BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
DƢƠNG THỊ NGA
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÍCH ỨNG NGHỀ
CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƢ PHẠM
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC
Mã số: 62 14 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TSKH. NGUYỄN VĂN HỘ
2. PGS.TS. NGUYỄN ĐỨC TRÍ THÁI NGUYÊN - 2012
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
3.1. Khách thể nghiên cứu 3
3.2. Đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
6.1. Về đối tượng 4
6.2. Về nội dung 4
6.3. Về địa bàn, thời gian nghiên cứu 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
7.1. Phương pháp luận 4
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 4
8. Các luận điểm cần bảo vệ 5
9. Những đóng góp mới của luận án 6
9.1. Về lý luận 6
9.2. Về thực tiễn 6
10. Cấu trúc của luận án 6
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC THÍCH ỨNG NGHỀ CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG
SƢ PHẠM 7
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước 12
1.2. Các khái niệm cơ bản 14
1.2.1. Năng lực 14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
THÍCH ỨNG NGHỀ CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƢ
PHẠM CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC 42
2.1. Khái quát về đặc điểm các trường cao đẳng sư phạm các tỉnh miền
núi phía Bắc 42
2.1.1. Khái quát về đặc điểm và hoạt động giáo dục ở trường Cao đẳng
Sư phạm các tỉnh miền núi phía Bắc 42
2.1.2. Khái quát về đặc điểm sinh viên Cao đẳng Sư phạm các tỉnh
miền núi phía Bắc 43
2.2. Thực trạng vấn đề phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên
Cao đẳng sư phạm các tỉnh miền núi phía Bắc 44
2.2.1. Khái quát chung về khảo sát thực trạng 44
2.2.2. Kết quả khảo sát 46
2.2.3. Nguyên nhân của thực trạng trên 63
2.3. Những vấn đề thực tiễn đặt ra trong việc phát triển năng lực thích ứng
nghề cho sinh viên cao đẳng sư phạm các tỉnh miền núi phía Bắc
trong giai đoạn hiện nay 69
Tiểu kết chương 2 72
Chƣơng 3. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÍCH ỨNG
NGHỀ CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƢ PHẠM 73
3.1. Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo đáp ứng mục tiêu giáo dục ở trường Cao đẳng
Sư phạm 73
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển 73
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 120 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
XIN ĐỌC LÀ
CBQL
Cán bộ quản lý
CĐSP
Cao đẳng Sư phạm
ĐC
Đối chứng
ĐTB
Điểm trung bình
GV
Giảng viên
HS
Học sinh
HSSV
Học sinh sinh viên
NL
Năng lực
NLTƯ
Năng lực thích ứng
Bảng 2.9. Bảng tổng hợp kết quả điều tra mức độ tham gia các hoạt
động có tác dụng phát triển NLTƯ nghề của SV 60
Bảng 3.1. Bảng kết quả thực hiện phiếu đánh giá NLTƯ đầu vào đối
với SV CĐSP Thái Nguyên 96
Bảng 3.2. Tần suất điểm thực hiện kiểm tra đầu ra tại CĐSP Thái Nguyên 96
Bảng 3.3. Tần suất lũy tích điểm thực hiện kiểm tra đầu ra đối với SV
CĐSP Thái Nguyên 97
Bảng 3.4. So sánh các giá trị trung bình (
X
) điểm thực hiện kiểm tra
đầu ra đối với SV CĐSP Thái Nguyên 99
Bảng 3.5. Phân tích giá trị phương sai (2) điểm thực hiện kiểm tra
đầu ra đối với SV CĐSP Thái Nguyên 100
Bảng 3.6. Bảng kết quả thực hiện kiểm tra đầu vào đối với SV CĐSP
Tuyên Quang 101
Bảng 3.7. Tần suất điểm thực hiện kiểm tra đầu ra tại CĐSP Tuyên Quang 101
Bảng 3.8. Tần suất lũy tích điểm thực hiện kiểm tra đầu ra đối với SV
CĐSP Tuyên Quang 102
Bảng 3.9. So sánh các giá trị trung bình (
X
) điểm thực hiện kiểm tra
đầu ra đối với SV CĐSP Tuyên Quang 104
Bảng 3.10. Phân tích giá trị phương sai (2) điểm thực hiện kiểm tra
đầu ra đối với SV CĐSP Tuyên Quang 105 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
cần đảm bảo các yêu cầu: có kiến thức hiện đại, kỹ năng thực hành nghề
nghiệp vững chắc, có khả năng lao động sáng tạo, có tư duy độc lập, phê phán
và năng lực giải quyết vấn đề, có khả năng thích ứng cao với những biến động
của thị trường lao động, có khả năng sử dụng tiếng Anh trong học tập, nghiên
cứu và làm việc sau khi tốt nghiệp Để đáp ứng được những yêu cầu đó, SV
