1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN PHƢƠNG THANH
RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2014
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
đến PGS.TS Nguyễn Quang Ninh, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ
bảo, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo của trường Đại
học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội - những người luôn nhiệt tình với
công tác đào tạo người thầy đã để lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp trong
suốt 6 năm tôi học tập tại đây.
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đang giảng
dạy tại trường Tiểu học Trung Tự, Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình triển khai đề tài. Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn gia
đình, người thân và bạn bè đã dành cho tôi sự quan tâm khích lệ và chia sẻ
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng luận văn khó tránh khỏi thiếu sót. Tôi
rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và
các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Phƣơng Thanh 4
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Viết tắt
ĐC
ii
5
MỤC LỤC
Lời cảm ơn…………………………………………………… . ………………i
Danh mục các chữ viết tắt………… ………………………… . ………….….ii
Danh mục các bảng……………………………………………… ………….v
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA RÈN KĨ NĂNG
VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC…….……………… 8
1.1. Cơ sở lí luận 8
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ Tiếng Việt liên quan đến Chính tả 13
1.1.3. Nguyên tắc dạy học Chính tả 16
1.1.4. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học (liên quan đến rèn kỹ
năng viết Chính tả). 20
1.2. Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1. Chương trình phân môn Chính tả ở Tiểu học 22
1.2.2.Thực trạng kĩ năng viết Chính tả của học sinh Tiểu học 25
1.2.3. Thực trạng rèn kĩ năng viết Chính tả 31
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Chuẩn kĩ năng Chính tả Tiểu học
10
Bảng 1.2. Bảng thống kê lỗi chính tả của học sinh Bắc Trung Bộ
28
Bảng 3.1. Bảng tỉ lệ phần trăm điểm số lớp ĐC và TN (lớp 4)
75
Bảng 3.2. Bảng điểm số (x
i
) và tần số xuất hiện (n
i
) (Lớp 4)
76
Bảng 3.3. Điểm trung bình giữa hai lớp 4
76
Bảng 3.4. Bảng tỉ lệ phần trăm lớp TN và ĐC (lớp 3)
77
Bảng 3.5. Bảng điểm số (x
i
) và tần số xuất hiện điểm số (n
mẽ của khoa học kỹ thuật, công cuộc đổi mới của đất nước cũng đạt được
những thành tựu nhất định trên tất cả các lĩnh vực. Trong thời đại văn minh,
hiện đại này, ngành giáo dục cũng đứng trước những đòi hỏi mới, đó là đào
tạo được những con người có đủ trình độ, năng lực đáp ứng được những yêu
cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, chúng
ta phải bắt đầu từ bậc học Tiểu học bởi đây là nền móng cho toàn bộ hệ thống
của nền giáo dục quốc dân. Thay vì cung cấp tri thức đơn thuần, những nhà
sư phạm đã hướng tới việc giảng dạy để học sinh biết suy nghĩ độc lập, tích
cực, chủ động, sáng tạo trong việc tìm kiếm và chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng và
có thái độ ứng xử phù hợp với những tình huống luôn biến động trong cuộc
sống. Tuy nhiên, là một giáo viên dạy Văn, tôi có nhiều cơ hội được đọc các
bài văn của học sinh, sinh viên, thường xuyên nói chuyện, trao đổi với các em
về kiến thức cũng như lắng nghe các em chia sẻ về cuộc sống. Bên cạnh niềm
vui của nghề, tôi luôn cảm thấy lo lắng khi mà từ các em học sinh nhỏ tuổi tới
các sinh viên Đại học, Cao đẳng vẫn nói ngọng và viết sai chính tả. Các em
thường đổ lỗi cho lí do vùng miền, thói quen hoặc do bẩm sinh. Tuy nhiên, tôi
biết, một trong những yêu cầu của phân môn Chính tả tại các trường Tiểu học
nói riêng và môn Ngữ văn ở cấp học phổ thông nói chung, là giúp học sinh
biết viết đúng chính tả và sửa nói ngọng. Thiết nghĩ, nếu việc dạy Chính tả ở
trường Tiểu học đạt hiệu quả như mong đợi thì đã không dẫn tới tình trạng
trên.
Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt cũng có nhiều đổi mới
nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu xã hội. Mục tiêu chung
của môn Tiếng Việt ở Tiểu học là: Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ
năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong
9
các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Để giúp cho học sinh khắc sâu được
kiến thức và rèn luyện được kỹ năng, trong quá trình dạy học người giáo viên
phải tổ chức được các hoạt động nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động,
tới nay, sau nhiều cuộc cải cách giáo dục và quá trình hoàn thiện ngôn ngữ
tiếng Việt, những nội dung này còn ít tính phù hợp với dạy học hiện đại.
Đến năm 1989, trong cuốn “Luật và mẹo chính tả”, Phan Quang An đã
đưa ra những điểm cốt yếu trong mẹo - luật chính tả tiếng Việt: đại cương về
tiếng, âm, thanh; Luật hỏi, ngã; Luật chuyển âm, phụ âm đây là nội dung rất
hữu ích khi dạy Chính tả ở Tiểu học.
Năm 2003, Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân Thảo với cuốn “Dạy học chính
tả ở Tiểu học” đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học Chính tả ở
Tiểu học, đồng thời đưa ra một số nguyên tắc, phương pháp và hình thức tổ
chức dạy học Chính tả nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả nói riêng
và dạy học môn Tiếng Việt nói chung. Ngoài ra tác giả còn đề ra một số quy
tắc chính tả tiếng Việt giúp người đọc biết viết đúng, thành thạo âm tiết, từ đó
hình thành kỹ năng chính tả tiếng Việt.
Năm 2007, PGS.TS Nguyễn Quang Ninh tái bản giáo trình “Phương
pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” đã cung cấp một số vấn đề chung về
phương pháp và nguyên tắc đặc trưng của việc dạy học tiếng Việt, cụ thể, với
phần môn Chính tả, tác giả đã đưa ra ba phương pháp đặc trưng của phân môn
này là Trực quan, so sánh - đối chiếu và giải thích, đồng thời cung cấp những
kiến thức cơ bản về nội dung phân môn, phân bố chương trình và quá trình
lên lớp của một tiết Chính tả.
Với cuốn “Chữ viết và dạy chữ viết ở tiểu học” được tái bản nhiều lần từ
năm 2002 tới nay, tác giả Lê A đã phân tích một số cơ sở lý luận và thực tiễn
của dạy học Chính tả ở tiểu học, đồng thời đưa ra một số nguyên tắc và một
số kiểu bài dạy chính tả ở tiểu học cũng như các vấn đề chính tả phương ngữ
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Chính tả. Cuốn sách đã bổ sung những thiếu
sót, đưa ra cách hiểu và giải thích đúng đắn hơn về các quy tắc chính tả mà
“Luật và mẹo chính tả” của Phan Quang An đã đề xuất.
11
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt” của nhóm tác giả Lê Phương Nga,
tôi đi sâu khảo sát một cách cụ thể tại trường Tiểu học tại hà Nội, kết hợp với
kết quả khảo sát của các tác giả di trước về các vùng phương ngữ khác, từ đó
đưa ra những biện pháp thay đổi về việc sử dụng phương pháp và hệ thống
bài tập nhằm rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho học sinh tiểu học, từ đó nâng
cao hiệu quả dạy học Chính tả.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vể các biện pháp
rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh Tiểu học. Qua quá trình khảo sát
và nghiên cứu tài liệu, chúng tôi cho rằng, với các lỗi chính tả mà hiện nay
học sinh Tiểu học vẫn thường mắc phải như lỗi trình bày, lỗi âm đầu, vần…
thì giáo viên có thể vận dụng một hệ thống phương pháp và bài tập mang tính
đặc trưng của phân môn để luyện kĩ năng cho học sinh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát cơ sở lí luận về việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học
sinh Tiểu học.
Khảo sát thực trạng dạy phân môn Chính tả và việc rèn kĩ năng viết
đúng chính tả cho học sinh Tiểu học hiện nay (cụ thể tại trường Tiểu học
Trung Tự, Hà Nội)
Xây dựng một hệ thống các biện pháp đặc trưng cho phân môn Chính
tả và cách sử dụng các biện pháp này nhằm rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho
học sinh Tiểu học.
Thực nghiệm sư phạm tại tại trường Tiểu học Trung Tự, so sánh đối
chiếu kết quả dạy học để rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất quy
trình dạy học, nội dung bài tập để rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh
Tiểu học.
5. Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu chương trình
phân môn Chính tả trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học,
đưa ra một số phương pháp và hệ thống bài tập để rèn kĩ năng viết chính tả
13
phương pháp tiến hành luận văn cũng như mục đích mà chúng tôi hướng tới
khi tiến hành đề tài này. Phần nội dung chia thành ba chương, cuối mỗi
chương có kết luận của chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của rèn kĩ năng viết đúng chính tả
cho học sinh Tiểu học.
Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học
sinh Tiểu học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần thứ ba là kết luận và khuyến nghị sau khi chúng tôi tiến hành
nghiên cứu vấn đề, đưa ra đề xuất và thực nghiệm trong thực tế. Ngoài ra, đề
tài còn chưa các phụ lục và một số bảng biểu.
đòi hỏi phải “động não”, suy xét, tính toán, phải có sự nỗ lực ý chí thì mới
16
hoàn thành được. Như vậy, kỹ năng chính là sự vận dụng kiến thức đã thu
nhận được ở một lĩnh vực nào đó vào việc thực hiện có kết quả một thao tác,
một hoạt động tương ứng phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế đã cho.
Kỹ năng không đơn thuần là những thao tác chân tay mà là những thao tác trí
tuệ. Nội dung của kỹ năng là một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm
biến đổi và làm sáng tỏ những thông tin chứa trong tình huống và nhiệm vụ
để đối chiếu và xác lập quan hệ với các hành động cụ thể. Để hình thành kỹ
năng ở học sinh, giáo viên phải giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu
tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ của chúng trong các tình huống và
trong các bài tập. Giáo viên đồng thời phải giúp học sinh hình thành một mô
hình khái quát để giải quyết các vấn đề, đối tượng cùng loại, đồng thời, còn là
người giúp học sinh xác lập được mối quan hệ giữa các kiến thức và vấn đề
cần giải quyết có tính mô hình tương ứng.
Trong thời gian ở trường Tiểu học, một loạt các kỹ năng cần và sẽ được
hình thành ở trẻ: kỹ năng học tập, lao động, vệ sinh,… có những kỹ năng
chung (lập kế hoạch công việc, tự kiểm tra, tự đánh giá,…) và những kỹ năng
riêng. Cũng trong quá trình học tập, mỗi bộ môn đòi hỏi có những kỹ năng
đặc trưng. Đối với môn Toán là kỹ năng tính toán. Đối với các môn Tìm hiểu
Tự nhiên đó là kỹ năng quan sát. Đối với môn Tiếng Việt, mỗi phân môn
cũng có một kỹ năng đặc trưng phù hợp với đặc điểm của từng phân môn đó.
Phân môn Chính tả cũng vậy, nó hình thành cho học sinh các kiến thức và kỹ
năng, đặc biệt là kỹ năng viết chính tả.
Sự vận dụng những tri thức về chữ viết, quy tắc chính tả cùng với sự
sáng tạo trong nhận thức để viết chữ và viết văn bản đúng theo quy định phân
môn Chính tả đề ra gọi là kỹ năng viết chính tả. Kỹ năng viết chính tả đối với
học sinh Tiểu học ở mức độ thấp là chép lại, ghi các văn bản đã có theo lời
người khác đọc hoặc dựa vào trí nhớ một cách chính xác, khoa học. Đó là loại
70 chữ/15 phút, không mắc quá 5 lỗi, trình bày đúng quy
định, bài viết sạch.
- Viết đúng tên riêng Việt Nam và một số tên riêng nước
ngoài.
- Biết phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài viết.
4
-Viết được bài chính tả Nghe – viết, Nhớ - viết dài khoảng
18
80 – 90 chữ/20 phút, không mắc quá 5 lỗi, trình bày đúng
quy định, bài viết sạch.
- Viết đúng một số từ ngữ dễ lẫn do ảnh hưởng của phát âm
địa phương.
- Biết viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài.
- Biết tự sửa lỗi chính tả trong bài viết.
5
-Viết được bài chính tả Nghe – viết, Nhớ - viết dài khoảng
100 chữ/20 phút, không mắc quá 5 lỗi/bài.
- Viết đúng một số từ ngữ cần phân biệt phụ âm đầu, vần,
thanh điệu dễ lẫn do ảnh hưởng của phát âm địa phương.
- Biết tự phát hiện và sửa lỗi chính tả, lập sổ tay chính tả.
