hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần bia sài gòn – hà nam - Pdf 22

MỤC LỤC
4.3.1 Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
dưới góc độ kế toán tài chính 76
4.3.2 Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
dưới góc độ kế toán quản trị 81
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT Viết tắt Nội dung/nghĩa đầy đủ
1
NVL Nguyên vật liệu
2
NCTT Nhân công trực tiếp
3
CP SXC Chi phí sản xuất chung
4
BHXH Bảo hiểm xã hội
5
BHYT Bảo hiểm y tế
6
KPCĐ Kinh phí công đoàn
7
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
8
GTGT Giá trị gia tăng
9
CCDC Công cụ dụng cụ
10
TK Tài khoản
11
TSCĐ Tài sản cố định
12
SPDD Sản phẩm dở dang

Chính vì vậy, để từng bước phù hợp với sự biến đổi của nhu cầu, sản phẩm bia đã có một
quá trình biến đổi từ thấp đến cao và ngày nay nó càng ngày càng trở thành một sản
phẩm thiết yếu phục vụ con người.
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải có
phương án sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao. Nền kinh tế thị trường tất yếu
phải có cạnh tranh, không những cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước mà còn
với doanh nghiệp nước ngoài. Trên thị trường nước ta có rất nhiều các nhà máy cung cấp
bia, ví dụ một số hãng bia lớn như: bia Hà Nội, bia Sài Gòn, bia Heniken và rất nhiều
nhà máy bia khác xuất hiện ở các tỉnh thành trong cả nước tất cả đã tạo nên một sự cạnh
tranh hết sức khốc liệt và đầy sôi động. Bất kỳ một chủ sở hữu vốn nào cũng luôn quan
tâm đến sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp mình. Mục đích của các nhà quản lý là
làm sao có được lợi nhuận cao nhất. Để đạt được mục đích này, các doanh nghiệp phải
sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Một trong những biện pháp hiệu quả mà hầu hết các
doanh nghiệp đều áp dụng đó là phấn đấu không ngừng tiết kiệm chi phí sản xuất
(CPSX), hạ giá thành sản phẩm. Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí chiếm một tỷ
trọng lớn và có tính quyết định đến giá thành sản phẩm. Chi phí và giá thành được coi là
hai chỉ tiêu cơ bản, có mối quan hệ khăng khít với nhau trong hệ thống chỉ tiêu kinh tế tài
chính của một doanh nghiệp nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp trong
từng chu kỳ kinh doanh. Tiết kiệm CPSX và hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa to lớn đối
với việc tăng tích lũy của doanh nghiệp, đóng góp cho nền kinh tế. Để tiết kiệm CPSX,
hạ giá thành sản phẩm, yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện tổ chức kế toán tập hợp
CPSX và tính giá thành sản phẩm. Công tác này đã được ngày càng quan tâm hơn song
chưa toàn diện, chưa được hoàn thiện cả về mặt lý luận và thực tiễn. Thông tin về kế
toán CPSX và tính giá thành sản phẩm chưa được thu thập, xử lý và cung cấp một cách
kịp thời có hiệu quả cho các đối tượng sử dụng thông tin, nhất là đối với các nhà quản lý
kinh tế. Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đòi hỏi phải có sự nghiên
cứu mang tính lý luận và thực tiễn về tổ chức kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành
sản phẩm phục vụ cho việc đề ra các quyết định kinh tế, nhằm nghiên cứu, bổ sung và
hoàn thiện cả về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó giúp cho công tác kế toán tập hợp CPSX
và tính giá thành sản phẩm có thể cung cấp những thông tin kinh tế tin cậy, có hiệu quả

