MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Giả thuyết khoa học 5
8. Cấu trúc của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Cơ sở tâm lí học 6
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1 Thực trạng dạy học chính tả 10
1.2.1.1 Về phía giáo viên 10
1.2.2.2 Về phía học sinh 11
1.2.2 Nội dung chính tả trong Chương trình và SGK tiểu học 15
TIỂU KẾT 18
CHƢƠNG 2. BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO
HỌC SINH LỚP 3 TRƢỜNG TIỂU HỌC BÌNH SƠN 19
2.1 Luyện phát âm và giải nghĩa từ 19
2.2. Cung cấp quy tắc chính tả cho học sinh 21
2.3 Giúp HS nắm vững cấu trúc âm tiết tiếng Việt 21
2.4 Dựa vào mẹo chính tả 23
2.4.1 Phân biệt l/n 23
2.4.2 Phân biệt tr/ch 26
STT Số thứ tự 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang thực hiện chiến lược đổi mới sâu sắc toàn diện về kinh tế,
xã hội nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vững
bước tiến vào thế kỉ mới.
Trong việc đổi mới, con người là khâu đột phá, có tính quyết định. Điều đó
đòi hỏi sản phẩm của nền giáo dục là phải có những con người mới, có năng lực
thực tiễn. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có đường lối quan điểm chỉ đạo,
chính sách đúng đắn nhằm đổi mới việc đào tạo, giáo dục con người ở mọi
ngành học, bậc học, coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Do vậy, chương trình
và SGK môn Tiếng Việt đã được biên soạn theo hướng tăng cường dạy kĩ năng
giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết). Phân môn chính tả trong nhà trường giúp HS
hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và
thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực. Có thể nói, nó có
vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình của môn Tiếng Việt nói riêng, các
môn học ở trường PT nói chung.
Ở bậc tiểu học, phân môn Chính tả càng có vị trí quan trọng bởi vì giai
đoạn tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả
cho học sinh. Không phải ngẫu nhiên mà ở tiểu học, chính tả được bố trí thành
một phân môn độc lập (thuộc môn Tiếng Việt) có tiết dạy riêng. Trong khi đó, ở
trung học cơ sở và phổ thông trung học, chính tả chỉ được dạy xen kẽ trong các
tiết thực hành ở phân môn Tập làm văn chứ không tồn tại với tư cách là một
phân môn Chính tả như tiểu học. Tính chất nổi bật của phân môn Chính tả là
thế giới. Tiếp đó, chương trình dạy tiếng Việt ở Tiểu học năm 2006 là sự hoàn
thiện tiếp tục chương trình dạy tiếng Việt năm 2001. Chương trình mới đòi hỏi
phải có sự đổi mới về phương pháp cũng như các hình thức tổ chức dạy học cho
phù hợp. Chính vì vậy, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên
cứu đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học nói
chung và ở Tiểu học nói riêng.
Trong cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt tiểu học (NXB Đại học Sư
Phạm – 2002) với mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hiện
đại và các kĩ năng giảng dạy tiếng Việt ở trường Tiểu học. Giáo trình cung cấp
3
những vấn đề chung của phương pháp dạy học. Bên cạnh đó các tác giả còn đưa
ra nhiều phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích
cực HS trong từng phân môn cụ thể.
Trong cuốn Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình
mới (NXB Giáo dục – 2007) đã cung cấp những thông tin tổng quát về chương
trình dạy tiếng mẹ đẻ ở cấp Tiểu học của một số nước trên thế giới. Tác giả cho
rằng: việc dạy tiếng Việt phải nhằm cả vào hai chức năng của ngôn ngữ (công
cụ tư duy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng ( nghe, nói,
đọc, viết); phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giao tiếp. Bên
cạnh đó, tác giả cũng đưa ra vấn đề cần tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu dạy
tiếng mẹ đẻ trên thế giới cũng như nhược điểm cần khắc phục của các chương
trình Tiếng Việt trong mấy thập niên trước đó. Đó chính là cơ sở khoa học và
thực tiễn của việc xây dựng chương trình mới, đổi mới phương pháp dạy học
môn Tiếng Việt nói chung và môn Chính tả nói riêng.
Trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học – tài liệu đào tạo
GV -2007 của Bộ giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV Tiểu học đã tổ
chức biên soạn các môđun đào tạo, bồi dưỡng GV nhằm nâng cao năng lực
chuyên môn - nghiệp vụ , cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp
dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục tiểu học theo chương trình, SGK
5. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài khảo sát, nghiên cứu việc dạy học chính tả và thực tế trình độ chính
tả của HS lớp 3 ở một trường Tiểu học miền núi của tỉnh Bắc Giang.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi nghiên cứu về vấn đề: HS lớp 3 trường tiểu học Bình
Sơn - Lục Nam – Bắc Giang thường viết sai các lỗi chính tả, lỗi phụ âm, lỗi phụ
âm đầu.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp đọc, phân tích, tổng hợp hóa và khái quát hóa các tài liệu có
liên quan làm cơ sở lí luận cho đề tài. 5
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra: Khảo sát nội dung sách giáo khoa, năng lực viết chính
tả của học sinh.
+ Phương pháp trò chuyện: Trao đổi với giáo viên và học sinh của trường Tiểu
học Bình Sơn để tìm hiểu thực trạng dạy và học chính tả.
+ Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm để khẳng định tính
khả thi của đề tài.
+ Phương pháp xử lí kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học: Sử dụng toán
thống kê để xử lí thông tin, số liệu thu được.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện thành công đề tài “Rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS
lớp 3 trường Tiểu học Bình Sơn- Lục Nam-BắcGiang” sẽ:
- Là tài liệu nhỏ cho các bạn sinh viên chuyên ngành Tiểu học, GV tiểu
học, nhất là các GV đang công tác tại địa bàn miền núi tham khảo, trong quá
trình rèn kĩ năng chính tả cho HS trên chữ viết.
lĩnh kiến thức, rèn luyện kĩ năng và thông qua đó hình thành nhân cách con người
phát triển một cách toàn diện. Nếu như HS là đối tượng của hoạt động học thì GV
là đối tượng của hoạt động dạy. GV đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, định
hướng hoạt động học tập của HS. Như vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả
của dạy học cần phải chú ý đến đặc điểm tâm lí của HS ở lứa tuổi này.
Các nhà khoa học đã chỉ rõ rằng về mặt sinh lí, ở trẻ Tiểu học, khối lượng
bộ não đã đạt tới 90%. Sự chín muồi về mặt sinh lí cùng với sự phát triển của
những quá trình tâm lí (như tri giác, trí nhớ, tư duy, chú ý…) đã tạo điều kiện để
các em thực hiện được hoạt động học tập. Tuy vậy, ở giai đoạn HS Tiểu học, các
cơ quan của cơ thể chưa phát triển đầy đủ, khả năng mã hóa các đơn vị ngôn
ngữ âm thanh thành chữ viết còn chậm, viết thiếu từ hay mắc một số lỗi như lỗi
không nắm vững chính tự (viết nhầm các phụ âm đầu: l/n, tr/ch, s/x…), lỗi
không nắm vững cấu trúc âm tiết của tiếng Việt, không hiểu cấu trúc nội bộ của
âm tiết tiếng Việt… Thêm nữa, do hệ thần kinh phát triển chưa ổn định nên các
em dễ bị phân tán bởi các điều kiện ngoại cảnh.
Thuật ngữ chính tả hiểu theo nghĩa gốc là “ Phép viết đúng” hoặc “ Lối viết
hợp với chuẩn”. Nói cách khác, chính tả là việc tiêu chuẩn hóa chữ viết của một
7
ngôn ngữ, yêu cầu cơ bản của chính tả là thống nhất cách viết cho từng từ cụ thể
trên phạm vi toàn quốc và trên tất cả các loại hình văn bản viết. Một ngôn ngữ
văn hóa không thể không có chính tả thống nhất, chính tả có thống nhất thì việc
giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không gặp trở ngại giữa các địa phương trong
cả nước cũng như các thế hệ với nhau.
Phân môn Chính tả trong nhà trường giúp HS hình thành năng lực và thói
quen viết đúng chính tả. Nói rộng hơn là năng lực viết đúng tiếng Việt văn hóa,
tiếng Việt chuẩn mực. Vì vậy, phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ
cấu chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở trường PT nói chung.
