bị hấp phụ
T%
Độ truyền qua
PZC
Point of zero charge
Điểm chuyển điện
Ø
Đường kính
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
iii
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Ảnh hưởng của axit silicic tới khả năng phân tán của gơtit ở nền điện
ly 0,01 mol
c
L-1 22
Bảng 2. Ảnh hưởng của axit silicic tới khả năng phân tán của gơtit ở nền điện
ly 0,05 mol
c
L-1 24
Bảng 1. Sự hấp phụ Si lên gơtit ở nền điện ly 0,01 mol
c
L-1 Phụ lục 1
ở nền điện ly EB 0,05 mol
c
L
-1
20
Hình 7. Khả năng phân tán của gơ tit trong môi trường không có axit silicic ở
EB 0,01 mol
c
L
-1
21
Hình 8. Ảnh hưởng của axit silicic ở các mức nồng độ thấp (5 và 10 mg L
-1
) tới
đặc tính keo của gơtit ở EB 0,01 mol
c
L
-1
23
Hình 9. Ảnh hưởng của axit silicic ở các mức nồng độ cao (20 và 40 mg L
-1
)
tới đặc tính keo của gơtit ở EB 0,01 mol
c
L
-1
23
Hình 10. Ảnh hưởng của axit silicic ở các mức nồng độ thấp (5 và 10 mg L
-1
)
1.3. Silic trong đất 5
1.3.1. Hàm lượng của Si trong đất 5
1.3.2. Sự hòa tan khoáng vật chứa silic 5
1.3.3. Sự hấp phụ của silic lên bề mặt pha rắn 8
1.3.4. Vai trò của Silic trong đất 8
1.4. Điện tích bề mặt và đặc tính của hệ keo 9
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1. Đối tượng nghiên cứu 12
2.1.1. Gơtit 12
2.1.2. Dung dịch axit silcic 12
2.2. Phương pháp nghiên cứu 12
2.2.1. Xác định thành phần khoáng vật theo phương pháp nhiễu xạ tia X 12
2.2.2. Thí nghiệm hấp phụ Si 13
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
v
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
2.2.3. Xác định giá trị điện tích bề mặt (SC) 14
2.2.4. Thí nghiệm về ảnh hưởng của axit silicic tới đặc tính keo của gơtit 15
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
3.1. Thành phần và đặc tính cấu trúc của mẫu gơtit tổng hợp 16
3.2. Sự hấp phụ axit silicic lên bề mặt của gơtit 16
3.3. Ảnh hưởng của axit silicic đến điện tích bề mặt của gơtit 18
3.4. Ảnh hưởng của axit silicic tới đặc tính keo của gơtit 20
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
PHỤ LỤC 34
Phụ lục 1 - Số liệu phân tích 34
Phụ lục 2 - Một số hình ảnh thí nghiệm 39
2+)
hoặc âm (Fe-O
-
) [33].
Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra ảnh hưởng của pH và một số ion vô cơ tới
điện tích bề mặt và khả năng phân tán của gơtit [55]. Tuy nhiên, nghiên cứu về
ảnh hưởng của silic (mà cụ thể là axit silicic) tới đặc tính keo và điện tích bề mặt
của gơtit chưa được tiến hành mặc dù silic là một nguyên tố cơ bản và quan trọng
trong môi trường đất.
Xuất phát từ mục tiêu cung cấp thêm những ảnh hưởng của silic tự do
tới đặc tính keo và điện tích bề mặt của gơtit để bổ sung cho lý thuyết về sự ảnh
hưởng của axit silicic tới tính linh động của các loại oxit/hydroxit sắt trong môi
trường đất đồi núi, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài khóa luận: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của axit silicic tới điện tích bề mặt và đặc tính keo của khoáng
vật gơtit”. Đề tài được tiến hành với mục tiêu: 1) Nghiên cứu khả năng hấp phụ
silic lên khoáng vật gơtit; 2) Xác định ảnh hưởng của axit silicic đến điện tích
bề mặt của gơtit; 3) Nghiên cứu đặc tính keo của khoáng vật gơtit dưới ảnh
hưởng của axit silicic.