cần có năng lực thích ứng (NLTƯ) và năng lực thích ứng nghề.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở các trường Cao đẳng, Đại học nói chung
và các trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) nói riêng, không ít SV còn chưa
xác định rõ mục tiêu, lý tưởng, động cơ nghề nghiệp của mình, khả năng thích
ứng với hoạt động học tập và rèn luyện nghề còn nhiều hạn chế, hầu hết các
em chưa được trang bị những tri thức cần thiết để hình thành và phát triển
NLTƯ, chưa có kĩ năng, thậm chí chưa sáng tỏ các nội dung thích ứng nghề
của bản thân, vì thế các em gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học tập và
rèn luyện, nhiều em còn băn khoăn hoang mang với sự lựa chọn nghề của
mình. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hứng thú, kết quả học tập và rèn
luyện nghề nghiệp của các em. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Mặt khác, thực tiễn cho thấy còn có những hạn chế nhất định đối với
chất lượng SV CĐSP sau khi tốt nghiệp. Nhiều SV chưa chuẩn bị tố t cho tâm
thế sẵn sàng tham gia vào hoạt động nghề nghiệp, các em còn lúng túng và khó
thích nghi với những yêu cầu của môi trường lao động nghề nghiệp trong thực
tế - môi trường có nhiều điểm khác biệt với những lý thuyết mà các em được
tiếp thu ở trường CĐSP. Khả năng để thích ứng với nghề dạy học và đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của giáo dục hiện đại còn nhiều hạn chế. Điều này ảnh
hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo nghề ở các trường CĐSP trong giai
đoạn hiện nay.
Quá trình đào tạo sinh viên tại các trường Cao đẳng Sư phạm.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên các trường CĐSP.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Phát triển NLTƯ nghề cho SV CĐSP là một nhiệm vụ quan trọng nhằm
giúp SV đáp ứng những yêu cầu của nghề dạy học. Tuy nhiên thực tế hiện
nay, nhiệm vụ này chưa được quan tâm đúng mức trong quá trình đào tạo ở
các trường CĐSP. Việc phát triển NLTƯ nghề cho SV CĐSP sẽ đạt hiệu quả
cao nếu làm sáng tỏ được cơ sở khoa học xác đáng về năng lực thích ứng
nghề và xây dựng được các biện pháp như: Đa dạng hóa các hình thức tổ chức
trong hoạt động rèn luyện NVSP thường xuyên; Phối hợp chặt chẽ giữa giảng
viên CĐSP với các giáo viên phổ thông trong giáo dục nghề nghiệp cho SV;
Phát triển NL tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện cho SV; Có hình thức tư vấn
về nghề hợp lý cho SV tại trường CĐSP, thì sẽ phát triển một cách bền
vững năng lực thích ứng nghề để nâng cao chất lượng đào tạo SV CĐSP.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về NLTƯ nghề và phát triển
NLTƯ nghề cho SV CĐSP.
5.2. Đánh giá thực trạng việc phát triển NLTƯ nghề của SV CĐSP các
tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay và những vấn đề liên quan.
5.3. Đề xuất các biện pháp nhằm phát triển NLTƯ nghề cho SV CĐSP.
5.4. Tiến hành thực nghiệm một số biện pháp phát triển NLTƯ nghề
cho SV CĐSP.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Việc phát triển NLTƯ nghề cho SV CĐSP liên quan tới nhiều nhóm
đối tượng và được thực hiện bằng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, qua Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
- Phương pháp chuyên gia
Tiến hành trao đổi, xin ý kiến các chuyên gia giáo dục đại học bao
gồm các nhà giáo, cán bộ quản lý, các cán bộ nghiên cứu, trong quá trình
nghiên cứu về cả mặt lý thuyết và thực tiễn của đề tài nhằm thu thập, bổ
sung thông tin,
- Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát hoạt động của GV, SV CĐSP qua các tiết dạy và
các hoạt động sư phạm khác để tìm hiểu rõ việc phát triển NLTƯ nghề cho
SV CĐSP.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng đối với một số biện
pháp tác động đã đề xuất để khẳng định tính hiệu quả và khả thi của chúng
trong việc phát triển NLTƯ nghề cho SV CĐSP.
- Các phương pháp khác
Vận dụng phương pháp thống kê toán học: Các số liệu đã điều tra được
được xử lý bằng hệ thống phần mềm Microsof Excel 2010, nhằm xác định các
tham số đặc trưng mang tính khách quan khoa học.