Như vậy, kĩ năng chính tả của học sinh Tiểu học chú trọng tới việc viết
đúng tốc độ, viết đúng các phụ âm đầu, vần, thanh điệu, trình bày đúng quy
cách, chữ sạch, đẹp. Rèn kĩ năng viết đúng chính tả sẽ bàn tới các biện pháp
để giáo viên có thể sử dụng nhằm giúp học sinh đảm bảo tốc độ viết với từng
khối lớp, nắm được các quy tắc, mẹo luật chính tả để viết đúng tiếng, đồng
thời rèn cho học sinh cách trình bày vở sạch, chữ đẹp.
Ngoài những khái niệm trên, chúng tôi còn muốn bàn thêm về chính tả
hữu thức và chính tả vô thức. Khi mới bắt đầu học về Chính tả, giáo viên
luyện tập một cách thường xuyên. Ví dụ, một người muốn nói hoặc muốn viết
được trước tiên phải biết tiếp nhận được thông báo (lập mã), sau đó truyền
thông báo đi (bằng âm thanh hoặc chữ viết)… Như vậy, hàng loạt các tư duy
được huy động như lựa chọn, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống
hoá… trong quá trình rèn luyện. Quá trình rèn luyện phải dựa trên cơ sở vốn
tri thức. Qua rèn luyện giúp con người nhận diện, phát hiện, hoàn thiện các tri
thức.
Thứ hai, trong dạy học Tiếng Việt, rèn luyện kĩ năng chính tả có thể
hiểu là quá trình luyện tập để đạt tới việc viết đúng chính tả. Quá trình này
cần được thực hiện trong các hoạt động, tình huống cụ thể, ví dụ như các bài
20
tập trong giờ chính tả. Các nội dung và yêu cầu luyện tập phải gắn với sự
hành chức của tiếng Việt, các kỹ năng không nên dạy tách rời nhau, như khi
dạy Chính tả, dù nhấn mạnh yêu cầu viết nhưng cần kết hợp các kỹ năng
nghe, nói, đọc. Đặc biệt để phát huy được vai trò tích cực trong hoạt động
nhận thức, trong quá trình rèn luyện của học sinh, cần cho học sinh làm quen
với việc độc lập giải quyết vấn đề, và giáo viên có thể sử dụng các phương
pháp đặc trưng của phân môn Chính tả mà chúng tôi đề cập ở chương tiếp
theo để thực hiện việc này.
Việc rèn kĩ năng viết chính tả, chúng tôi cho rằng, trong phân môn
Chính tả, giáo viên chỉ có thể hình thành được cho học sinh các kỹ năng, kỹ
xảo chính tả thông qua quá trình thực hành, luyện tập vì tính chất nổi bật của
phân môn Chính tả là tính chất thực hành. Việc rèn luyện kỹ năng viết chính
tả có hiệu quả thấp hay cao phụ thuộc vào việc giáo viên tổ chức cho học sinh
quá trình rèn luyện như thế nào để học sinh nắm được các quy tắc, thủ thuật
chính tả. Quá trình đó sẽ có kết quả tốt nếu giáo viên sử dụng hệ thống
phương pháp và bài tập chính tả phù hợp trong quá trình dạy học. Qua việc
thực hiện các bài tập chính tả, kỹ năng viết chính tả sẽ dần dần hình thành ở
học sinh. Các em sẽ nắm được các quy tắc chính tả, luyện tập nhiều giúp các
ứng với từng phần trong cấu trúc âm tiết. Nếu cấu trúc âm tiết bao gồm 5
thành phần: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu thì cấu trúc
chữ - âm tiết cũng gồm 5 thành phần, chữ phụ âm, chữ bán âm, chữ nguyên
âm, chữ phụ âm (bán âm) và dấu thanh.
Từ đó cho thấy, chính tả tiếng Việt về cơ bản là chính tả âm tiết, viết
đúng chính tả tiếng Việt chủ yếu là biết viết đúng các tổ hợp chữ cái ghi âm
tiết. Vì thế, giáo viên cần phát âm chuẩn theo chữ viết, bởi giữa cách đọc và
cách viết chính tả tiếng Việt là thống nhất với nhau. Đọc như thế nào thì sẽ
viết như thế ấy. Trong giờ Chính tả học sinh sẽ xác định được cách viết đúng
(đúng chính tả) bằng việc tiếp nhận chính xác âm thanh của lời nói (Ví dụ:
hình thức chính tả nghe – viết).
