MỤC LỤC
3.2.1. Số loại cổ phiếu niêm yết 9
3.2.3. Số loại trái phiếu 13
3.2.4. Số lượng tài khoản nhà đầu tư chứng khoán 13
3.4.1. Giá trị vốn hóa thị trường của công ty 18
3.4.2. Tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường 18
3.5.1. Khối lượng giao dịch 21
3.5.2. Giá trị giao dịch 22
3.6.1. Thiếu tính minh bạch 26
3.6.2. Rủi ro chính sách 26
3.6.3.Tình trạng “làm giá” 26
3.6.4. Rủi ro hệ thống 27
3.6.5. Sản phẩm tài chính nghèo nàn 27
3.6.6. Trình độ chuyên môn và nhận thức của các bên liên quan chưa cao 27
2.1. Quan điểm xunh quanh đối tượng phản ánh của giá chứng khoán 29
2.2. Quan điểm xung quanh tốc độ phản ánh thông tin của giá chứng khoán 29
2.3. Quan điểm xung quanh phương pháp đầu tư 30
2.4. Quan điểm xung quanh khả năng dự đoán giá tương lai của chứng khoán32
4.1. PTKT là phương pháp phân tích quan trọng nhất nếu khung thời gian phân
tích ngắn 35
4.2. Những nhà phân tích kỹ thuật là những người có kinh nghiệm, có kiến thức
38
4.3. Công ty nhỏ có xu hướng sử dụng PTKT nhiều hơn công ty lớn 38
4.4. Đa số các nhà quản lý quỹ cho rằng giá bị ảnh hưởng bởi tâm lý 38
1
CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
PHÂN TÍCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 39
I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
PHÙ HỢP VỚI VIỆC SỬ DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 39
1. Những bất lợi khi sử dụng phương pháp phân tích cơ bản và lý thuyết thị
6
Tổng giá trị vốn hóa thị trường của một số TTCK trên thế
giới năm 2009
21
7
So sánh tổng giá trị vốn hóa thị trường của HOSE và một
số sàn chứng khoán trong khu vực Đông Nam Á năm 2009
21
8
Tổng giá trị giao dịch của HOSE so với một số sàn chứng
khoán trong khu vực Đông Nam Á năm 2009
23
9
Tổng khối lượng giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-
2010
24
10
Tổng giá trị giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010 25
11
So sánh phương pháp phân tích cơ bản và phương pháp
phân tích kỹ thuật
31
12
Định nghĩa, công thức và đặc điểm của MA, RSI và
Stochastic
49
13
Thời điểm các chỉ báo MA, RSI và Stochastic đưa ra tín
hiệu mua và bán
53
5 Phân phối lũy kế mức độ sử dụng của phương pháp PTKT 36
6
Mức độ sử dụng phương pháp PTKT, PTCB và phân tích
dòng tiền qua trong các khung thời gian dự đoán khác nhau
37
7 Tín hiệu sai của phương pháp PTKT 44
8 Mô hình thị trường tăng mạnh, tăng yếu và đi ngang 57
9 Tín hiệu sai của MA 65
10 Tín hiệu sai của RSI 67
11 Tín hiệu sai của Stochastic 69
12
Tín hiệu mua bán Stochastic đưa ra ngược với xu hướng
của thị trường
74
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CAPM (Capital Asset Pricing Model): Mô hình định giá tài sản vốn
CTCK: Công ty chứng khoán
IMF (International Monetary Fund): Quỹ tiền tệ quốc tế
GDP (Gross Dosmestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
HOSE: Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
HNX: Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
MA (Moving Average): Trung bình động
5
NYSE (New York Stock Exchange): Sàn Giao dịch chứng khoán New York
OTC (Over the counter): Thị trường giao dịch qua quầy
PTKT: Phân tích kỹ thuật
PTCB: Phân tích cơ bản
RSI (Relative Strength Index): Chỉ số sức mạnh tương đối
SET (Stock Exchange of Thailand): Sàn Giao dịch chứng khoán Thái Lan
khoán Việt Nam” nhằm xác định tính hiệu quả của phương pháp phân tích kỹ
thuật và đề ra biện pháp nâng cao tính hiệu quả của phương pháp này.