sâu dưới góc độ kế toán quản trị.
Tác giả Nguyễn Thị Tú Oanh (năm 2005) đề cập đến một khía cạnh khác trong
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm với việc tăng cường quản trị chi phí tại tổng công ty
Sông Đà”, trong bài viết này tác giả đã nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm dưới cả hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị, tuy nhiên tác giả
4
lại đề cao việc hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dưới góc độ kế toán
quản trị một cách chuyên sâu hơn, đặc biệt là vấn đề quản trị chi phí, một trong những
vấn đề rất quan trọng hiện nay đối với những nhà quản lý.
Ngoài ra còn rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm, tuy nhiên mỗi tác giả lại có một cách tiếp cận, cách nghiên cứu,
một cách nhìn khác nhau, và mỗi tác giả lại nghiên cứu trong mọi lĩnh vực ngành nghề
khác nhau, nhưng mục đích chính của những bài nghiên cứu đó là tìm ra những hướng đi
tích cực nhất cho các doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Như bài viết của các tác giả, tác
giả Nguyễn Đức Thanh (2006) “ Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành tại Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam”, tác giả Tô Thị Thiên Nga
(2008) “ Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phục vụ quản trị
chi phí của các doanh nghiệp linh kiện xe gắn máy miền Bắc”, tác giả Lê Thị Hiếu
(2009) “ Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các
doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ôtô tại Việt Nam”.
Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống hóa được các nội
dung cơ bản của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành phẩm dưới góc độ kế toán tài
chính và góc độ kế toán quản trị và đề xuất các phương hướng hoàn thiện dưới cả hai
góc độ ứng dụng vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của đề tài. Mặc dù vậy
tất cả các công trình nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm tại các công ty bia nói chung, cụ thể là công ty cổ phần bia Sài Gòn –
Hà Nam nói riêng. Trong khi các công ty này lại đang rất cần các thông tin về kế toán chi

- Các kiến nghị hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
công ty cổ phần bia Sài Gòn – Hà Nam là gì?
1.5 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong năm
2010.
- Không gian nghiên cứu: Điển hình tại Công ty Cổ phần bia Sài Gòn – Hà Nam.
- Phạm vi nội dung: + Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ
kế toán tài chính.
+ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ
kế toán quản trị.
1.6 Phương pháp nghiên cứu
* Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã vận dụng phối hợp nhiều phương
pháp khác nhau bao gồm cả định tính và định lượng:
- Các phương pháp nghiên cứu tổng quát bao gồm: Phương pháp nghiên cứu hệ
thống lý thuyết về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới cả hai góc
6
độ, kế toán tài chính và kế toán quản trị, ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích và
tổng hợp.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: Thống kê, khảo sát tình hình thực
tế kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần bia Sài Gòn –
Hà Nam, từ đó phân tích các dữ liệu đã thu thập được để tìm ra câu trả lời cho mục tiêu
nghiên cứu.
* Các dữ liệu thực tế sẽ cần được thu thập gồm: chứng từ, sổ sách kế toán, báo
cáo kế toán liên quan đến hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, các
bảng định mức tiêu hao nguyên vật liệu, dự toán
Ngoài ra các dữ liệu có liên quan đến cơ sở lý luận là phần quan trọng cho việc
đưa ra các giải pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ
phần bia Sài Gòn – Hà Nam cũng cần được thu thập một cách đầy đủ.
* Các nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận văn:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các tài liệu kế toán, thông tin nội bộ của công

