thanh tra chính phủ
viện khoa học thanh tra
Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
các biện pháp đảm bảo quyền đợc thông tin
của công dân phục vụ công tác phòng, chống
tham nhũng Chủ nhiệm đề tài: ths . đinh văn minh
2. Quyền được thông tin của công dân đối với việc thực hiện quy
ền
giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức nhà
nước, góp phần phòng, chống tham nhũng
14
3. Quyền được thông tin của công dân đối với việc bảo đảm tính công
khai minh bạch trong hoạt động công quyền, góp phần phòng,
chống tham nhũng
15
III. Các điều kiện đảm bảo cho công dân thực hiện quyền được thông
tin góp phần phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
21
IV. Vấn đề bảo đảm quy
ền được thông tin của công dân ở một số nước
trên thế giới
22
Chương II: THỂ CHẾ VÀ VIỆC THỰC THI QUYỀN ĐƯỢC
BẢO ĐẢM THÔNG TIN VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG
THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM
34
I. Về hoạt động thông tin hiện nay 34
2
II. Thực trạng thực thi pháp luật về quyền được thông tin của công
dân trong phòng, chống tham nhũng và những vấn đề đang đặt ra
44
1. Sự phát triển của các quy định của pháp luật về quyền được thông
tin của công dân ở Việt nam.
44
2. Các phương thức thực hiện quyền được thông tin của công dân
3
SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tăng cường công tác đấu
tranh phòng, chống tham nhũng và đã đạt được một số kết quả nhất định, góp
phần phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã
hội. Nhiều cán bộ, đảng viên giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, đi
đầu
trong cuộc đấu tranh này. Nhiều vụ án tham nhũng, trong đó có những vụ án
lớn, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng đã được phát hiện, xử lý.
Tuy nhiên, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn nhiều hạn chế,
khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều
ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức t
ạp, gây hậu
quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những
nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.
Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong những
năm tới, phải đẩy mạnh toàn diện và kiên quyết cuộc đấu tranh phòng, ch
ống
tham nhũng.
Ngày 21 tháng 8 năm 2006, Ban Chấp hành trung ương Đảng đã ra Nghị
quyết số 04/NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phòng, chống tham nhũng lãng phí, trong đó đưa ra các quan điểm chủ trương
và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng trong thời
gian tới, cụ thể là:
1. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức
trách nhiệm củ
khai. Hoàn thiện, công khai hóa và thực hiện đúng các chế độ, định mức, tiêu
chuẩn sử dụng lao động, ngân sách và tài sản công. Nghiên cứu ban hành
Luật Bảo đảm quyền được thông tin của công dân.
Việc triển khai nghiên cứu đề tài về các giải pháp bảo đảm quyền được
thông tin của công dân góp phần phòng, chống tham nhũng là công việc cần
thiết, có ý nghĩa thiết thực trong việc tìm ra các luận cứ khoa học cho việc xây
dựng đạo luật theo định hướng của Đảng. Quyền được thông tin là một vấn đề
khá rộng lớn và có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Đề tài
5
này chỉ tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng và tác dụng của nó đối với
công tác phòng, chống tham nhũng, đánh giá thực trạng hiện nay về việc bảo
đảm cung cấp thông tin cho công dân, khảo sát kinh nghiệm của các nước trên
thế giới, từ đó đưa ra các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả
tích cực của việc thực hiện quyền được thông tin của công dân, góp phần
phòng, chống tham nhũng.
QUÁ TRÌNH TRIỂ
N KHAI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Quá trình nghiên cứu
Sau khi có quyết định triển khai nghiên cứu Đề tài (Quyết định số
174/TTCP-QĐ về việc phân bổ kinh phí nghiên cứu khoa học và giao thực
hiện các nhiệm vụ nghiên cứu năm 2007), trên cơ sở Đề cương nghiên cứu
ban đầu đã được Hội đồng khoa học cơ quan Thanh tra Chính phủ phê duyệt,
Ban chủ nhiệm đề tài đã xây dựng kế hoạch cụ thể
về việc thực hiện các công
việc cần triển khai; dự kiến các chuyên đề cần nghiên cứu và trực tiếp trao đổi
với các cộng tác viên về nội dung của từng chuyên đề cũng như yêu cầu đặt ra
cần giải quyết trong mỗi chuyên đề đó.