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
2
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sự hình thành và đặc điểm của các oxit sắt trong môi trường đất
1.1.1. Sự hình thành của các oxit sắt
Các oxit và oxyhydroxit sắt (sau đây gọi chung là oxit sắt) có mặt ở hầu
hết các loại đất [5], là sản phẩm của quá trình oxy hóa Fe
2+
3
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
có hàm lượng chất hữu cơ cao. Gơtit cũng có xu hướng chiếm ưu thế ở đất có
pH thấp.
Ferrihydrit: Ferrihydrit là oxit sắt có mức độ tinh thể hóa thấp (hoặc
dạng tinh thể nano) có mặt khá phổ biến trong đất, đặc biệt là trong tầng tích tụ
của đất hình thành trên nham thạch hay tầng B đất podzon [13,38,44]. Sự hình
thành ferrihydrit được thúc đẩy bởi quá trình oxy hóa nhanh của Fe đặc biệt khi
không có sự có mặt của các ion khác, O
2
, các silicat và CHC trong dung dịch
đất [10,12].
Lepidocrocit: Sự hình thành của lepidocrocit được thúc đẩy bởi những
điều kiện thoáng khí theo mùa ở những loại đất không phát triển trên nền đá
vôi. Nó hình thành khi có sự tích lũy Fe
2+
cùng với tốc độ oxy hóa chậm [4].
Lepidocrocit được tìm thấy trong đốm màu vàng ở vùng rễ cây [10,13,15],
thường xuất hiện cùng với gơtit. Lepidocrocit cũng được tìm thấy trong các loại
đất trong chuỗi đất ngập nước ở Ohio [52], những tác giả này đã kết luận rằng
sự hình thành của lepidocrocit diễn ra phổ biến trong những tầng đất có mức
độ bão hòa từ 5 - 50% thời gian trong năm và khi nhiệt độ đất > 5
o
C. Alekseev
và nnk (2005) phát hiện rằng lepidocrocit tập trung ở đáy tầng “hoạt động”
ngay trên tầng băng vĩnh cửu ở Nga [4].
Các dạng oxit sắt khác hình thành trong đất bao gồm schwertmannit từ
đất phèn và “rỉ xanh” tìm thấy ở đất ngập úng bởi Trolard và nnk (1997) [53].
1.1.3. Sự chuyển hóa của các oxit sắt trong môi trường đất
sự hình thành của hematit thay thế cho gơtit diễn ra khi nhiệt độ tăng cao, điều
kiện thoáng khí tốt, pH gần trung tính và chất hữu cơ đất bị chuyển hóa [23].
Ferrihydrit cũng thường xuất hiện ở dạng liên kết với gơtit và lepidocrocit
[10]. Trong phòng thí nghiệm, ferrihydrit có thể dễ dàng chuyển hóa thành
hematit [37,49]. Tuy vậy, ferrihydrit và hematit lại rất hiếm khi bắt gặp cùng
nhau trong đất, và điều này cho thấy sự chuyển hóa có thể đã diễn ra rất nhanh
chóng trong tự nhiên. Tuy vậy, Adamo và nnk (1997) phát hiện ferrihydrit cùng
tồn tại với cả hematit và gơtit trong sản phẩm phong hóa đá núi lửa bởi địa y.
Chúng xuất hiện ở những phần khác nhau của đá bị biến đổi [3].
1.2. Khoáng vật gơtit
Gơtit là một trong những khoáng vật của sắt phổ biến nhất trong đất do
đặc tính bền vững cao về mặt nhiệt động học. Con đường hình thành gơtit xuất
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
5
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
phát từ Fe
2+
bị oxy hóa để tạo ra một loại hợp chất Fe
3+
khác, sau đó kết lắng
và tạo thành gơtit hoặc ferrihydrit. Điều này giải thích cho việc gơtit thường
bắt gặp cùng với ferrihydrit trong một số loại đất. Ngoài ra, gơtit cũng có thể
được hình thành từ cả ion ion Fe
3+
trong dung dịch thông qua phát triển các tinh
thể hạt nhân trung tâm.
Về mặt cấu trúc, gơtit chứa các lớp bát diện kép gắn với các lớp kép khác
nhờ có chung các vị trí góc và các cầu nối hydro [15]. Gơtit có điểm chuyển
trung chủ yếu ở cấp hạt sét (<2 µm), là kết quả của quá phong hóa tạo thành
đất [5], bao gồm các khoáng vật phyllosilicat và oxit sắt (nhôm) [40].