Ở bậc Tiểu học, phân môn Chính Tả có một vị trí quan trọng. Bởi vì giai
đoạn cấp Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng
trường hợp chính tả bất quy tắc. Loại chính tả không có ý thức là loại chính tả
bất quy tắc cần học thuộc và nhớ các trường hợp cụ thể. Chủ trương dạy chính tả
không quan tâm đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cần hiểu mối
quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ pháp của chính tả
mà đơn thuần là việc viết đúng từng trường hợp, từng từ cụ thể. Cách dạy học
này tốn nhiều thời gian, công sức và không thúc đẩy sự phát triển của tư duy mà
chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định phù hợp với giai đoạn
đầu bậc Tiểu học, gắn liền với các kiểu bài như Tập chép… Loại chính tả có ý
thức chủ trương cần phải bắt đầu từ việc phát hiện, nhận thức các quy tắc, quy
luật chính tả. Việc hình thành các kĩ xảo chính tả bằng con đường có ý thức thì
sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức và đạt hiệu quả cao nhất. Dạy chính tả ở
Tiểu học, cần vận dụng cả hai con đường nói trên. Trong đó, phương pháp
không có ý thức sử dụng chủ yếu ở các lớp đầu cấp còn phương pháp có ý thức
cần sử dụng ở các lớp cuối cấp.
Từ những cơ sở tâm lí trên khiến cho việc lựa chọn nội dung , hình thức
các bài Chính tả trong chương trình Tiếng Việt cũng chịu sự chi phối căn bản.
Người GV phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí của HS lứa tuổi này để
nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học nói chung và chính tả nói riêng. Đồng
thời, cần có những biện pháp dạy học tích cực, hình thức dạy học phong phú
phát huy trí lực của HS, nhằm đạt kết quả dạy học cao nhất.
9
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học
Chính tả ngữ âm là chính tả mà các âm vị ở vị trí cơ bản của chúng, nghĩa
là mỗi âm vị được ghi bằng một con chữ. Đối với việc hình thành kĩ xảo chính
tả, đặc tính của mẫu văn bản, đoạn trích mà HS dựa vào đó để lĩnh hội chính tả
là rất quan trọng. Theo đó khi viết chính tả theo nguyên tắc ngữ âm là các biểu
tượng âm thanh, điều này thể hiện là giữa đọc và viết thống nhất với nhau. “ Đọc
như thế nào thì viết như thế ấy”. Cơ chế của cách viết đúng trong trường hợp
này thể hiện thao tác luyện tập dạy liên hệ giữa âm vị và chữ cái.
1.2.1 Thực trạng dạy học chính tả
Thông qua việc rèn luyện thực hành để HS hình thành dần kĩ năng, kĩ xảo
và và thói quen viết đúng chính tả. Tuy nhiên, yêu cầu cần thiết và tính chất
quan trọng của việc viết đúng chính tả như thế, nhưng thực tế của việc dạy và
học chính tả ở trong trường Tiểu học hiện nay vẫn còn tồn tại một số lỗi nhất
định. Những tồn tại phổ biến hiện nay thường biểu hiện qua mấy điểm sau:
1.2.1.1 Về phía giáo viên
Nhìn chung, giáo viên chưa có nhận thức đúng đắn về vị trí, nhiệm vụ của
môn Chính tả trong trường Tiểu học. Thường ít quan tâm đến việc viết đúng
chính tả cho HS, chưa xác định được yêu cầu, kiến thức cần đạt được về chính tả
ở khối lớp mình phụ trách. Từ những quan niệm, nhận thức lệch lạc đó nên trong
giảng dạy phân môn chính tả, GV ít dành thời gian và ít nghiên cứu để dạy tốt
phân môn Chính tả, cụ thể như: không chú ý để thống kê những lỗi phổ biến ở
lớp mình phụ trách, của địa phương HS đang sinh sống, chưa vận dụng sáng tạo
những từ, những bài dạy ngoài sách HS, để bài dạy thêm đa dạng. Tần số chính
tả xuất hiện nhiều và phù hợp với tình hình mắc lỗi chính tả của HS lớp mình
phụ trách và địa phương HS đang sinh sống. Về nói, hầu hết các GV chỉ phát âm
đúng trong giờ dạy tập đọc và lúc đọc chính tả. Như vậy nghĩa là ở các môn học
khác giáo viên luôn phát âm theo kiểu bình thường của người địa phương. Ta
vẫn biết rằng việc phát âm không đúng chuẩn không phải lúc nào cũng ảnh
hưởng đến chính tả.
Ví dụ: Phát âm là “Mái cài” mà thực chất là “Máy cày” mới đúng. Chính
vì vậy, nếu ta không hiểu nghĩa của từ khó thì khó mà viết đúng chính tả được.
11
Về viết, biểu hiện chủ yếu trong việc chấm, sửa bài của GV không mấy
cẩn thận, không quan tâm đến lỗi chính tả cho học sinh ở các môn khác.