Từ tháng 4 năm 2007 đến tháng 8 năm 2007 tiến hành ký hợp đồng
của pháp luật với việc thực hiện quyền được bảo đảm thông tin trên thực tế
những năm qua.
- Sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu: Quá trình nghiên cứu đã tìm
hiểu việc thực hiện quyền được thông tin ở nhiều nước trên thế giới, quy
định
của pháp luật cũng như các cơ chế bảo đảm thực hiện, đặc biệt là nghiên cứu
việc ban hành đạo luật liên quan đến việc bảo đảm quyền được thông tin ở các
nước, từ đó so sánh và rút ra những điểm chung cũng như những điểm khác
nhau trong quy định của các nước, so sánh với quy định hiện hành của Việt
Nam;
- Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợ
p: Phân tích các khía cạnh
khác nhau của quyền được thông tin và việc bảo đảm quyền được thông tin,
sau đó tổng hợp và đưa ra những nhận định có tính chất khái quát làm tiền đề
cho việc đưa ra các giải pháp, kiến nghị theo mục tiêu nghiên cứu của Đề tài. 7
Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN THÔNG TIN, BẢO ĐẢM
QUYỀN THÔNG TIN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
I/ Khái niệm quyền được thông tin của công dân.
1. Quan niệm về thông tin và vai trò của thông tin
Thông tin là nhu cầu thiết yếu trong mọi hoạt động của xã hội kể từ khi
xuất hiện xã hội loài người. Thông tin đã trở thành công cụ quan trọng để
quản lý đất nước.“Một Chính phủ không có thông tin hay không có phương
tiện tiếp cận thông tin là màn dạo đầu cho tấn hài kịch hoặc bi kịch hay cả
hai thứ đó” (James Madison-1822). Thông tin là phương tiện để qua đó thực
trong mỗi giai đoạn.
- Thông tin là công cụ để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã
hội, là điều kiện để nhân dân thực hiện quyền của mình và điều kiện để giám sát
bộ máy nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức nhà nước góp phần đấu tranh chống
tệ quan liêu, tham nhũng lãng phí trong bộ máy nhà nước, làm cho nhà nước
thực sự là của dân, do dân và vì dân như Hiến pháp đã quy định. Lênin đã nói
rằng “chỉ khi nào công dân biết mọi điều và phán xét mọi điều, đồng thời họ
tham gia một cách tự giác vào hoạt động quản lý thì khi đó nhà nước mới có sức
mạnh”.
Như vậy, khi nghiên cứu về các giải pháp nhằm bảo đảm quyền được thông
tin của công dân góp phần phòng, chống tham nhũng, một mặt chúng ta cần
nghiên c
ứu những vấn đề cơ bản nhất của quyền thông tin nói chung; mặt khác
quan trọng hơn là đánh giá tác động vai trò, ảnh hưởng của nó đối với cuộc đấu
tranh phòng, chống tham nhũng; từ đó đề ra các giải pháp để thúc đẩy các yếu tố
tích cực của thông tin nhằm nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham
nhũng.
2. Quan niệm về quyền được thông tin của công dân và việc bảo đảm
quyền được thông tin của công dân
- Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người ghi nhận: “Mọi người đều có
quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không
phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận,
9
truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và
không giới hạn về biên giới”
1
.
- Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị khẳng định: "Mọi
người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm bao gồm quyền tự do tìm kiếm,
Điều 19 Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người của Liên Hợp quốc năm 1948
2
Ðiều 19 Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp quốc năm 1966
3
Điều 69 Hiến pháp 1992
10
b. Đơn giản hoá thủ tục hành chính ở những khâu thích hợp nhằm tạo
điều kiện cho công chúng tiếp cận với cơ quan ra quyết định có thẩm quyền;
c. Xuất bản thông tin, có thể bao gồm báo cáo định kỳ…”
Điều 13
1. Mỗi quốc gia thành viên của Công ước, trong khả năng có thể và phù
hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp nước mình, áp dụng các biện
pháp thích hợ
p, nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động của các cá nhân và tổ
chức…và nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về sự tồn tại, nguyên
nhân và tính chất nghiêm trọng cũng như sự đe doạ của tham nhũng thông
qua các biện pháp như:
(a) Tăng cường tính minh bạch trong các quá trình ra quyết định, thúc
đẩy đóng góp của công chúng vào các quá trình ra quyết định;
(b) Đảm bảo cho công chúng được tiếp cận thông tin một cách hiệu quả;
(c) Tổ chức các hoạt động thông tin cho công chúng góp phần đấu tranh
không khoan nhượng chống tham nhũng, cũng như các chương trình giáo dục
công chúng, bao gồm cả chương trình giảng dạy trong nhà trường và trường
đại học.
Từ những qui định trên và từ thực tiễn có thể đưa ra một định nghĩa ngắn
gọn về quyền được thông tin là quyền của công dân có được thông tin về
những chính sách và hoạt động của Chính phủ (hiểu theo nghĩa r
ộng tức là
chính quyền từ Trung ương đến địa phương) thông qua việc được thụ hưởng
khác.
Chẳng hạn Điều 38 Bộ luật dân sự Việt Nam qui định rằng quyền bí mật
đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; việc thu thập, công
bố thông tin, tư
liệu về đời tư của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó, trừ
trường hợp thu thập, công bố thông tin theo quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Luật Xuất bản năm 2004 cũng có quy định về việc không một cơ
quan, tổ chức, cá nhân nào được lợi dụng quyền phổ biến tác phẩm làm thiệt hại
lợi ích của nhà nước, quy
ền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác.
12
Quyền được thông tin của công dân có quan hệ mật thiết và bị giới hạn bởi
các nội dung:
+ Bí mật nhà nước;
+ Bí mật đời tư;
+ Bí mật kinh doanh.
Trong Bản tuyên bố chung về cơ chế truyền thông quốc tế nhằm thúc đẩy
tự do biểu đạt ngày 06/12/2004 có nhấn mạnh “Quyền tiếp cận thông tin chỉ bị
giới hạn rất ít những ngoại lệ nhằm bảo v
ệ các lợi ích cần thiết của nhà nước và
cá nhân, bao gồm cả đời sống tư”.
Trong tuyên bố liên Mỹ về các nguyên tắc của sự tự do bày tỏ ý kiến được
Uỷ ban liên Mỹ về quyền con người thông qua tại khoá họp thường kỳ thứ 108
của tổ chức này cũng nhìn nhận: “cho phép một số hạn chế ngoại lệ, nhưng phải
được pháp luật cho phép trước, trong trường h
ợp thực sự có sự đe doạ đến an
ninh quốc gia trong các xã hội dân chủ”.
Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng cũng quy định: “Tôn
Điều 11 Hiến pháp qui định “Công dân thực hiệ
n quyền làm chủ của
mình ở cơ sở bằng cách tham gia các công việc của Nhà nước và xã hội”.
Điều 53 Hiến pháp qui định “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà
nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương,
kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý
dân”.