Hình 1. Các dạng silic trong pha rắn của đất [48]
a. Oxit silic
Trong đất, khả năng hòa tan của các khoáng vật Si vô định hình cao hơn
(1,8 – 2 mM Si) so với quartz (0,10 – 0,25 mM Si) do khả năng hòa tan Si là
hàm của mật độ các tứ diện Si và kích thước, trật tự sắp xếp của tinh thể khoáng
vật [22,32,42]. Quartz vốn được biết tới là khoáng vật rất phổ biến trong môi
trường đất, có độ bền cao và có khả năng chống chịu với quá trình phong hóa,
trở thành khoáng vật cuối cùng được tinh thể hóa từ vật liệu ban đầu là macma
[22,40]. Quá trình hòa tan Si vô định hình thông qua phản ứng thủy phân tại
các pH < 9 theo phản ứng sau:
SiO
2
+ 2H
2
O = H
4
SiO
4
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
7
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
Khả năng hòa tan của Si sinh học tương đương với oxit Si vô định hình
(1,8 mM Si) và cao gấp 17 lần so với quartz [27]. Tỷ lệ Si giải phóng từ xác
thực vật như rơm rạ phụ thuộc vào phản ứng thủy phân xenlulo, điều này gợi ý
-
+ H
+
Phản ứng polymer hóa Si đạt trạng thái ổn định tại pH ~ 9 [18,19].
b. Khoáng vật silicat
Tốc độ phong hóa của các khoáng vật silicat đóng một vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển đất, khả năng đệm của đất có liên quan tới lắng đọng
axit, vòng tuần hoàn cacbon và vòng tuần hoàn của nhiều nguyên tố vô cơ đặc
trưng cho độ phì của đất [58]. Tốc độ hòa tan của một khoáng vật trong một
môi trường nhất định là hàm phụ thuộc vào các yếu tố cường độ (nhiệt độ, độ
ẩm, pH và Eh) và các yếu tố: vị trí hoạt động bề mặt, bản chất của khoáng vật
[45]. Kết quả này là hệ quả của quá trình tăng dần tính ổn định từ các khoáng
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
8
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
vật nguyên sinh kém bền vững nhất tới các khoáng vật silicat thứ sinh (ví dụ
kaolinit, allophan, nhôm, sắt oxit/hydroxit) [43].
Tốc độ hòa tan khoáng vật phụ thuộc chủ yếu vào cân bằng hóa học của
các quá trình tạo thành Si ở dạng tự do, các quá trình như tạo kết tủa thứ sinh,
hấp phụ và quá trình thực vật hút thu Si có thể thúc đẩy sự hòa tan các loại
khoáng vật [19,24]. Sự tập trung của các phân tử axit hữu cơ ở nồng độ cao
trong tầng hữu cơ dường như thúc đẩy quá trình phong hóa khoáng vật nguyên
sinh và thứ sinh thông qua tạo phức và ăn mòn do axit [7,9].
1.3.3. Sự hấp phụ của silic lên bề mặt pha rắn
Axit silicic có thể bị lấy đi khỏi dung dịch đất bởi nhiều phần tử trong
pha rắn của đất [39]. Mặc dù một lượng nhỏ Si bị hấp phụ bởi lên bề mặt các
khoáng sét thứ sinh [51] tuy nhiên oxit sắt và nhôm mới là những thành phần
trồng thông qua việc gia tăng tổng hợp chlorophyl và quang hợp. Si còn giúp
cây cứng chắc, chống đổ gẫy. Ngoài ra một vai trò rất được quan tâm hiện nay
đối với Si là làm tăng khả năng chống chịu của cây trồng trong các điều kiện
bất lợi về dinh dưỡng, hạn hán, sâu bệnh, tăng cường khả năng chịu mặn và
ngộ độc do kim loại nặng. Nhiều nghiên cứu cho thấy, Si giúp cây loại bỏ khả
năng bị ngộ độc mangan, sắt và nhôm vì Si giúp cây phân phối các nguyên tố
kim loại này một cách hợp lý. Nếu thiếu Si, các nguyên tố kim loại này tích trữ
không đều và gây ngộ độc. Bên cạnh đó, Si còn giúp loại bỏ sự mất cân đối
dinh dưỡng có hại giữa kẽm và photpho trong cây làm cho cây khỏe hơn.
