Ứng dụng phương pháp phân tích kỹ thuật phân tích thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 26

MỤC LỤC
3.2.1. Số loại cổ phiếu niêm yết 7
3.2.3. Số loại trái phiếu 11
3.2.4. Số lượng tài khoản nhà đầu tư chứng khoán 11
3.4.1. Giá trị vốn hóa thị trường của công ty 16
3.4.2. Tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường 16
3.5.1. Khối lượng giao dịch 19
3.5.2. Giá trị giao dịch 20
3.6.1. Thiếu tính minh bạch 23
3.6.2. Rủi ro chính sách 23
3.6.3.Tình trạng “làm giá” 23
3.6.4. Rủi ro hệ thống 23
3.6.5. Sản phẩm tài chính nghèo nàn 24
3.6.6. Trình độ chuyên môn và nhận thức của các bên liên quan chưa cao 24
2.1. Quan điểm xunh quanh đối tượng phản ánh của giá chứng khoán 25
2.2. Quan điểm xung quanh tốc độ phản ánh thông tin của giá chứng khoán 26
2.3. Quan điểm xung quanh phương pháp đầu tư 26
2.4. Quan điểm xung quanh khả năng dự đoán giá tương lai của chứng khoán28
4.1. PTKT là phương pháp phân tích quan trọng nhất nếu khung thời gian phân
tích ngắn 31
4.2. Những nhà phân tích kỹ thuật là những người có kinh nghiệm, có kiến thức
33
4.3. Công ty nhỏ có xu hướng sử dụng PTKT nhiều hơn công ty lớn 34
4.4. Đa số các nhà quản lý quỹ cho rằng giá bị ảnh hưởng bởi tâm lý 34
CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
PHÂN TÍCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 34
1
I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
PHÙ HỢP VỚI VIỆC SỬ DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 35
1. Những bất lợi khi sử dụng phương pháp phân tích cơ bản và lý thuyết thị

7
So sánh tổng giá trị vốn hóa thị trường của HOSE và một số sàn
chứng khoán trong khu vực Đông Nam Á năm 2009
21
8
Tổng giá trị giao dịch của HOSE so với một số sàn chứng khoán
trong khu vực Đông Nam Á năm 2009
23
9
Tổng khối lượng giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010 24
10
Tổng giá trị giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010 25
11
So sánh phương pháp phân tích cơ bản và phương pháp phân
tích kỹ thuật
31
12
Định nghĩa, công thức và đặc điểm của MA, RSI và Stochastic 49
13
Thời điểm các chỉ báo MA, RSI và Stochastic đưa ra tín hiệu
mua và bán
53
14
Kết quả phân tích 59
15
Những tín hiệu mua-bán Stochastic (9,3,3) đưa ra không được
giao dịch
72
16
Những tín hiệu mua-bán Stochastic (20,3,3) không được giao

Tín hiệu mua bán Stochastic đưa ra ngược với xu hướng của thị
trường
74
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CAPM (Capital Asset Pricing Model): Mô hình định giá tài sản vốn
CTCK: Công ty chứng khoán
IMF (International Monetary Fund): Quỹ tiền tệ quốc tế
GDP (Gross Dosmestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
HOSE: Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
HNX: Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
MA (Moving Average): Trung bình động
NYSE (New York Stock Exchange): Sàn Giao dịch chứng khoán New York
OTC (Over the counter): Thị trường giao dịch qua quầy
PTKT: Phân tích kỹ thuật
PTCB: Phân tích cơ bản
RSI (Relative Strength Index): Chỉ số sức mạnh tương đối
SET (Stock Exchange of Thailand): Sàn Giao dịch chứng khoán Thái Lan
TTCK: Thị trường chứng khoán
TTGDCK: Trung tâm Giao dịch Chứng Khoán
UBCKNN: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
UPCOM (Unlisted Public Company Market) Thị trường giao dịch cổ phiếu của công
ty đại chúng chưa niêm yết
VCCI (The Vietnam Chamber of Commerce &Industry): Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua chặng đường hơn 10 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã
bước đầu có những thành công đáng khích lệ và thu hút ngày càng nhiều những nhà