1.2.2.2 Về phía học sinh
Các em chỉ chú ý viết đúng chính tả trong giờ chính tả chủ yếu là nghe
GV phát âm, chứ không cần nghe hiểu nghĩa từ để viết đúng chính tả. Chính vì
phiền về lỗi chính tả của HS. Nhiều người đã lên tiếng báo động về tình trạng này.
Tác giả Nguyễn Đức Dương viết: “Tại sao mãi tới giờ, sau gần mười sáu năm cải
cách giáo dục, HS chúng ta vẫn còn viết sai chính tả và sai nhiều đến như vậy?.
Theo tác giả Hà Quang Năng: “ Trong bài kiểm tra của 728 HS lớp 5 thuộc trường
tiểu học (trường Lê Văn Tám của quận Hai Bà Trưng, trường Trần Quốc Toản của
quận Hoàn Kiếm, trường Yên Hòa và Trung Hòa của huyện Từ Liêm, Hà Nội) kết
quả như sau: Trong 728 bài kiểm tra có 3238 lỗi chính tả, trung bình mỗi bài có
trên 4 lỗi trong đó bài mắc nhiều lỗi chính tả nhất là 69 lỗi”.
Những con số thống kê trên phần nào cho chúng ta thấy lỗi chính tả là một
hiện tượng phổ biến.
Sau khi khảo sát thực tế tại trường Tiểu học Bình Sơn – Lục Nam – Bắc Giang,
đề tài thu được kết quả như sau:
Trường Tiểu học Bình Sơn có 10 lớp học tập trung tại một địa điểm
trường thuộc xã Bình Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Trường có tổng số
20 GV và đều đạt chuẩn GV Tiểu học, trong đó có 5 GV trình độ Đại học, 15
GV trình độ Cao đẳng và Trung cấp. Hầu hết các GV trong trường đều đạt GV
dạy giỏi cấp huyện, còn lại là GV dạy giỏi cấp trường và GV dạy chuyên môn.
Trường có 4 lớp 3, tổng số 90 HS, trong đó HS là người kinh chiếm khoảng
70% Gia đình các em, chủ yếu là làm nông. Qua việc trò chuyện, tôi thấy có
nhiều em phát âm và viết nhầm lẫn giữa các phụ âm l/n, tr/ch và s/x.
Qua thực tế khảo sát vở chính tả, vở tập làm văn, vở bài tập Tiếng Việt…
của HS khối 3 trường Tiểu học Bình Sơn, bản thân tôi nhận thấy các em mắc
khá nhiều lỗi chính tả. Thống kê số lỗi chính tả của HS, tôi thấy có 2 loại lỗi cơ
bản sau:
- Lỗi chính tả do không nắm vững chính tự. Loại lỗi này thường gặp khi
viết các phụ âm đầu : l/n, tr/ch, s/x
13
Tuy nhiên, ở góc độ nào đó chính tả tiếng Việt luôn đòi hỏi những kết hợp
khá phức tạp. Cho nên vấn đề các em HS miền núi thường xuyên hay nhầm lẫn
3A
3B
3C
3D
30
27
30
29
8 em
9 em
12 em
10 em
6 em
5 em
4 em
3 em
14
Ngoài ra, vẫn còn một số HS không nắm được cách đặt dấu thanh tiếng
Việt và GV cũng không chú ý sửa lỗi cho các em vì cho rằng chỉ số ít HS mắc
lỗi. Hiện nay, vấn đề đánh dấu thanh tiếng Việt đã được xử lí thống nhất trong
SGK của chương trình Tiểu học mới do NXB Giáo dục ấn hành, cụ thể: dấu
thanh (huyền, hỏi, ngã, nặng) được đánh ở âm chính : nặng, bé , đổ…; khi âm
chính là một âm đôi, xuất hiện trong âm tiết mở (không có âm cuối), thì dấu
thanh được đánh ở yếu tố đầu của nguyên âm đôi đó : bìa, bùa, bừa…; Khi âm
chính là một âm đôi, xuất hiện trong âm tiết đóng (có âm đôi), thì dấu thanh
được đánh ở cuối của nguyên âm đôi đó. Cần phải chú ý cách đặt dấu thanh
trong chữ viết tiếng Việt vì đặt dấu thanh sai cũng là viết sai chính tả. Về vấn đề
thơ, GV đưa ra hệ thống câu hỏi : Từ bàn tay khéo léo của cô giáo các em đã
thấy những gì? Bài thơ nói lên điều gì? HS lần lượt trả lời các câu hỏi GV đưa
ra là: “Từ bàn tay cô giáo em đã thấy: chiếc thuyền, ông mặt trời, sóng biển. Bài