Phương pháp lưu trữ đề tài: Bằng bản mềm dữ liệu số và văn bản.
8. CÁC LUẬN ĐIỂM CẦN BẢO VỆ
- NLTƯ nghề của SV CĐSP bao gồm các thành tố: NLTƯ với việc tự
học và hoàn thiện các phẩm chất nhân cách của người giáo viên trong xã hội
luôn thay đổi; NLTƯ với quá trình đào tạo nghề ở trường sư phạm và sự thay
đổi của hoàn cảnh cá nhân; NLTƯ với hoạt động dạy học; NLTƯ với hoạt
động giáo dục; NLTƯ với yêu cầu phát triển chuyên môn liên tục của người
giáo viên; NLTƯ với thực tế giáo dục ở trường phổ thông; NLTƯ với các
quả và khả thi của một số biện pháp trong giáo dục nghề cho SV.
10. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm có phần mở đầu, 03 chương và phần kết luận khuyến nghị.
Chương 1: Cơ sở lí luận về vấn đề phát triển năng lực thích ứng nghề
cho SV CĐSP.
Chương 2: Thực trạng việc phát triển năng lực thích ứng nghề cho SV
CĐSP các tỉnh miền núi Phía Bắc.
Chương 3: Biện pháp phát triển năng lực thích ứng nghề cho SV CĐSP. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
THÍCH ỨNG NGHỀ CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƢ PHẠM
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Xã hội càng phát triển càng đòi hỏi con người phải có khả năng thích
ứng ở trình độ cao. Những nghiên cứu khoa học về sự thích ứng sẽ giúp con
người mở ra nhiều khả năng mới trong việc chinh phục và cải tạo thế giới,
hoàn thiện nhân cách. Trên thế giới đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu
về vấn đề thích ứng và thích ứng nghề.
"Thích ứng" hay "thích nghi" - Những thuật ngữ được sử dụng khá phổ
biến, đặc biệt trong các công trình nghiên cứu về sinh vật học, chúng mang ý
nghĩa chỉ những sự thay đổi của cơ thể sinh vật cho phù hợp với sự thay đổi
của các điều kiện và môi trường sống xung quanh. Đầu thế kỉ 20, thuật ngữ
"thích ứng" được sử dụng trong tâm lí học và ngày càng được nghiên cứu
rộng rãi trong khoa học này và một số ngành khoa học xã hội khác như khoa
học giáo dục, kinh tế học, xã hội học.
tiến hành phân tích những nguyên lý của sự hình thành và phát triển tâm lý
con người dựa trên cơ sở của sự thích ứng, trong đó cơ chế thích ứng là cơ
chế cơ bản của sự hình thành tâm lý người. Từ đó, ông cho rằng đối tượng
nghiên cứu của tâm lý học chính là: "nghiên cứu mối quan hệ giữa các quan
hệ bên trong và quan hệ bên ngoài" và ông khẳng định đó chính là: Bản chất
của quá trình thích ứng của cá thể [77].
Tác giả Côvaliep A. G. đã chỉ rõ: Trong xã hội hiện đại, khi mức độ
tích cực xã hội của SV bị sụt giảm, trong điều kiện đó, nhất thiết phải xác
định được các cơ chế nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình thích ứng của SV,
đưa ra được các phương tiện phát triển quá trình này, và do đó cần biên soạn
tài liệu phương pháp khoa học cho các nhà giáo dục bậc đại học để giáo dục
sự thích ứng cho SV,… [88].
Về vấn đề này, Ilin E. P. và Nhikitin V. A. cũng khẳng định rằng: Tính
hiệu quả của quá trình giáo dục và việc xây dựng “sức khoẻ’ đạo đức và tâm
lý trong quá trình giáo dục sẽ phụ thuộc vào vấn đề SV thích ứng với tốc độ
như thế nào với các điều kiện, hoàn cảnh mới [86], [89].
Super D. E., và Knasel E. G. trong nghiên cứu của mình đã cho rằng:
Sự phát triển nghề của giới trẻ được phát triển gợi mở và sự thích ứng trở
thành một NL chính dẫn đến sự thành công về nghề nghiệp [83]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Nghiên cứu của tác giả Rôxtunốp A. Kh. về thích ứng nghề của SV
nhận định: Sự thích ứng là một quá trình tiếp cận phức tạp của SV đối với các
điều kiện và nhiệm vụ của các trường đại học, nhờ sự “rung động” về tâm lý
và đạo đức của họ nhằm phù hợp với các đòi hỏi mới của hoạt động. Việc
nghiên cứu và tìm kiếm các yêu cầu và phẩm chất “mẫu mực” về giáo dục xã
hội và tâm lý học của sự thích ứng nghề nghiệp đã buộc chúng ta phải nêu ra
cân bằng xã hội, là sự khẳng định bản thân trong cuộc sống - tất cả những
điều đó đã đặt ra mục đích và nội dung của nền giáo dục thực hành [84]. Định
nghĩa này không nhằm khám phá khái niệm mà chỉ đề cập đến sự cân bằng
mang tính xã hội và yếu tố này đã ảnh hưởng như thế nào đến quá trình thích
ứng mà thôi.