được đưa ra. Thứ nhất, khái quát đặc điểm của thị trường chứng khoán Việt Nam qua
chặng đường 10 năm phát triển. Thứ hai, khái quát các quan điểm ủng hộ và phản đối
phân tích kỹ thuật. Thứ ba, xây dựng cách thức ứng dụng phân tích kỹ thuật để phân
tích trong bài khóa luận. Thứ tư, ứng dụng phân tích kỹ thuật phân tích thông tin tài
chính trên thị trường một cách khách quan. Thứ năm, đánh giá tính hiệu quả, ưu điểm,
nhược điểm của phân tích kỹ thuật. Và cuối cùng, đề xuất biện pháp khắc phục những
nhược điểm của phân tích kỹ thuật
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu vì thế là đặc điểm của thị trường chứng khoán Việt Nam
và chỉ số VN-Index thông qua các dữ liệu, số liệu và thông tin thu thập được.
5. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng, ứng dụng
phân tích trên số liệu thực tế, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp
phân tích kỹ thuật
Về thời gian: Bài khóa luận đã sử dụng dữ liệu về thị trường chứng khoán Việt
Nam từ năm 2000 đến năm 2010 để phân tích thực trạng thị trường; dữ liệu về thị
trường chứng khoán thế giới và trong khu vực từ 2008-2010 để so sánh tương quan với
thị trường chứng khoán Việt Nam, dữ liệu quá khứ của chỉ số Vn-Index từ năm 2006
đến năm 2010 để làm dữ liệu phân tích của phân tích kỹ thuật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bài khóa luận chủ yếu sử dụng 3 phương pháp sau:
Phương pháp thống kê: thu thập số liệu từ các Sở Giao dịch chứng khoán trong
và ngoài nước, Quỹ tiền tệ quốc tế, Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam,
Tổng Cục Thống Kê và trình bày số liệu.
Phương pháp so sánh: so sánh giữa thị trường chứng khoán Việt Nam với các
2
thị trường chứng khoán trong khu vực và trên thế giới, so sánh các quan điểm của
trường phái phân tích kỹ thuật, trường phái phân tích cơ bản và trường phái thị trường
hiệu quả, so sánh các công cụ khác nhau của phân tích kỹ thuật và so sánh phương
pháp sử dụng phân tích kỹ thuật với phương pháp mua và nắm giữ

Trên thế giới tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về TTCK. Tuy nhiên, quan
điểm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung của thị trường chứng khoán
hiện nay được viết trong Giáo trình Thị trường chứng khoán của trường Đại học Kinh
tế Quốc dân là: “thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao
đổi các loại chứng khoán”. Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút
toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập hoặc tài sản của tổ
chức phát hành hay quyền sở hữu.
Ngoài giao dịch cổ phiếu và trái phiếu, đa số các TTCK trên thế giới và trong
khu vực Đông Nam Á đều cung cấp các dịch vụ chứng khoán phái sinh và thực hiện
trao đổi các loại giấy tờ có giá khác. TTCK Việt Nam là một trong những TTCK ra đời
muộn nhất. Hiện nay, TTCK Việt Nam đã thực hiện các giao dịch cổ phiếu và trái
phiếu, nhưng các giao dịch chứng khoán phái sinh chưa phát triển. Trong đó, Sở giao
dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các giao dịch cổ phiếu đã niêm
yết và trái phiếu doanh nghiệp. Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và sàn UPCOM thực
hiện giao dịch các cổ phiếu đã niêm yết, cổ phiếu đăng ký và trái phiếu Chính Phủ. Bên
cạnh đó, TTCK phi tập trung bao gồm cả thị trường OTC thực hiện giao dịch cổ phiếu
niêm yết, chưa niêm yết, trái phiếu và các chứng khoán khác. Tuy nhiên, các công cụ
4
phái sinh chưa phát triển như ở trên thế giới. Hiện nay, cả nước chỉ có một số sàn giao
dịch kỳ hạn như sàn giao dịch cà phê kỳ hạn, sàn vàng, sàn giao dịch gạo.
2. Vai trò của thị trường chứng khoán
TTCK đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và thịnh vượng của bất kì
một quốc gia nào. Theo Eugene Fama – người có công đầu trong việc xây dựng lý
thuyết thị trường hiệu quả thì “vai trò quan trọng nhất của thị trường vốn là sự phân
bổ sự sở hữu những cổ phiếu trong nền kinh tế. Nói một cách chung nhất là, thị trường
lý tưởng là nơi mà giá cả cung cấp những tín hiệu chính xác để phân bổ nguồn lực:
doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định đầu tư sản xuất và nhà đầu tư có thể lựa
chọn giữa những cổ phiếu phản ánh sự sở hữu đối với một doanh nghiệp”.[11]
Đối với từng đối tượng tham gia thị trường, TTCK lại có các vai trò khác nhau.
Nhìn chung, TTCK đóng vai trò là kênh huy động vốn trực tiếp của các doanh nghiệp,