1
2. Mục đích nghiên cứu
Với lý do đó, bài khóa luận tập hướng đến đánh giá tính hiệu quả của phân
tích kỹ thuật khi ứng dụng nó với dữ liệu thông tin tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, tìm ra những nhược điểm của phân tích kỹ thuật sau khi
ứng dụng, từ đó đề ra biện pháp khắc phục các nhược điểm và bổ sung về mặt lý
luận cho phương pháp này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu tính hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp
phân tích kỹ thuật trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Có 5 nhiệm vụ nghiên
cứu cụ thể được đưa ra. Thứ nhất, khái quát đặc điểm của thị trường chứng
khoán Việt Nam qua chặng đường 10 năm phát triển. Thứ hai, khái quát các
quan điểm ủng hộ và phản đối phân tích kỹ thuật. Thứ ba, xây dựng cách thức
ứng dụng phân tích kỹ thuật để phân tích trong bài khóa luận. Thứ tư, ứng dụng
phân tích kỹ thuật phân tích thông tin tài chính trên thị trường một cách khách
quan. Thứ năm, đánh giá tính hiệu quả, ưu điểm, nhược điểm của phân tích kỹ
thuật. Và cuối cùng, đề xuất biện pháp khắc phục những nhược điểm của phân
tích kỹ thuật
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu vì thế là đặc điểm của thị trường chứng khoán Việt
Nam và chỉ số VN-Index thông qua các dữ liệu, số liệu và thông tin thu thập
được.
5. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng, ứng
dụng phân tích trên số liệu thực tế, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện
phương pháp phân tích kỹ thuật
2
Về thời gian: Bài khóa luận đã sử dụng dữ liệu về thị trường chứng khoán
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn: ThS. Lê Thành Công đã
chỉ bảo và giúp đỡ em rất nhiệt tình trong suốt quá trình viết khóa luận tốt
nghiệp. Dù đã cố gắng rất nhiều, song bài khóa luận vẫn không tránh khỏi nhiều
sai sót. Kính mong các thầy cô giáo xem xét và góp ý để bài luận văn được hoàn
thiện hơn.
4
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1. Định nghĩa thị trường chứng khoán
Trên thế giới, TTCK đã hình thành từ thế kỷ 15 và đã trải qua một chặng
đường dài phát triển. Hầu hết các quốc gia phát triển và đang phát triển đều có
các TTCK. TTCK là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính. Hiện nay có
nhiều định nghĩa về thị trường tài chính, nhưng các quan điểm về thị trường tài
chính đều thống nhất rằng “Thị trường tài chính là thị trường mà ở đó diễn ra
sự di chuyển vốn từ người có thừa vốn đến người thiếu vốn”. [16, tr.3] Nếu dựa
vào đối tượng được giao dịch, thị trường tài chính lại chia thành các thị trường
nhỏ hơn như thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường hợp đồng
tương lai, thị trường hợp đồng quyền chọn.
Trên thế giới tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về TTCK. Tuy nhiên,
quan điểm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung của thị trường
chứng khoán hiện nay được viết trong Giáo trình Thị trường chứng khoán của
trường Đại học Kinh tế Quốc dân là: “thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các
giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán”. Chứng khoán được hiểu là
các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu
cầu về thu nhập hoặc tài sản của tổ chức phát hành hay quyền sở hữu.
Ngoài giao dịch cổ phiếu và trái phiếu, đa số các TTCK trên thế giới và
trong khu vực Đông Nam Á đều cung cấp các dịch vụ chứng khoán phái sinh và
thực hiện trao đổi các loại giấy tờ có giá khác. TTCK Việt Nam là một trong
3.1. Sự ra đời của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
Quá trình phát triển của TTCK Việt Nam được đánh dấu bởi sự thành lập
UBCKNN vào ngày 28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính Phủ.
UBCKNN là đơn vị có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của một cơ
quan quản lý nhà nước về chứng khoán.Việc thành lập UBCKNN là điều cần
thiết đối với hoạt động của các TTCK. Trên thế giới, các Ủy ban Chứng khoán
đều đóng vai trò quản lý và điều hành TTCK mặc dù cơ cấu tổ chức và cách
quản lý ở các quốc gia có thể khác nhau. Đó là Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao
dịch Mỹ, Cơ quan dịch vụ Tài chính Anh, Ủy ban Chứng khoán Malaysia, Ủy
ban Chứng khoán và Sàn chứng khoán Philipines và trên góc độ quốc tế có Ủy
ban của tổ chức quốc tế về Chứng khoán (IOSCO).
Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được thành
lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 và chính thức thực
hiện phiên giao dịch đầu tiên và ngày 28/07/2000. Sau đó, trung tâm được đổi
tên là Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) theo Quyết
định 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Sở Giao dịch
chứng khoán Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 01/2009/QĐ-Ttg ngày
2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở chuyển đổi, tổ chức lại Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Hà Nội sau 4 năm hoạt động. Cả hai Sở đều là pháp
nhân thuộc sở hữu Nhà nước, được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng; được mở tài
khoản bằng Việt Nam đồng và ngoại tệ tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng
thương mại trong và ngoài nước; là đơn vị hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính,
thực hiện chế độ tài chính, chế độ báo cáo thống kê, kế toán, kiểm toán và có
7
nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật; hoạt động theo Luật Chứng khoán,
Luật Doanh nghiệp, Điều lệ của Sở Giao dịch chứng khoán và các quy định khác
của pháp luật có liên quan. [7], [8]
Bảng 1: Năm thành lập, tên quốc tế và tên viết tắt của HOSE VÀ HNX
Burse Malaysia MYX Malaysia 1960 Tư nhân
SGDCK Băng Cốc SET Thái Lan 1962 Tư nhân
SGDCK Hồ Chí Minh HOSE Việt Nam 2000 Nhà nước
SGDCK Lào LSX Lào 2011 Tư nhân
Nguồn: Website của các sàn chứng khoán
Chú thích: Các SGDCK được chọn là các sàn ra đời sớm nhất tại các nước
3.2. Sự phát triển về số loại cổ phiếu niêm yết, số loại trái phiếu, số công ty
chứng khoán và số lượng tài khoản nhà đầu tư
3.2.1. Số loại cổ phiếu niêm yết
Qua quá trình phát triển hơn 10 năm, số loại cổ phiếu niêm yết ngày càng
tăng lên. Theo Báo cáo thường niên năm 2009 của HOSE, tính đến thời điểm
cuối các năm 2007, 2008 và 2009, sàn HOSE có lần lượt 138, 170 và 196 loại cổ
phiếu niêm yết. [3, tr. 23] Nhưng chỉ sau đó một năm, tức là năm 2010, con số
trên đã tăng lên đến 284 loại cổ phiếu. [7] Từ đó có thể thấy, số loại cổ phiếu đã
tăng đột biến trong năm 2010 (Biểu đồ 1). Nếu tính tỉ lệ giữa tổng số loại cổ
phiếu niêm yết trên TTCK Việt Nam năm 2009 (gồm 196 cổ phiếu tại sàn
HOSE và 300 cổ phiếu tại sàn HNX) so với tổng số 205620 doanh nghiệp Việt
Nam (số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động) tại thời điểm cuối năm 2009 thì
có thể thấy, tỉ lệ trên chỉ vào khoảng 0,24%. Do đó, tiềm năng phát triển về mặt
số loại cổ phiếu niêm yết là khá lớn.[4, tr.9]
So với thế giới, số loại cổ phiếu niêm yết trên HOSE và HNX còn ở mức khá
khiêm tốn so với các sàn khác trong khu vực trên thế giới. Số liệu về số loại cổ
phiếu niêm yết của HOSE, SET và Burse Malaysia (Bảng 3) cho thấy số loại cổ
phiếu niêm yết ở sàn HOSE vẫn ít hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Mặt
9
khác, HOSE và HNX mới chỉ có cổ phiếu của các công ty Việt Nam niêm yết,
trong khi đó, các sàn mạnh thường niêm yết cả cổ phiếu của các công ty nước
ngoài và thường có các chi nhánh của sàn trên nhiều quốc gia khác nhau.
Bảng 3: Số loại cổ phiếu niêm yết của HOSE và một số sàn trong khu vực
năm 2009
[8]
3.2.4. Số lượng tài khoản nhà đầu tư chứng khoán
Tăng đáng kể nhất vẫn là số lượng tài khoản của nhà đầu tư (Biểu đồ 1).
Nếu như vào năm 2000 cả nước chỉ có khoảng 3000 tài khoản nhà đầu tư thì con
số này năm 2009 vào khoảng 760000 tài khoản. Trong khi năm 2009, Sàn SET
của Thái Lan (thành lập từ năm 1962) mới chỉ có 570548 tài khoản (Bảng 4).
13
Bảng 4: So sánh số tài khoản đầu tư trong năm 2009 giữa HOSE và SET
HOSE SET
Số Tài khoản đầu tư 760000 570548
Số Tài khoản thực giao dịch 20%-35% 21,5%
Năm thành lập 2000 1962
(Nguồn: [20, tr. 24], [6])
Cuối năm 2010, số tài khoản nhà đầu tư chứng khoán tại Việt Nam đã vào
khoảng hơn 1 triệu tài khoản (tăng 333 lần so với năm 2000). Tuy nhiên, điều
cần phải bàn đến là chỉ có khoảng 20-35% số tài khoản này là tài khoản thực
giao dịch. Như số liệu ở Bảng 4, sàn SET của Thái Lan cũng chỉ có 21,5% tổng
số tài khoản là tài khoản thực giao dịch. Một điều đặc biệt là, tại TTCK Việt
Nam, mỗi nhà đầu tư chỉ được phép lập 1 tài khoản duy nhất nên nhiều người đã
lách luật bằng cách mượn chứng minh thư của người thân, bạn bè để lập tài
khoản. [2] Vì vậy, số lượng nhà đầu tư trên thực tế thậm chí còn ít hơn số lượng
tài khoản thực giao dịch như đã thống kê.