Theo quan điểm của Parơxôn J. thì sự thích ứng được xem như là hành
động tương hỗ mạnh mẽ với môi trường bên ngoài, là một trong những chức
năng để thực hiện hệ thống xã hội, cùng với việc đạt tới mục đích và lưu giữ
được toàn bộ các hình mẫu (khuôn mẫu) [93].
Theo quan điểm của tác giả Klimốp E. A. thì phần lớn các nghề nghiệp
đã không đưa ra được đòi hỏi tuyệt đối đối với con người. Vấn đề tìm kiếm tài
năng chỉ xuất hiện trong lựa chọn các nghề có tính sáng tạo, nghệ thuật, công
tác khoa học, đào tạo phi công, nhà giải phẫu; đa phần các nghề đều có thể
phù hợp với những người có NL bẩm sinh bình thường chỉ cần có thời gian
học tập ít hoặc nhiều là có thể thích nghi được với công việc, “tìm được bản
thân” [87 tr.46 ].
Trong Tâm lý học không thể bỏ qua những công trình nổi tiếng Piaget J.,
Nhà tâm lý học nhận thức người Thụy Sĩ, các công trình nghiên cứu của ông
về sự phát triển trí tuệ của trẻ cũng đề cập đến vấn đề thích ứng. Ông cho
rằng: "Trí thông minh là một sự thích nghi", ông khẳng định: "Sự thích nghi
là một sự cân bằng giữa đồng hoá và điều ứng". Từ đó, Piaget đã kết luận:
Giáo dục chính là quá trình giúp đứa trẻ thích ứng với môi trường xã hội của
người lớn [47].
Theo tác giả Duranốp, sự thích ứng trong giáo dục phải được xem xét
như là sự tham gia của cá nhân vào môi trường văn hoá xã hội, như là một
“quá trình” mà ở đó các thông số chủ yếu của tính cách xã hội của cá nhân
phải diễn ra phù hợp với các điều kiện mới của giáo dục [85].
Nghiên cứu về sự thích ứng nghề nghiệp của SV đại học, tác giả
Xtôliarenkô L. Đ. cho rằng: SV là sự tập hợp nhiều người cùng chung mục
đích, phương hướng, là phải nắm vững kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp bằng
nghề,…). Những nhân tố thích ứng nghề có mối quan hệ nội hàm và bị ảnh
hưởng bởi nhiều nhân tố khác,… [78].
Tác giả Rottinghaus, Day và Borgen năm 2005, trong một công trình
nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thích ứng nghề là xu hướng mà mỗi cá nhân đưa
ra khả năng của bản thân để xây dựng và điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp
của mình, đặc biệt là đối mặt với những tình huống không biết trước. Đề cập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
đến tiến trình, tầm quan trọng của mối quan hệ giao thoa giữa môi trường làm
việc và NL của mỗi cá nhân, nhấn mạnh đến khả năng điều chỉnh và vấn đề
mà mỗi cá nhân phải đối mặt, khả năng xoay sở với những vấn đề rắc rối về
nghề nghiệp,…[79].
Ngoài ra, tác giả Duffy R. D., và Blustein D. L. cũng cho rằng: Khả
năng thích ứng nghề được hiểu như là sự tự quyết định về nghề, sự tự lựa
chọn nghề, tự mong muốn đạt được những kết quả nhất định về nghề, tìm
kiếm những trường học nghề phù hợp với khả năng của mình,…[76].
Khái quát các nghiên cứu trên thế giới về vấn đề thích ứng và thích
ứng nghề cho thấy: Các nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở việc nghiên cứu
những vấn đề lý luận chung về thích ứng, thích ứng học tập, thích ứng
nghề của SV và người lao động. Còn thiếu các công trình nghiên cứu cụ
thể về NLTƯ nghề của SV sư phạm cũng như các biện pháp phát triển
NLTƯ nghề cho SV.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nƣớc
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thích ứng nghề và thích ứng
nghề sư phạm chưa được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Các công trình
nghiên cứu về vấn đề này còn chưa có hệ thống.