Những qui định trên đây của Hiến pháp thể hiệ
n một định hướng nhất
quán của Nhà nước ta trong việc tạo điều kiện để cho nhân dân thực hiện quyền
làm chủ của mình về mọi mặt: làm chủ về chính trị, về kinh tế, về văn hoá, xã
hội. Ngoài việc ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, Nhà nước còn có trách
nhiệm tạo các cơ chế, điều kiện vật chất để người dân thực hiện quyền làm chủ
của mình trên thực tế. Người dân thực hiện quyền làm chủ thông qua đại diện
do mình bầu ra trong các cơ quan Nhà nước hoặc trực tiếp tham gia vào hoạt
động của các cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức chính trị-xã hội. Để có
thể làm tốt điều này thì người dân cần nắm bắt được các thông tin có liên quan
14
đến các hoạt động của cơ quan công quyền một cách đầy đủ, nhanh chóng và
chính xác. Vì vậy, có thể nói rằng việc tiếp cận thông tin hay nói rộng ra quyền
được bảo đảm về thông tin chính là yếu tố quan trọng để người dân tham gia
hoạt động quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
Vừa qua Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn; trong đó có rất nhiều qui định về
quyền làm chủ của nhân dân
ở địa phương cơ sở, có những nội dung dân phải được biết, có những nội dung
dân bàn bạc và quyết định, có những nội dung dân phải được hỏi ý kiến, có
những nội dung dân giám sát…
“Đối với công dân, tiếp cận thông tin sẽ là cánh cửa then chốt đưa họ
- Phòng ngừa các yếu tố, điều kiện nảy sinh tham nhũng;
- Cơ chế bảo
đảm phát hiện nhanh chóng hành vi tham nhũng, và;
- Xử lý người có hành vi tham nhũng và tài sản có nguồn gốc tham nhũng
theo qui định của pháp luật.
Cả ba yếu tố nêu trên sẽ trở nên có hiệu quả hơn khi quyền được thông tin
của người dân nói riêng và của xã hội nói chung được bảo đảm thực hiện.
3. Quyền được thông tin của công dân đối với việc bảo đảm tính công
khai minh bạch trong hoạt động công quyền, góp phần phòng, chống tham
nhũng.
1. Công khai minh bạch - một yếu tố giảm trừ tham nhũng, tăng cường
trách nhiệm giải trình công
Năm 1988, Klitgaard đã đưa ra một phương trình thú vị để nói về tham
nhũng như sau:
THAM NHŨNG (C) = CHUYÊN QUYỀN(M) + TUỲ TIỆN (D) -
MINH BẠCH (T)
- Ở nơi nào thông tin bị bưng bít thì cũng gần như đồng thời ở nơi đó
tham nhũng và tiêu cực phát triển.
- Để chống lại điề
u đó thì vấn đề bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin
của công chúng (hay nói rộng hơn là quyền tự do thông tin) được coi là ưu tiên
số một. Nói một cách vắn tắt thì tiếp cận thông tin là khả năng công dân có
được thông tin về hoạt động trong quá khứ, hiện tại và tương lai của Nhà nước
(tất nhiên là từ trung ương đến địa phương cơ sở).
16
Từ công thức nêu trên mà đối chiếu với sự tác động của quyền tiếp cận
thông tin thì sẽ thấy:
+ Quyền tiếp cận thông tin sẽ làm giảm đi sự chuyên quyền
4
“Các qui định về dịch vụ công ở Hoa Kỳ”, Tạp chí Thanh tra số 11/2007, trang 63
17
của bộ máy (Nhà nước là người chủ động còn người dân là người được thụ
hưởng thông tin do Nhà nước mang đến); Hoặc Nhà nước tạo cơ chế và sẵn
lòng đáp ứng khi công chúng có yêu cầu.
Vậy thì, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân (trong trường
hợp này người dân chủ động đòi hỏi, yêu cầu và Nhà nước có trách nhiệm đáp
ứng) sẽ là yếu tố quan trọng c
ủa việc thực hiện nguyên tắc minh bạch trong
hoạt động công quyền. Cần lưu ý rằng người dân không chỉ có quyền được biết
mà hơn thế nữa họ còn có quyền được giải thích khi có thắc mắc kiến nghị về
quá trình thực hiện công vụ và các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước có
trách nhiệm phải trả lời hay giải thích. Đó chính là yếu tố làm tăng thêm trách
nhiệm giải trình công. Chẳng h
ạn trong lĩnh vực tài chính công, việc giải trình
sẽ được thực hiện nếu công chúng bắt đầu nghi ngờ về việc thu chi một khoản
ngân sách nào đó.