của hệ thống kế toán Việt Nam.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
2.1 Khái quát chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các
doanh nghiệp sản xuất
2.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
8
Chi phí sản xuất kinh doanh được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tùy
theo mục đích và quan điểm của các nhà khoa học. Khi đưa ra khái niệm về chi phí cũng
được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau. Mỗi khái niệm đều có một cách nhìn nhận
riêng, song đều quy về những điểm chung nhất trong hoạt động của một tổ chức kinh tế.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế chính trị thì chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá
mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất trong một kỳ nhất định.
Chi phí trong một kỳ nhất định bao gồm toàn bộ phần tài sản hao mòn hoặc tiêu dùng hết
cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ và số dư tiêu dùng cho quá trình sản xuất tính
nhập hoặc phân bổ vào chi phí trong kỳ. Ngoài ra còn một số các khoản chi phí phải trả
không phải là chi phí trong kỳ nhưng chưa được tính vào chi phí trong kỳ. Thực chất chi
phí ở các doanh nghiệp là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá
nhất định, nó là vốn của các doanh nghiệp bỏ ra sản xuất kinh doanh.
Theo quan điểm của các nhà quản trị thì chi phí sản xuất kinh doanh đó là sự mất đi của
nguyên vật liệu, tiền công, dịch vụ mua ngoài và các khoản chi phí khác để tạo ra các kết
quả của một tổ chức hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Trong nền kinh tế
thị trường các nhà quản trị thường quan tâm tới nhu cầu khách hàng để sản xuất các sản
phẩm, dịch vụ với chất lượng cao và chi phí thấp, nhằm tối đa hóa các mục tiêu lợi
nhuận.
Dưới góc độ kế toán tài chính, chi phí được coi là những khoản phí tổn phát sinh gắn liền
với hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ hạch toán. Theo kế toán tài chính có
những khoản chi phí phát sinh của kỳ này nhưng không được tính vào chi phí trong kỳ

tổng số khi khối lượng sản phẩm hoàn thành thay đổi. Ví dụ như: chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí khấu hao theo sản lượng, hoa
hồng cho đại lý…
+ Định phí (chi phí cố định hay chi phí bất biến): Là những khoản chi phí
không biến đổi khi mức độ hoạt động thay đổi. Định phí chỉ giữ nguyên trong phạm
vi phù hợp của doanh nghiệp. Phạm vi phù hợp là phạm vi giữa khối lượng sản
phẩm tối thiểu và khối lượng sản phẩm tối đa mà doanh nghiệp dự định sản xuất.
Tuy nhiên, việc chia thành biến phí và định phí chỉ có ý nghĩa khi xét cho tổng khối
lượng công việc hoặc sản phẩm, còn nếu xem xét chi phí bỏ ra cho một đơn vị sản
phẩm thì chúng ta sẽ thu được kết quả ngược lại. Biến phí tính cho một đơn vị sản
phẩm lại mang tính cố định.
Ngoài ra còn có chi phí hỗn hợp là những chi phí mà bản thân nó bao gồm cả
yếu tố biến phí và yếu tố định phí, ví dụ như tiền điện thoại, tiền thuê máy móc thiết
bị…
Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quản trị, giữ vai trò chủ yếu
trong việc phân tích điểm hòa vốn và đánh giá được tính hợp lý của các khoản chi
10
phí, từ đó có các biện pháp nâng cao sản lượng, năng suất lao động nhằm tận dụng
tối đa khả năng máy móc thiết bị, hạ giá thành sản phẩm…phục vụ đắc lực cho việc
ra các quyết định quản lý và quyết định lựa chọn phương án kinh doanh.
− Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí:
+ Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế…dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả, các khoản phải trích
như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân viên hoạt
động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản
sử dụng cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đã chi trả
về các dịch vụ mua ngoài: tiền điện, nước, điện thoại…

quản lý chi phí sản xuất theo định mức. Đồng thời là căn cứ để phân tích giá thành, phân
tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp theo từng loại sản phẩm khác nhau.
− Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Theo chức năng hoạt động của chi phí trong các tổ chức hoạt động, chi phí chia
thành hai dạng đó là chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
+ Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất đó là các khoản chi phí phát sinh trong phạm vi sản xuất của doanh
nghiệp. Thông thường phạm vi sản xuất các tổ chức hoạt động kinh doanh đó là
phân xưởng, tổ, đội…Chi phí sản xuất có thể được hiểu đó là sự tiêu hao của các
yếu tố sản xuất như lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và các chi phí khác
để tạo ra giá thành của sản phẩm hay dịch vụ trong kỳ. Chi phí sản xuất thường
được chia thành ba khoản mục cơ bản:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Đó là các khoản chi phí về vật liệu chính,
phụ, nhiên liệu…mà kế toán có thể tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí.
Đặc điểm của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường mang tính chất biến phí, nó
cấu thành nên thực thể của sản phẩm, chiếm tỷ trọng khá cao trong chỉ tiêu giá
thành sản phẩm. Thông thường chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể định mức
cho một đơn vị sản phẩm vừa là cơ sở xây dựng dự toán, vừa là cơ sở để kiểm soát
chi phí. Tuy nhiên trong thực tế khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp lại phụ
thuộc vào đặc điểm của hoạt động kinh doanh trong từng ngành nghề khác nhau thì
khác nhau. Trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản, sản phẩm là các công trình,
hạng mục công trình do vậy chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là sắt, thép, xi măng,
gạch, cát…Chi phí này thường chiếm tỷ trọng cao trong giá thành của công trình.
Trong các doanh nghiệp may mặc sản phẩm là quần, áo, chi phí nguyên vật liệu trực
12
tiếp là vải, chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản xuất sản
phẩm. Trong các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ vui chơi, giải trí chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp lại chiếm tỷ trọng nhỏ trong chỉ tiêu giá thành sản xuất của sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản tiền lương, phụ cấp và các
khoản trích theo lương, tiền ăn ca…của công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm. Đặc