22
Ngoài ra, chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm nghĩa là mỗi âm vị chỉ
được ghi bằng một chữ. Tuy nhiên, chữ viết tiếng Việt hiện nay không đảm
bảo sự tương ứng 1 – 1 giữa âm và chữ. Chẳng hạn, âm vị /k/ được ghi bằng 3
chữ c, k, q. Có những chữ đọc giống nhau nhưng viết khác nhau như ng/ngh,
g/gh… Thêm vào đó, do ba vùng phương ngữ (Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và
Nam Bộ), nên có sự biểu hiện giữa mối quan hệ giữa đọc (phát âm) và viết
(viết chính tả) khá phong phú, đa dạng. Cụ thể, chính tả Tiếng Việt không
hoàn toàn dựa vào cách phát âm thực tế của một phương ngữ nhất định nào
đó. Cách phát âm thực tế của các phương ngữ đều có những sai lệch so với
chính âm, cho nên không thể thực hiện phương châm “nghe như thế nào, viết
như thế ấy” được (ví dụ, không thể viết là: bo vang, Ba Vi,… như cách phát
âm của phương ngữ vùng Tây Sơn; suy nghỉ, sạch sẻ,… ở vùng Thanh Hoá;
bắc bẻ, đi zìa,… trong phương ngữ Nam Bộ;…). Theo Hoàng Phê, tiếng Việt
hiện đại sử dụng 6718 tiếng, trong đó có 1075 tiếng hoàn toàn không có vấn
đề về chính tả, đối với từng phương ngữ, số âm tiết không có vấn đề chính tả
càng nhiều hơn. Với từng cá nhân thì số âm tiết có vấn đề chính tả lại càng ít
hơn do có nhiều từ ngữ cụ thể chúng ta thường gặp, thường dùng nên đã quen
sai tr/ch.
VD: Trung/chung
Tre/che
Hiện tượng lẫn lộn khi đọc giữa phụ âm: ay/ây, dấu hỏi/ngã thường
xuất hiện ở các vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ.
Ví dụ: Cây/cay
Vẻ/vẽ thầy/thày
nghỉ/nghĩ thấy/tháy.
Qua thực tế mắc lỗi của học sinh giáo viên cần có sự khảo sát điều tra
cơ bản để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đó lựa chọn nội dung
24
giảng dạy thích hợp (nhất là đối với hình chính tả so sánh) nguyên tắc này
cũng lưu ý giáo viên cần tăng cường sự linh hoạt sáng tạo trong giảng dạy, cụ
thể trong việc xây dựng nội dung bài sao cho sát hợp với đối tượng học sinh
lớp mình dạy. Ở một chừng mực nào đó, có thể lược bớt những nội dung
giảng dạy trong sách giáo khoa, xét thấy không phù hợp với học sinh lớp
mình dạy, đồng thời bổ sung những nội dung dạy cần thiết mà sách giáo khoa
chưa đề cập đến.
1.1.3.2. Nguyên tắc kết hợp chính tả hữu thức với chính tả vô thức
Ở trên đã nói tới những đặc điểm, những ưu thế của phương pháp có ý
thức và phương pháp không có ý thức trong việc dạy chính tả. Vấn đề đặt ra
là trong quá trình dạy chính tả cho học sinh, giáo viên không chỉ sử dụng một
phương pháp, mà phải sử dụng phối hợp hai phương pháp này một cách hợp
lý nhằm đạt tới một hiệu quả dạy học cao. Cũng cần nói rõ rằng, trong điều
kiện nhà trường,việc sử dụng phương pháp có ý thức vẫn được coi là chủ yếu.
Phương pháp không có ý thức cần được khai thác, sử dụng hợp lý các lớp đầu
bậc tiểu học, gắn liền với những kiểu bài như tập viết (tập viết kỹ thuật), tập
chép Các kiểu bài này nhằm giúp HS nhanh chóng làm quen với hình thức
của các con chữ (Tự dạng), hình thức chữ viết của các từ. Đây là những tiền
được ngay), hơn nữa, còn gây được hứng thú cho học sinh. Nguyên tắc kết
hợp chính tả có ý thức với chính tả không có ý thức được coi là nguyên tắc cơ
bản, chủ đạo trong việc dạy chính tả cho học sinh.
1.1.3.3. Nguyên tắc phối hợp giữa phương pháp tích cực với phương pháp
tiêu cực (xây dựng cái đúng, loại bỏ cái sai).
Bên cạnh phương pháp tích cực (cung cấp cho học sinh các quy tắc
chính tả, hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kỹ