Trong việc chịu hạn và mặn, Si giúp cây hạn chế thoát hơi nước, duy trì
nước trong lá ở mức cao, ổn định nhờ việc tạo thành lớp biểu bì kép silic-cutin
(sừng cứng). Mặt khác, sự gắn kết của phytolith với các tế bào biểu bì có thể
tạo ra những lớp màng giúp giảm tới 30% lượng thoát hơi nước. Điều này góp
phần quan trọng đối với khả năng chịu hạn của lúa.
Mặt khác, nếu hàm lượng Si trong đất dồi dào (nhờ quá trình hòa tan của
phytolith), sự cạnh tranh đối kháng sẽ giúp cây trồng hút thu Si thay vì asen và
tránh được sự tích lũy sinh học của asen vào chuỗi thức ăn.
Đối với quá trình hình thành đất
Si hòa tan đóng góp vào quá trình hình thành đất thông qua chu trình sinh
địa hóa của các nguyên tố, ví dụ như: (1) quá trình hình thành mới các khoáng
vật thứ sinh; (2) hấp phụ trên bề mặt của các hợp chất oxit (hydroxit) của sắt,
nhôm; (3) được hút thu bởi thực vật, trả lại cho lớp đất mặt dưới dạng silic sinh
học và bị rửa trôi cùng pha rắn của đất vào trong thủy quyển.
1.4. Điện tích bề mặt và đặc tính của hệ keo
Tính bền vững của hệ keo được tạo thành do sự cân bằng giữa lực đẩy
và ái lực giữa các hạt lơ lửng [44]. Nếu trong dung dịch lực đẩy chiếm ưu thế
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
10
oxit sắt, axit polysilicic có thể được tạo thành thông qua những tương tác đặc
biệt với axit silicic [19]. Do sự có mặt rộng rãi ở trong các loại đất khác nhau
[49], các oxit sắt đóng vai trò “điều khiển” nồng độ của axit silicic trong pha
lỏng của đất [39]. Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra ảnh hưởng của pH và
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
11
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
một số ion vô cơ tới điện tích bề mặt và khả năng phân tán của gơtit, tuy nhiên
nghiên cứu về ảnh hưởng của axit silicic tới đặc tính keo và điện tích bề mặt
của gơtit chưa được tiến hành do đó cho thấy tính cần thiết của của việc thực
hiện đề tài này.
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
12
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Gơtit
Mẫu gơtit (α-FeOOH) sử dụng trong nghiên cứu được tổng hợp nhân tạo
từ muối FeSO
4
.7H
2
O. Quy trình tổng hợp gơtit cụ thể như sau:
Hòa tan 13,9 g FeSO
4
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Xác định thành phần khoáng vật theo phương pháp nhiễu xạ tia X
Phương pháp nhiễu xạ bột được sử dụng để kiểm tra thành phần khoáng
vật trong mẫu gơtit tổng hợp được. Đây là một trong những phương pháp được
sử dụng rộng rãi nhất để xác định cấu trúc tinh thể thông qua việc sử dụng một
chùm tia X song song hẹp, đơn sắc chiếu vào mẫu. Người ta quay mẫu và quay
đầu thu chùm nhiễu xạ trên đường tròn đồng tâm và ghi lại cường độ chùm tia
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
13
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
phản xạ cũng như phổ nhiễu xạ [1]. Mẫu gơtit thu được từ quá trình tổng hợp
được đem đi phân tích nhiễu xạ trên máy D5005, Siemens để kiểm chứng về
mặt thành phần và tính đồng nhất của mẫu.