bị…Mỗi TSCĐ có những đặc điểm khác nhau do vậy việc vận dụng
các phương pháp khấu hao cho các tài sản cũng khác nhau nhằm thu
hồi vốn đầu tư. Thông thường các máy móc có công nghệ biến đổi
nhanh thường áp dụng phương pháp khấu hao giảm dần, các TSCĐ
như nhà xưởng thì thường áp dụng phương pháp khấu hao bình quân.
• Chi phí dịch vụ mua ngoài đó là các khoản tiền điện, nước…phục vụ
cho quá trình sản xuất của các phân xưởng, đội.
• Chi phí khác bao gồm các khoản tiền như tiếp khách phân xưởng,
thiệt hại trong quá trình sản xuất…
Chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều yếu tố chi phí, có yếu tố mang tính chất của
chi phí cố định, có yếu tố mang tính chất của chi phí biến đổi, song các yếu tố mang
tính chất cả hai thể hiện chi phí hỗn hợp. Do vậy các nhà quản trị doanh nghiệp
muốn kiểm soát các yếu tố trong khoản mục chi phí này cần phải tách các yếu tố chi
phí thành hai bộ phận định phí và biến phí.
+ Chi phí ngoài sản xuất: chi phí ngoài sản xuất đó là các khoản chi phí phát
sinh ngoài sản xuất của doanh nghiệp. Chi phí ngoài sản xuất thường bao gồm chi
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Chi phí bán hàng đó là chi phí phục vụ cho việc tiêu thụ hàng hóa sản
phẩm của các tổ chức hoạt động kinh doanh. Chi phí này bao gồm nhiều
yếu tố, mỗi yếu tố chi phí thường khác bao gồm cả phần biến phí và định
phí, do vậy để kiểm soát các khoản mục chi phí cần phải tách biệt từng
yếu tố chi phí thành biến phí và định phí. Trong thực tế chi phí bán hàng
thường bao gồm:
• Chi phí nhân viên bán hàng đó là các khoản tiền lương, tiền thưởng,
phụ cấp, các khoản trích theo lương của các nhân viên bán hàng. Hiện
nay các doanh nghiệp thường xây dựng định mức tiền lương của nhân
viên bán hàng theo mức doanh thu đạt được vừa kiểm soát chi phí vừa
là động lực thúc đẩy tăng doanh thu.
• Chi phí vật liệu phục vụ cho bán hàng thường bao gồm văn phòng
phẩm, bao gói sản phẩm…