Năm 1981, tác giả Bùi Ngọc Dung có đề tài: "Bước đầu tìm hiểu sự
Sư phạm… [32], [33], [34].
Năm 2006, tác giả Nghiêm Thị Đương với đề tài: "Nghiên cứu xu
hướng nghề Sư phạm của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ - Mẫu giáo
TƯ 1", đã xây dựng một hệ thống lý luận về nghề Sư phạm của SV CĐSP
Nhà trẻ - Mẫu giáo, đưa ra một số biện pháp nhằm hình thành xu hướng nghề
Sư phạm cho SV CĐSP nhà trẻ mẫu giáo [24].
Ngoài ra còn khá nhiều các tác giả có các công trình nghiên cứu, các
bài báo khoa học về thích ứng học tập và thích ứng nghề của SV, nhưng chủ
yếu dừng lại ở việc mô tả các biểu hiện tâm lý và thực trạng của thích ứng
nghề và thích ứng học tập của SV [3], [22], [23], [30], [39], [52], [53],
Khái quát các kết quả nghiên cứu trên có thể rút ra kết luận:
- Thích ứng nói chung và thích ứng nghề nói riêng là vấn đề được khá
nhiều các tác giả trên thế giới đi sâu nghiên cứu. Tuy nhiên vấn đề này ở
Việt Nam còn chưa được quan tâm nghiên cứu rộng rãi, các công trình
nghiên cứu còn chưa có hệ thống, còn để nhiều khoảng trống cả về lý luận
và thực tiễn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
- Những kết quả nghiên cứu chủ yếu xoay quanh các vấn đề tâm lý
của sự thích ứng học tập, thích ứng nghề, một số biện pháp giúp các bạn trẻ,
người lao động thích ứng nghề. Tuy việc nghiên cứu cụ thể về NLTƯ nghề
sư phạm vẫn còn khoảng trống, song trong quá trình tiếp cận, các tác giả khi
nghiên cứu về thích ứng nghề đều khẳng định thích ứng nghề là một thuộc
tính của con người và cũng là một biểu hiện năng lực của cá nhân.
- Những kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn, giúp
cho thế hệ trẻ và những người lao động nói chung đáp ứng những yêu cầu của
hoạt động nghề nghiệp, tạo ra hiệu quả tốt nhất trong lĩnh vực này. Tuy nhiên việc
thành viên trong xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chọn một nghề
nghiệp phù hợp với khả năng cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết
quả hơn, và cảm thấy hạnh phúc khi lao động" [8].
1.2.2. Thích ứng
Thích ứng là khái niệm được dùng rộng rãi trong cả khoa học và đời
sống xã hội, thường dùng đồng nghĩa với thích nghi.
Theo chúng tôi, "thích nghi" thường được dùng với ý nghĩa sinh học,
còn "thích ứng" thường được dùng trong hoạt động tâm lý - xã hội. Có thể coi
"thích ứng" là quá trình biến đổi đời sống tâm lý và hệ thống hành vi cá nhân
để đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của những điều kiện sống mới và
hoạt động mới. Nhờ sự "thích ứng" chủ thể hình thành những cấu tạo tâm lý
mới, thậm chí trong những điều kiện nhất định có thể cải biến lại chính môi
trường sống.
Như vậy, sự "thích ứng" được bắt đầu ở thời điểm con người làm quen
với điều kiện sống mới, hoạt động mới và kết thúc ở sự hình thành được hệ
thống ứng xử phù hợp đảm bảo cho cá nhân hoạt động và giao tiếp có kết quả.
Điều đó có nghĩa là: Các ứng xử đặc trưng phù hợp với yêu cầu, điều kiện
sống và kết quả hành động cá nhân là chỉ số khách quan cơ bản để đánh giá
trình độ thích ứng của cá nhân.
1.2.3. Nghề và nghề nghiệp
Theo Đại từ điển tiếng Việt, nghề được hiểu là "công việc chuyên làm
theo sự phân công của xã hội" [66]. Có thể hiểu: Nghề là một lĩnh vực hoạt
động lao động mà trong đó, con người sử dụng những tri thức, những kỹ năng
để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được
những nhu cầu của xã hội và bản thân.
Nghề nghiệp (career, profession, de carrière, карьера, ) theo nghĩa
Latinh có nghĩa là công việc chuyên môn được định hình một cách hệ thống, là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
đó khi xem xét NLTƯ nghề ta nên phân tích nó dựa vào những yêu cầu cơ
bản về phẩm chất và NL nghề nghiệp, cần nhìn nhận nó như một NL đặc biệt
vừa mang tính phổ biến vừa mang tính độc đáo.