2.2.2. Thí nghiệm hấp phụ Si
Mẫu thí nghiệm được chuẩn bị từ dung dịch huyền phù gơtit hàm lượng
10 mg mL
-1
. Trong thí nghiệm, giá trị pH biến thiên từ 3 đến 10 và nồng độ Si
thay đổi từ 0 đến 40 mg L
-1
. Cách tiến hành như sau: lấy 2,5 mL dung dịch
huyền phù của gơtit, bổ sung 0, 10, 20, 30, 40 mL dung dịch (*), thêm HCl 0,5
N (hoặc NaOH 0,5 N) và NaCl 0,5 N để đạt được pH mong muốn. Thêm nước
cất hai lần để tổng thể tích của mỗi mẫu là 50 mL, nồng độ Si ở các mẫu lần
lượt là 0, 10, 20, 30, 40 mg L
-1
và nền điện ly trong dung dịch là 0,01 mol
c
: lượng Si (g) hấp phụ tính trên 1 Kg gơtit (g Kg
-1
):
C
0
, C
1
: lần lượt là nồng độ đầu vào và nồng độ còn dư của dung
dịch axit silic cho thí nghiệm hấp phụ silic (mg L
-1
)
V: thể tích mẫu (mL)
m: khối lượng gơtit trong V mL mẫu (mg)
Lượng dung dịch huyền phù còn lại của mỗi mẫu thí nghiệm được sử
dụng cho các thí nghiệm xác định biến thiên điện tích bề mặt và thí nghiệm
phân tán trên ống nghiệm.
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
14
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
2.2.3. Xác định giá trị điện tích bề mặt (SC)
Để xác định giá trị điện tích bề mặt của mẫu, nghiên cứu sử dụng thiết bị
phân tích bề mặt tích hợp với bộ chuẩn độ tự động (PCD 05, Mütek CHLB
Đức). Phương pháp này đã được nhắc tới trong nhiều nghiên cứu về hóa học
đất và đặc điểm điện động học của nhiều loại mẫu vật khác nhau (Weiss và nnk,
1989; Chen và nnk, 2004; Nguyễn Ngọc Minh và nnk, 2009) (trích theo [55]).
Kỹ thuật này dựa trên phương pháp phân tích thế zeta của dòng chuyển động.
Dung dịch huyền phù của mẫu vật được chuyển toàn bộ vào ống Teflon, đồng
thời với sự chuyển động tịnh tiến lên – xuống của pít – tông, hai điện cực bằng
. 10
6
trong đó:
q
:
lượng điện tích bề mặt có trong 1 Kg vật liệu (mmol
c
Kg
-1
)
V
:
thể tích dung dịch Poly-DADMAC (hoặc PES-Na) dùng để chuẩn
độ (mL)
N
:
nồng độ của dung dịch tham gia chuẩn độ (0,0002 N)
M
:
khối lượng mẫu (mg)
2.2.4. Thí nghiệm về ảnh hưởng của axit silicic tới đặc tính keo của gơtit
Ảnh hưởng của axit silicic đối với sự phân tán của gơtit trong dung dịch
được xác định theo phương pháp Lagaly với quy trình như sau:
Lắc đều và hút 10 mL dung dịch huyền phù của mỗi mẫu (A) chuyển vào
các ống nghiệm (Ø: 10 mm, V: 15 mL). Mẫu được phân tán bằng máy rung
siêu âm (TCP-40, Telsonic Thụy Điển) trong thời gian 1 phút, để lắng tự nhiên
ở nhiệt độ phòng trong 2h, sau đó hút cẩn thận 2 mL dung dịch ở phần trên
cùng của ống nghiệm chuyển vào cuvet. Độ truyền qua (T%) của dung dịch
được phân tích trên máy quang phổ khả kiến (Labnics, L-VIS-400) tại bước
sóng 380 nm [55]. Độ truyền qua lớn biểu thị cho dung dịch không bị vẩn đục
Khóa luận tốt nghiệp – 06/2014
17
Đàm Thị Ngọc Thân Khoa Môi trường
nnk [31]. Trong khoảng các pH thấp hơn 9, sự hấp phụ Si tăng cùng với sự tăng
pH. Trong khoảng pH này, dạng Si không phụ thuộc vào pH, chỉ tồn tại ở dạng
H
4
SiO
4
, do đó, sự hấp phụ Si theo pH chỉ phụ thuộc vào tương tác giữa Si với
bề mặt gơtit. (4a) EB 0,01 mol
c
L
-1
; (4b) EB 0,05 mol
c
L
-1
Hình 4. Sự hấp phụ silic lên gơtit theo pH ở các nền điện ly khác nhau
Theo quan điểm nhiệt động học, sự tương tác giữa Si với một proton (p)
bề mặt có thể khái quát lại theo phản ứng tổng quát như sau [31]:
≡RH
m
+ H