tài chính, thực hiện chế độ tài chính, chế độ báo cáo thống kê, kế toán, kiểm toán và có
nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật; hoạt động theo Luật Chứng khoán, Luật
Doanh nghiệp, Điều lệ của Sở Giao dịch chứng khoán và các quy định khác của pháp
luật có liên quan. [7], [8]
Bảng 1: Năm thành lập, tên quốc tế và tên viết tắt của HOSE VÀ HNX
Sở/Đặc điểm Sở Giao dịch Tp.Hồ Chí Minh Sở Giao dịch Hà Nội
Năm thành lập 2000 2005
Tên quốc tế Hochiminh stock exchange Hanoi stock exchange
Tên viết tắt HOSE HNX
6
Bảng 2: Năm thành lập và hình thức sở hữu của một số sàn chứng khoán trên thế
giới và khu vực Đông Nam Á
Sàn
Tên viết tắt
Quốc Gia
Năm thành
lập
Hình thức sở
hữu
SGDCK New York NYSE Mỹ 1792 Tư nhân
SGDCK Luân Đôn LSE Anh 1801 Tư nhân
SGDCK Thượng Hải SSE
Trung
Quốc
1866 Nhà nước
SGDCK Tokyo TSE Nhật 1878 Tư nhân
SGDCK Hong Kong HKE
Hồng
Kong
1914 Tư nhân

2009
Sàn Số cổ phiếu niêm yết (2009)
SET 642
Burse Malaysia 960
HOSE 196
Nguồn: [3, tr.23], [20, tr.27], [9, tr.8]
8
Biểu đồ 1: Số lượng cổ phiếu, trái phiếu, số CTCK và số lượng tài khoản nhà đầu tư sàn HOSE
9
(Nguồn: [3], [5], [7], [8])
Chú thích: Số liệu năm 2000 là số liệu lúc HOSE mới thành lập, các năm còn lại là số liệu tại thời điểm đầu năm
10
3.2.2. Số lượng công ty chứng khoán
Số lượng công ty chứng khoán cũng tăng khá nhanh (Biểu đồ 1). Thậm chí trong
giai đoạn gần đây (2007- 2010) còn tăng nhanh hơn quy mô tăng của thị trường. Nếu
như cuối năm 2007 số công ty chứng khoán ở sàn HOSE là 62 công ty thì cuối năm
2009 là 99. Tốc độ tăng giữa năm 2009 và 2007 là 160%. Trong khi đó, tốc độ tăng của
tổng mức vốn hóa thị trường cũng trong giai đoạn đó là 135%, từ 364425 triệu VND
đến 494072 triệu VND. [3, tr.57] Thêm vào đó, mức vốn hóa toàn thị trường năm 2010
lại giảm trong khi số lượng công ty chứng khoán lại tăng lên thành 102 công ty.
3.2.3. Số loại trái phiếu
Từ năm 2000 đến năm 2008, số lượng trái phiếu cũng tăng lên. Trong đó thành
phần trái phiếu chính phủ chiếm tỉ trọng lớn. Chính vì vậy khi tháng 5 năm 2008 theo
Quyết định 352/QĐ- UBCKNN về việc chuyển trái phiếu chính phủ niêm yết tại
HOSE giao dịch trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thì lượng trái phiếu
giao dịch trên sàn HOSE giảm mạnh (Biểu đồ 1). Cho đến thời điểm đầu năm 2011,
trên sàn HOSE chỉ còn 49 trái phiếu doanh nghiệp. Giống như các thị trường khác trên
thế giới, quy mô thị trường trái phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam lớn hơn
rất nhiều so với quy mô của thị trường cổ phiếu. [8]
3.2.4. Số lượng tài khoản nhà đầu tư chứng khoán