3.3. Diễn biến chỉ số VN-Index và HNX- Index giai đoạn 2001-2010
VN-Index có những biến động tăng giảm trong hơn 10 năm qua, đặc biệt
là Vn-Index có biên độ dao động mạnh trong những năm 2006, 2007 và 2008
(Biểu đồ 2). Biểu đồ thể hiện diễn biến của VN- Index có thể chia làm 4 giai
đoạn chính. Giai đoạn 1 từ đầu năm 2001 đến cuối năm 2001. Đây là giai đoạn
thị trường biến động theo xu hướng giảm tương đối mạnh từ 600 điểm xuống
còn 250 điểm (gần 60%) chỉ trong vòng 1 năm. Tuy nhiên khối lượng giao dịch
trong giai đoạn này không đáng kể.
Bảng 5: Toàn cảnh các thị trường chứng khoán thế giới 2008
Thị trường Chỉ số
Giá đóng
cửa 30/12
Tăng, giảm so
với 2007 (%)
Mỹ
Dow Jones 8668,39 -34,6%
NasDaq 1550,7 -41,5%
S&P 500 890,64 -39,3%
Anh FTSE 100 4392,68 -31,5%
Đức DAX 4810,20 -39,5%
Pháp CAC 40 3217,13 -42%
Đài Loan Taiwan weighted 4589,04 -44,8%
Nhật Nikkei 225 8859,56 -42,1%
Hồng Kong Hang Seng 14235,50 -48,8%
Hàn Quốc KOSPI Composite 1124,47 -40,7%
Singapore Straits Times 1770,65 -49%
Trung Quốc Shanghai Composite 1832,91 -65,2%
Ấn Độ BSE 30 9716,16 -52,2%
Australia ASX 3591,40 -44,1%
Việt Nam VN-Index 316,32 -65,9%
16
(Nguồn: [21, tr.115])
Giai đoạn 4 gồm năm 2009 và năm 2010 là hai năm sau khủng hoảng tài
chính. Năm 2009, thị trường chứng khoán đã phục hồi và tăng trở lại, tuy nhiên
tốc độ tăng của chỉ số VN-Index không mạnh như vào thời kỳ các năm 2006 và
2007. Cuối cùng, năm 2010 lại chứng kiến giai đoạn thị trường khá ổn định.
Chỉ số HNX-Index có xu hướng biến động khá giống với chỉ số VN-Index
từ năm 2005 đến hết năm 2009 (Biểu đồ 3). Năm 2005, HNX-Index có xu hướng
sự nhảy vọt về vốn hóa thị trường là năm 2006. Mức giá trị năm 2006 đạt
147967 tỷ VND gấp 20 lần giá trị ấy của năm 2005, trong khi đó, giá trị niêm yết
năm 2006 chỉ bằng khoảng 7 lần so với năm 2005. Góp phần vào sự tăng thần kì
đó là sự tăng mạnh của chỉ số VN-Index (tăng 140%) và sự gia tăng số lượng cổ
phiếu niêm yết. Năm 2007, do biến động của chỉ số chứng khoán, giá trị vốn hóa
thị trường của tổng cổ phiếu trên sàn HOSE lại chứng kiến một sự tăng mạnh
bằng 247% giá trị của năm trước (từ 147967 tỷ VND (2006) đến 364425 tỷ VND
(2007)). Năm 2008 kết thúc với một sự giảm mạnh về mức tổng vốn hóa và năm
2009 giá trị này lại tăng lên. Nhìn chung, tổng mức vốn hóa thị trường trên sàn
HNX cũng có xu hướng giống như sàn HOSE.
Tổng giá trị vốn hóa của toàn bộ TTCK Việt Nam ở mức nhỏ so với mức
trung bình của thế giới và trong khu vực (Bảng 6). Nhưng nếu so sánh tỷ lệ tổng
mức vốn hóa thị trường trên GDP thì, khoảng cách trên đã được thu hẹp lại.
Tổng giá trị vốn hóa thị trường của toàn bộ TTCK Việt Nam (gồm HOSE và
HNX) năm 2009 đạt 28000 tỷ đồng tương đương 34,58 tỷ USD chỉ bằng 0,22%
của Mỹ. Trong khi đó, nếu tính tỷ lệ tổng giá vốn hóa thị trường trên GDP thì tỷ
lệ đó của TTCK Việt Nam vào khoảng 38% (2009) và TTCK Hoa Kỳ vào
khoảng 106,8% (2009). So với các sàn của các nước trong khu vực, tổng giá trị
vốn hóa của sàn HOSE vẫn ở mức thấp.
19