hoàn thành. Trên cơ sở đó kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện mức hạ giá thành
theo từng sản phẩm và toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Như vậy, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá cho một khối lượng hoặc một đơn vị sản phẩm lao
vụ, dịch vụ cho doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành.
2.1.4 Phân loại giá thành trong doanh nghiệp sản xuất
15
Để giúp cho việc quản lý tốt tình hình giá thành sản phẩm, kế toán cần phải phân
biệt các loại giá thành. Có 2 loại chủ yếu để phân loại giá thành:
- Phân loại theo thời điểm, cơ sơ số liệu tính giá thành sản phẩm sản xuất
chia làm 3 loại:
+ Giá thành kế hoạch: Được xác định trước khi tiến hành sản xuất kinh
doanh dựa vào giá thành kỳ trước và các định mức dự toán chi phí của kế hoạch.
+ Giá thành định mức: Là giá thành được tính trên cơ sở định mức chi phí
hiện hành. Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành
chế tạo sản phẩm.
+ Giá thành thực tế: Được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất kinh
doanh dựa vào chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh, tập hợp được trong kỳ và số
lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ.
- Phân loại theo phạm vi phát sinh, giá thành sản phẩm sản xuất chia làm
2 loại:
+ Giá thành sản xuất: Là toàn bộ hao phí của các yếu tố dùng để tạo ra sản
phẩm dịch vụ trong đó bao gồm các chi phí sản xuất:
Giá thành sản Chi phí sản Chi phí sản Chi phí sản
xuất thực tế = phẩm dở dang + xuất phát sinh - phẩm dở dang
của sản phẩm đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
+ Giá thành toàn bộ: Bao gồm giá thành sản xuất của sản phẩm cộng thêm
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho sản phẩm đó.

cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau:
+ Xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
+ Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng xác định và
phát triển kế toán tập hợp chi phí thích hợp.
+ Xác định chính xác chi phí và sản phẩm dở dang cuối kỳ.
+ Thực hiện tính giá thành sản phẩm kịp thời, chính xác theo đúng đối tượng
và phương pháp tính giá thành hợp lý.
+ Phân tích tình hình thực hiện định mức, dự toán chi phí sản xuất, tình hình
thực hiện giá thành sản phẩm để có kiến nghị đề xuất cho lãnh đạo doanh nghiệp đề
ra các quyết định thích hợp trước mắt cũng như lâu dài đối với sự phát triển.
2.1.5 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh
nghiệp sản xuất.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất
cần tập hợp. Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên, là công
việc cần thiết cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Doanh nghiệp chỉ có
thể tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất nếu xác định đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất phù hợp với đặc điểm sản xuất, yêu cầu quản lý chi phí sản xuất của
doanh nghiệp.
Để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cần căn cứ vào đặc
điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm địa
17
điểm phát sinh chi phí, mục đích, công dụng của chi phí, yêu cầu và trình độ quản
lý của doanh nghiệp. Nói cách khác, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nơi phát
sinh và nơi chịu chi phí. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là: từng phân
xưởng, bộ phận, đội sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp, từng giai đoạn công nghệ
hoặc toàn bộ qui trình công nghệ, từng sản phẩm, đơn đặt hàng, từng nhóm sản
phẩm hoặc bộ phận, chi tiết sản phẩm.
Đối tượng tính giá thành là một khái niệm dùng để chỉ một khối lượng kết
quả hoàn thành cần phải tính giá thành. Hay đó chính là các sản phẩm, nửa thành
phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra cần phải xác định

xuất (đơn giản hay phức tạp) mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là sản
phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ… còn đối tượng tính giá thành có
thể là sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm.
Nếu căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh: dựa
trên cơ sở trình độ, yêu cầu và tổ chức quản lý để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất và đối tượng tính giá thành. Với trình độ cao, có thể chi tiết đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành ở các góc độ khác nhau, ngược lại nếu trình độ thấp thì đối
tượng đó có thể bị hạn chế và thu hẹp lại.
Việc xác định rõ mối quan hệ và sự khác nhau giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và
đối tượng tính giá thành là vấn đề có ý nghĩa lớn, mang tính định hướng cho tổ chức
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp.
2.2 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán tài
chính
2.2.1 Kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất
a/ Kế toán chi phí nguyên vật liệu:
* Khái niệm: kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ giá trị của
nguyên liệu, vật liệu chính, phụ, nhiên liệu được xác định dùng cho việc sản xuất,
chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ (không bao gồm giá trị nguyên vật liệu
xuất dùng không hết chuyển kỳ sau hoặc phế liệu thu hồi từ việc sử dụng vật liệu
cho sản xuất).
Khi tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán căn cứ vào các phiếu nhập
kho, xuất kho và các hoá đơn chứng từ có liên quan đến nguyên vật liệu để tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
* Tài khoản sử dụng:
Để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm kế toán sử dụng TK: 621 “
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”, mở chi tiết cho từng đối tượng chịu chi phí (sản
phẩm, lao vụ, dịch vụ, phân xưởng, bộ phận sản xuất).
- Kết cấu:
19
Bên nợ: + Giá trị thực tế nguyên vật liệu xuất dùng để trực tiếp chế tạo sản phẩm