2. Công khai minh bạch giảm trừ tệ vòi vĩnh hối lộ
Thông tin mà người dân cần không chỉ là thông tin về hoạt động của bộ
máy nhà nước mà còn là chính là những thông tin về các quyền dân sự của
mình với tư cách là một công dân. Từ đó hiệu quả của việ
c thực hiện quyền
tiếp cận thông tin với việc ngăn ngừa tham nhũng chính còn ở chỗ người dân
biết được quyền và cách thực hiện quyền của mình để không buộc phải đưa hối
lộ (tức là không phải mua chính cái quyền của mình). “Quan tham vì dân dại”
mà “dại” ở đây là do thiếu thông tin hoặc bị bưng bít thông tin. Muốn cho dân
bớt “dại”, bớt hối lộ quà cáp thì phải cho họ biết rõ họ
phổ biến thông tin nói chung và thông tin về tham nhũng nói riêng theo pháp
luật trong nước mà không làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các cơ
quan nhà nước hoặc lợi ích của các cơ quan chính phủ và cá nhân. Các biện
pháp tiến hành có thể như sau:
- Qui định các yêu cầu về công bố công khai đối với cơ quan tư pháp và cơ
quan chính phủ, trong đó bao gồm công khai cả những nỗ lực nhằm tăng cường
tính liêm chính, trách nhiệm giải trình và chống tham nhũng;
- Thực hiện các biện pháp qui định về quyền tiếp cận của công chúng đến
những thông tin thích hợp.
19
3. Những nội dung hoạt động cần quan tâm trong việc công khai hoá và
bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân để phòng, chống tham nhũng
Tính chất phức tạp của hành vi tham nhũng làm cho việc đấu tranh phòng,
chống tệ nạn này trở nên hết sức khó khăn. Ngoài quyết tâm chính trị của đảng
cầm quyền và một bộ máy nhà nước với các cơ quan có chức năng chống tham
nhũng đủ mạ
nh thì không thể thiếu sự ủng hộ, đồng tình và tham gia tích cực
của xã hội công dân. Đảng ta khẳng định, cần phải:
“Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân;
thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh
tế, hình sự.”
5
- Tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực hoặc sử dụng quyền lực một cách
phi pháp để thu lợi bất chính cho cá nhân. Để ngăn chặn điều này, trước tiên
phải tính đến đó là phải có các giải pháp để buộc hoạt động công quyền được
công khai, từ đó tăng cường khả năng giám sát của công chúng đối với hoạt
động công quyền. Có thể thấy ngay việc lợi d
ụng công quyền để thực hiện
ó là các thông tin liên quan đến hoạt động, quá
trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ án dân sự,
kinh tế lao động, hôn nhân gia đinh, quá trình thi hành bản án, quyết định của
toà án. Tại các đơn vị cơ sở là những nội dung liên quan đến quyền lợi ích của
người lao động, việc trích lập và sử dụng các loại quỹ, việc sử dụng tài sản và
ngân sách nhà nước, việc thực hiện quy chế
chi tiêu nội bộ… Tại xã, phường,
thị trấn là việc sử dụng và quản lý đất đai, việc huy động và sử dụng các khoản
đóng góp của nhân dân, việc sử dụng các công trình công cộng…
Khi nghiên cứu những quy định của Luật phòng, chống tham nhũng có thể
thấy vấn đề công khai minh bạch được thể hiện qua ba yếu tố chính:
Một là công khai minh bạch trở thành nguyên tắc chung trong hoạt động
của các c
ơ quan nhà nước;
Hai là, việc thực hiện công khai minh bạch phải theo những hình thức mà
nhà nước qui định;
Ba là, người dân có quyền được yêu cầu cung cấp thông tin. Yếu tố này
được coi như là một sự bảo đảm để nguyên tắc công khai minh bạch được thực
hiện trên thực tế.
21
Từ những sự phân tích nêu trên có thể kết luận rằng, việc bảo đảm quyền
được thông tin của công dân có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao
tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước cũng như của
đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong hoạt động công quyền, đặc biệt là
trong hoạt động quản lý của nhà nước, nơi trực tiếp quản lý các nguồn lự
c vật
chất và con người cũng như là nơi trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các quyền và
lợi ích của người dân. Minh bạch hoá hoạt động công quyền chính là một trụ
cột quan trọng để việc xây dựng một nền công vụ liêm chính, phi tham nhũng.