- đường màu đen: đường biểu diễn HNX-Index
-đường màu xanh: lượng giao dịch các ngày tương ứng
Giai đoạn 2 từ đầu năm 2002 đến cuối năm 2005, thị trường có xu hướng tăng
nhẹ. Sau 4 năm thị trường đã đạt mức 300 điểm, tăng 50% so với 4 năm trước đó. Mặc
dù vậy, VN-Index chưa cho thấy sự tiến triển rõ rệt về lượng giao dịch trong thời điểm
này. Đây là giai đoạn mà thị trường vừa mới được thành lập, số lượng cổ phiếu niêm
yết còn chưa nhiều, chưa chất lượng và chưa đang dạng, các chuyên gia, nhân viên môi
giới và cả nhà đầu tư còn chưa đủ về kiến thức và kinh nghiệm.
Tiếp theo là giai đoạn 3 bao gồm 3 năm tiếp theo (2006,2007 và 2008), giai
đoạn này chứng kiến một sự dao động tăng và giảm rất mạnh của VN-Index. Từ đầu
năm 2006 đến hết quý I năm 2007 thị trường gần như tăng với tốc độ chóng mặt từ 300
điểm lên đến và đạt đỉnh tại 1170,6 điểm (gấp gần 4 lần). Năm 2006, là năm mà hầu
hết các TTCK thế giới chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt bao gồm cả
tăng chỉ số chứng khoán. Ngưỡng 1170,6 cũng là mức đỉnh của VN-Index trong hơn
10 năm. Hai quý II và III của năm 2007 VN-Index đi ngang với biên độ khá lớn. Từ
13
quý 4 năm 2007, thị trường tụt giảm mạnh. Chỉ trong hơn một năm, đến cuối năm
2008, thị trường lại trở về thậm chí thấp hơn mức ban đầu năm 2006, vào khoảng dưới
300 điểm. Tuy nhiên, lượng giao dịch trong giai đoạn này đã tăng lên.
Việc so sánh mức biến động giảm của VN-Index so với các chỉ số khác trên thế
giới sẽ làm rõ hơn tình trạng thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm khủng hoảng
2008 (Bảng 5). Theo đó, mức giảm của VN-Index là lớn nhất giảm 65,9%) so với tất cả
các nước được so sánh thậm chí là giảm gấp khoảng 1,5 lần Mỹ- là nước khởi đầu cho
cuộc đại khủng hoảng.
Bảng 5: Toàn cảnh các thị trường chứng khoán thế giới 2008
Thị trường Chỉ số
Giá đóng
cửa 30/12
Tăng, giảm so với
2007 (%)