trực tiếp sản xuất
Trị giá NVL xuất kho dùng
trực tiếp vào sản xuất
Trị giá NVL còn chưa
sử dụng
TK 152
TK 621
TK 152
- Kết cấu:
Bên nợ: + Chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ.
Bên có: + Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sang tài khoản tính
giá thành.
TK: 622 không có số dư.
- Phương pháp kế toán:
Sơ đồ 2.2: Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
(Theo phương pháp kê khai thường xuyên) Trích trước tiền lương
nghỉ phép của công nhân
trực tiếp sản suất
c/ Kế toán chi phí sản xuất chung.
- Khái niệm: Chi phí sản xuất chung là toàn bộ những chi phí phát sinh
trong toàn bộ phân xưởng sản xuất, phục vụ cho hoạt động sản xuất sản
phẩm, ngoài các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công
trực tiếp. Chi phí sản xuất chung bao gồm các khoản: chi phí khấu hao tài
sản cố định ở phân xưởng, chi phí tiền lương và các khoản trích theo
21
TK 334
TK 338

TK6271: Chi phí nhân viên phân xưởng.
TK6272: Chi phí vật liệu.
TK6273: Chi phí dụng cụ sản xuất.
TK6274: Chi phí khấu hao tài sản cố định.
TK6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
TK6278: Chi phí bằng tiền khác
- Phương pháp kế toán:
Sơ đồ 2.3: Kế toán chi phí sản xuất chung
(Theo phương pháp kê khai thường xuyên)
22
Chi phí bằng tiền khác
Phân bổ, trích trước các
khoản chi phí sản xuất
Chi phí khấu hao TSCĐ
Phân bổ và kết chuyển chi
phí sản xuất chung
Lương và các khoản trích theo
lương nhân viên phân xưởng
TK 214
TK 152, 153
TK 242, 335
TK 111, 112
TK 154
TK627
TK 334, 338
Chi phí vật liệu, dụng cụ
phục vụ sản xuất
d/ Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
Cuối kỳ kế toán, sau khi đã tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung theo từng đối tượng trên các TK621, 622,

trực tiếp; tài khoản 627-Chi phí sản xuất chung.
Toàn bộ quá trình tổng hợp chi phí sản xuất cuối kỳ, tính giá thành sản phẩm
được thực hiện trên tài khoản 631-Giá thành sản xuất. Tài khoản 154-Chi phí sản
xuất kinh doanh dở dang, chỉ sử dụng để phản ánh và theo dõi chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.
Sơ đồ 2.5: Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
24
TK 621
TK 622
TK 627
TK 154 TK 152
TK 138
TK 155
TK 632
TK 157
Kết chuyển CPNVLTT
Kết chuyển CPNCTT
Kết chuyển CPSXC
Phế liệu thu hồi do
sản phẩm hỏng
Bồi thường phải thu do
sản phẩm hỏng
Giá thành thành phẩm
nhập kho
Giá thành sản phẩm
bán không qua kho
Giá thành sản phẩm
gửi bán
(Theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
25

TK154
Tập hợp chi phí NVL
trực tiếp phát sinh
trong kỳ
Kết chuyển chi phí
NVL trực tiếp lúc
cuối kỳ
TK 138, 152

Trích đoạn dưới góc độ kế toán quản trị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status