+ Thông tin rộng rãi về hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị;
+ Yêu cầu các cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin và trả lời các vấn đề mà
công dân
đặt ra trên các phương tiện thông tin đại chúng;
+ Là diễn đàn để nhân dân phổ biến, chia sẻ thông tin.
- Xây dựng một hệ thống cung cấp thông tin cho công dân phù hợp với nhu
cầu và đặc điểm của nhóm đối tượng theo ngành nghề, vùng miền, đặc điểm giới
tính, lĩnh vực công tác, xây dựng tủ sách pháp luật xã, phường;
- Thực hiện chương trình tuyên truyền phổ biến và giáo dục pháp luật một
cách thường xuyên và sâu rộng (hiệ
n nay các địa phương đều có Hội đồng tuyên
truyền phổ biến giáo dục pháp luật).
Ba là, phải tạo ra một cơ sở hạ tầng tốt và hiện đại có khả năng đáp ứng
nhu cầu thông tin của công dân, nhất là những thông tin liên quan trực tiếp đến
lợi ích của công dân của từng khu vực, nhóm đối tượng khác nhau một cách
nhanh chóng, đầy đủ và chính xác nhất.
IV. Vấn đề bảo đảm quyề
n được thông tin của công dân ở một số
nước trên thế giới.
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã sưu tầm được luật liên
quan đến việc bảo đảm quyền thông tin của công dân của một số tổ chức quốc tế
và của 20 nước trên thế giới, cụ thể như sau:
- Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948;
- Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966;
- Công ước của Liên hợp quốc về quyền tr
ẻ em năm 1989;
- Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003;
23
- Chương trình hành động chống tham nhũng khu vực Châu Á Thái Bình
- Luật về công khai các hoạt động của Chính phủ của Phần Lan năm 1999;
- Luật về tự do tiếp cận thông tin hành chính của Cộng hoà Pháp năm 1978;
- Luật về quyền được thông tin của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2003 (có hiệu lực từ
năm 2004);
- Luật tự do báo chí của Thuỵ Điển năm 1949;
- Pháp lệnh của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về công khai thông tin
của chính quyền năm 2007 (có hiệu l
ực từ 1/5/2008);
- Luật tự do thông tin của Úc năm 1982 được sửa đổi, bổ sung năm 2005;
- Luật tự do thông tin của Vương quốc Anh năm 2000;
Đặc điểm chung Luật tiếp cận thông tin của một số nước trên thế giới:
Theo TS. Tường Duy Kiên, Viện nghiên cứu quyền con người, thì có thể
tóm tắt một số đặc điểm về quyền thông tin trong các văn bản luật của các nước
trên th
ế giới như sau:
1. Về phạm vi áp dụng: Nghiên cứu các luật của nhiều nước trên thế giới
cho thấy tiếp cận thông tin hầu hết áp dụng cho các cơ quan hành chính nhà
nước; bao gồm một loạt các cơ quan thực hiện chức năng công trên lĩnh vực sức
khoẻ, giáo dục, ngân sách, tài chính, môi trường, pháp luật, truyền thông và giao
thông với lý do hoạt động hành pháp là nơi thực hiện trực tiếp các quyền của
công dân và th
ường đụng chạm nhiều đến các quyền công dân; một số ít áp dụng
đối với cả các họat động tư pháp (toà án).
Theo hướng này, một số nước đưa ra một định nghĩa rộng về các cơ quan
công quyền để từ đó xác định trách nhiệm và nghĩa vụ cung cấp thông tin. Có
một số nước liệt kê cụ thể danh mục các chủ thể công có nghĩa vụ cung cấp
thông tin cho công chúng (chẳng hạ
n như Vương Quốc Anh).
Cũng có nhiều quốc gia tiếp cận thông tin do các chủ thể tư nhân nắm giữ,
như Luật thúc đẩy tiếp cận thông tin của Nam Phi cho phép cá nhân, các cơ quan