thơ cho biết bàn tay cô giáo khéo léo mềm mại như có phép mầu đã mang đến
cho chúng em niềm vui và bao điều kì lạ”. Qua các câu hỏi trên, người nghe có
cảm giác như đang dự một tiết Tập đọc ở phần tìm hiểu bài hơn là một tiết Chính
tả. Hạn chế ở tiết học trên là GV đã đi theo quy trình dạy chính tả một cách thụ
động, mất quá nhiều thời gian để giúp HS nhớ lại bài viết cũng như nội dung của
bài. Khi hướng dẫn HS viết bài, sau khi yêu cầu HS tìm từ khó và luyện viết, GV
lưu ý HS cách trình bày bài thơ: “Bài thơ có 5 khổ thơ. Mỗi dòng thơ có 4 chữ,
chữ đầu đầu dòng phải viết hoa và viết lùi vào 3 ô. Giữa hai khổ thơ để cách một
dòng”. Thay vì đưa ra các câu hỏi để HS nhắc lại cách trình bày đoạn thơ, GV lại
nói hộ HS. Tiết học này GV nói nhiều, không phát huy tính chủ động của HS và
mất nhiều thời gian vào phần tìm hiểu cũng như hướng dẫn viết bài, trong khi
trọng tâm của tiết chính tả là phần viết bài và làm bài tập của HS.
1.2.2 Nội dung chính tả trong Chương trình và SGK tiểu học
Nội dung chính tả tiếng Việt bao gồm hệ thống các quy tắc sử dụng con
chữ để ghi lại âm thanh của lời nói mà khúc đoạn ngắn nhất của dòng âm thanh
ấy là âm tiết (tiếng) và một số chữ ngoại lệ cần phải ghi nhớ - những trường hợp
chính tả không hoàn toàn theo quy tắc ngữ âm học.
Nội dung cơ bản của chính tả tiếng Việt là dạy cho HS cách sử dụng chữ
viết để ghi lại các âm tiết. Viết đúng chính tả tiếng Việt trước hết là viết đúng
16
các âm tiết trong lời nói và trong văn bản viết. Rèn luyện chính tả là việc làm
cần thiết và có nhiều ý nghĩa , không chỉ giúp học sinh tiểu học hiểu đúng nghĩa
của từ ngữ, trên cơ sở đó hiểu văn bản tốt mà còn rèn luyện cho HS bậc tiểu học
đức tính cẩn trọng ngay từ khi còn nhỏ. Những vấn đề cụ thể mà chính tả ở tiểu
học cần giải quyết là:
Lớp 1:
nên, Tiếng sáo diều.
Bài tập chính tả trong SGK tập hai tập trung vào các chủ điểm: Người ta
là hoa đất, Vẻ đẹp muôn màu, Những người quả cảm, Khám phá thế giới, Tình
yêu cuộc sống.
Lớp 5:
+ Nghe – viết chính tả những bài Tập đọc đã học (chứa những hiện tượng
có vấn đề chính tả).
+ Viết các cặp từ có âm tiết dễ lẫn lộn phụ âm đầu, vần và thanh (chính tả
so sánh).
+ Tự chấm câu khi viết chính tả.
Bài tập chính tả trong SGK tập một tập trung vào các chủ điểm: Việt Nam
tổ quốc em, Cánh chim hòa bình, Con người với thiên nhiên, Giữ lấy màu xanh,
Vì hạnh phúc con người.
Bài tập chính tả trong SGK tập hai tập trung vào các chủ điểm: Người
công dân, Vì cuộc sống thanh bình, Nhớ nguồn, Nam và nữ, Những chủ nhân
tương lai. 18
TIỂU KẾT
Qua việc phân tích cơ sở lí luận của dạy học chính tả, chúng ta nhận thấy
tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả. Đây là điều kiện quan
trọng để hình thành kĩ xảo chính tả. Việc xác định đúng các lỗi chính tả HS thường
mắc phải sẽ giúp GV có các biện pháp giúp HS sửa lỗi, hình thành năng lực và thói
quen viết đúng chính tả, cũng như các biện pháp đổi mới trong dạy – học Chính tả
nói chung nhằm nâng cao hiệu quả hiệu quả dạy học Chính tả nói chung nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học Chính tả đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của gia đình,
nhà trường, ngành Giáo dục nói riêng và xây dựng xã hội nói chung.