Nguồn: Tác giả tự tính toán và tổng hợp
Chú thích:
- đường màu đen: đường biểu diễn HNX-Index
-đường màu xanh: lượng giao dịch các ngày tương ứng
15
3.4. Giá trị vốn hóa thị trường
3.4.1. Giá trị vốn hóa thị trường của công ty
Giá trị vốn hoá thị trường là thước đo qui mô của một công ty, là tổng giá trị thị
trường của một công ty, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ công ty
này trong điều kiện hiện tại. (Nguồn)
Đa số các công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam chưa có giá trị vốn hóa
cao. Trong năm 2009, sàn HOSE có 91 công ty trên tổng số 196 công ty niêm yết có
mức vốn hóa dưới 500 tỷ đồng, trong khi chỉ có 16 công ty có mức vốn hóa trên 10000
tỷ đồng. [3, tr. 24-43].
3.4.2. Tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường
Tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường là tổng các mức giá trị vốn hóa của tất cả
các công ty niêm yết trên thị trường đó. Để đánh giá một thị trường chứng khoán, giá
trị vốn hóa thị trường là một yếu tố không thể bỏ qua bởi nó cho biết tình hình hoạt
động của thị trường thông qua hai yếu tố giá cổ phiếu và lượng cổ phiếu đang lưu
hành.
Đặc điểm nối bật của tổng mức vốn hóa thị trường tại thị trường chứng khoán
Việt Nam là đi theo xu hướng tăng qua hầu hết các năm nhưng độ lớn của nó chưa đạt
mức trung bình của thế giới (Biểu đồ 4). Có thể nói, năm chứng kiến sự nhảy vọt về
vốn hóa thị trường là năm 2006. Mức giá trị năm 2006 đạt 147967 tỷ VND gấp 20 lần
giá trị ấy của năm 2005, trong khi đó, giá trị niêm yết năm 2006 chỉ bằng khoảng 7 lần
so với năm 2005. Góp phần vào sự tăng thần kì đó là sự tăng mạnh của chỉ số VN-
Index (tăng 140%) và sự gia tăng số lượng cổ phiếu niêm yết. Năm 2007, do biến động
của chỉ số chứng khoán, giá trị vốn hóa thị trường của tổng cổ phiếu trên sàn HOSE lại
chứng kiến một sự tăng mạnh bằng 247% giá trị của năm trước (từ 147967 tỷ VND
(2006) đến 364425 tỷ VND (2007)). Năm 2008 kết thúc với một sự giảm mạnh về mức

chứng khoán trong khu vực Đông Nam Á năm 2009
Sàn Vốn hóa (tỷ USD)
SET 177,16
Burse Malaysia 299
HOSE 25
Nguồn: [3, tr. 57], [20, tr.23], [12, tr.8]
3.5. Quy mô giao dịch
3.5.1. Khối lượng giao dịch
Từ năm 2000 đến năm 2010, khối lượng giao dịch tăng qua các năm (trừ năm
2003), khối lượng giao dịch bắt đầu tăng mạnh từ năm 2006 trở đi, trong đó phương
thức giao dịch khớp lệnh chiếm tỉ trọng chủ yếu từ 83% đến 95%. (Bảng 9) Nếu như
trong giai đoạn 2000 - 2005, khối lượng giao dịch chỉ trung bình vào khoảng 3,6 triệu
đơn vị và dao động trong khoảng 3,6 triệu đơn vị đến 84,5 triệu đơn vị thì giai đoạn
2006-2010 chứng kiến sự tăng mạnh và tăng liên tục của khối lượng giao dịch của cả
phương thức giao dịch khớp lệnh và thỏa thuận. Trong đó, phương thức khớp lệnh vẫn
giữ vai trò chủ đạo. Kết thúc năm 2010, khối lượng giao dịch vào khoảng 11642,5 triệu
đơn vị với khối lượng giao dịch của phương thức khớp lệnh khoảng 10486 triệu đơn vị.
19
Nếu xét về tốc độ tăng khối lượng giao dịch của năm sau so với năm liền trước
thì năm 2001, 2006, 2007 và 2009 chứng kiến sự tăng mạnh nhất về tốc độ tăng khối
lượng giao dịch, tăng gấp 350% đến 637% năm liền trước nó.
3.5.2. Giá trị giao dịch
Giá trị giao dịch tăng nhẹ từ năm 2000 đến năm 2005, tăng rất mạnh vào năm
2006 và biến động tăng và giảm mạnh trong giai đoạn 2007 đến 2010.(Bảng 10) Trong
5 năm đầu tiên, giống như hầu hết các yếu tố khác, giá trị giao dịch cũng tăng nhưng
đạt giá trị nhỏ. Năm 2006 diễn ra sự tăng đột biến của giá trị giao dịch, tăng từ 35,3
nghìn tỷ năm 2005 lên 200,5 nghìn tỷ năm 2006 gấp 13,07 (1307%) lần so với năm
2005, do cả giá năm 2006 và lượng 2006 đều tăng đáng kể.
Mặc dù khối lượng giao dịch tăng mạnh và tăng liên tục trong giai đoạn 2006
cho đến năm 2010 nhưng do giá giảm mạnh vào năm 2008 và giảm vào năm 2010 nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status