Bên cạnh đó, việc khảo sát tìm hiểu về trình độ HS và thực trạng nội dung,
phương pháp dạy học của GV hiện nay hiệu quả còn chưa cao. Vẫn còn nhiều
làm văn,… GV nếu thấy HS phát âm sai cần yêu cầu HS sửa lại cho đúng trước
lớp bằng cách phân tích cho HS hiểu cách phát âm.
VD: Khi HS phát âm ra chưa đúng thì GV phải hướng dẫn HS cách đọc,
đó là: Uốn đầu lưỡi, lưỡi chạm vào vòm cứng bật ra không có tiếng thanh. GV
phát âm trước HS phát âm sau, khi GV làm mẫu thì GV phải quay xuống lớp để
HS đó quan sát và đọc đi đọc lại nhiều lần.
20
Việc phát âm không chỉ được thực hiện trong giờ Tập đọc mà phải phải
thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các giờ học không kể các
phân môn của Tiếng Việt hay Toán. Trong các giờ Tập đọc, GV phải dành thời
gian sửa lỗi phát âm cho HS đặc biệt là các phụ âm l và n; tr và ch; s và x.Cùng
với việc hướng dẫn phát âm một cách cụ thể, tỉ mỉ, GV cần chú ý gọi các HS có
vấn đề về mặt phát âm (nói ngọng, nói lắp) để các em được thực hành luyện tập
nhiều. Thêm nữa, việc GV phát âm mẫu cho các em này phát âm theo thì cả lớp
cũng được luyện tập, tự sửa lỗi. Việc luyện tập phát âm cho HS không chỉ tiến
hành trong các giờ học chính khóa mà cả trong các giờ học tự chọn, GV có thể
đưa ra các câu, các “bài thơ chính tả” cho HS luyện tập phát âm, đồng thời
luyện tập viết đúng chính tả theo hướng “vui mà học” như:
- Chỉ có n
Cô nàng ăn nói nết na
Nấu nướng, bếp núc việc nhà siêng năng
Nuôi con nặng nhọc bao năm
Nghề nông, việc nước đều chăm hơn người.
- Chỉ có l
Học sinh nhớ lấy làm lòng
Tới lui, lo lắng, lời trong tiếng ngoài
Hiền lành là lợi, em ơi!
Láo lếu, liều lĩnh mọi người coi khinh.
- Có cả l và n
D đi với các vần: oa, oă, uâ,oe, uê,uy,
Q kết hợp được với u ở sau nó
Gh kết hợp với các vần iêc, iêng thì được phép bỏ đi một chữ i
Trên đây là một số kết hợp chính tả tiếng Việt cơ bản nhất mà GV cần
cung cấp một cách toàn diện cho HS, giúp ích phần nào cho các em viết đúng
chính tả tiếng Việt.
2.3 Giúp HS nắm vững cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Âm tiết tiếng Việt là một chỉnh thể bền vững, mỗi âm đảm nhiệm những
chức năng nhất định trong cùng một âm tiết. Vì thế, khi dạy chính tả cho HS,
cần phân tích rõ vị trí và chức năng của chúng trong nội bộ âm tiết, giúp HS nắm
22
vững được vị trí của từng âm, không để nhầm lẫn với các âm khác trong cùng
một âm tiết cụ thể.
GV có thể hướng dẫn cho HS sử dụng các sơ đồ cấu tạo âm tiết từ dạng đơn
giản đến phức tạp, dưới hình thức điền thành phần tương ứng. Sơ đồ cấu tạo âm
tiết tiếng Việt được trình bày trong bảng sau:
Âm tiết chỉ có âm chính (Nguyên âm) và thanh điệu
Âm tiết
Tiêu chí khu biệt
Phụ âm đầu
Âm đệm
Âm chính
Âm cuối
Thanh điệu
ạ a
Tiêu chí khu biệt
Phụ âm đầu
Âm đệm
Âm chính
Âm cuối
Thanh điệu
Tuy
t
u
Thanh
không
Hòa
h
o
\
Âm tiết chỉ có phụ âm đầu, âm chính, âm cuối (Bán âm cuối hoặc phụ
âm cuối) và thanh điệu
Âm tiết
Tiêu chí khu biệt
Phụ âm đầu
Âm đệm
Âm chính
Âm cuối
Thanh điệu
Tui
t