1
PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO PHÚ LỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 LỘC TRÌ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4.
Gv: Hoàng Thị Hoài Phương
Năm học: 2009 - 2010
2
RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4
1. Đặt vấn đề :
Thuật ngữ “chính tả” hiểu theo nghĩa gốc là “phép viết đúng”hoặc “lối viết
hợp với chuẩn”.cụ thể chính tả là hệ thống các quy tắc và cách viết thống nhất
cho các từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tên riêng
nước ngoài...Nói cách khác, chính tả là những quy ước của xã hội trong ngôn
ngữ,mục đích của nó là làm phương tiện truyền đạt thông tin bằng chữ viết,
bảo đảm cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất nội dung của bản.
Vì vậy để thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng
sử dụng Tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết ) để học tập và giao tiếp trong các
môi trường hoạt động của lứa tuổi . Trong Tiếng Việt học sinh phải thực hiện
được đọc đúng, viết đúng . Chính vì vậy , muốn nâng cao chất lượng giáo
dục, hiệu quả công tác thì phân môn chính tả được coi là môn học hết sức
quan trọng .
*Lí do chọn đề tài :
Phân môn chính tả ở trong nhà trường giúp học sinh hình thành năng
lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết
đúng Tiếng Việt chuẩn mực. Đối với người sử dụng TV, viết đúng chính tả
Trên các bài viết chính tả :
-Dế Mèn bênh vực kẻ yếu ( Chính tả: nghe - viết )
-Mười năm cõng bạn đi học (Chính tả : nghe - viết ) -Cháu nghe câu
chuyện của bà ( Chính tả : nghe - viết )
-Truyện cổ nước mình ( Chính tả : nhớ - viết )
*Trên các baì tập làm văn :
-Kể lại câu chuyện Nàng tiên Ốc, kết hợp tả ngoại hình của nhân vật .
-Văn viết thư
-Kể lại chuyện cây khế .
Qua khảo sát, tôi đã phân loại các bài viết học sinh theo mức độ mắc
lỗi như sau :
Số lỗi trong một
Chính tả
Tập làm văn viết
bài
Sốlượng bài
Tỉ lệ
Số lượng bài
Tỉ lệ
Không có lỗi
3
11%
1
3%
Từ 1-2 lỗi
4
16%
7
27%
Từ 3-5 lỗi
đường ( Mười năm … đi học ), * lạc đường – lạt đường ( Bài Cháu nghe câu
chuyện của bà / TV Tập 1 trang 26 )
4
e. Lỗi về dấu thanh : Học sinh hay lẫn lộn giữa thanh hỏi và thanh ngã :
cõng bạn – cỏng bạn, quãng đường – quảng đường , giúp đỡ - giúp đở ( bài
Mười năm … đi học )
f. Lỗi về viết hoa : Học sinh không viết hoa chữ cái đầu câu, không viết
hoa các danh từ riêng hoặc viết hoa tùy tiện .
g. Lỗi về dấu câu: Trong các bài tập làm văn học sinh điền dấu chấm
dấu phâỷ không đúng chỗ.
* Nguyên nhân học sinh viết sai chính tả : Các em chưa có động cơ học
tập , chưa có thái độ đúng đắn trong việc rèn luyện viết chính tả . Khi viết các
em ít tập trung, tự do viết một cách tùy tiện, cẩu thả .Một số em chưa nắm
chắc các quy tắc chính tả đã học . Một phần lớn do ảnh hưởng của cách phát
âm địa phương , chẳng hạn như : ôi - đọc thành ui ( trời tối- đọc thành- trời
túi) oi – đọc thành oai( coi phim- coai phim)...
*Về phía giáo viên :
Một số giáo viên phát âm chưa được chuẩn, mang nặng tính địa
phương. Chưa hướng dẫn kĩ khâu hướng dẫn viết đúng
4. Các biện pháp:
Ta biết rằng trong Tiếng Việt đọc và viết là hai quá trình có sự thống
nhất chặt chẽ với nhau bởi vì mỗi tiếng được viết thành một chữ, ngược lại
mỗi chữ đọc thành một tiếng . Như vậy cách đọc và cách viết phải thống nhất
với nhau,có nghĩa là muốn viết đúng thì phải đọc đúng . Do đó để học sinh
viết đúng chính tả giáo viên cần phải thường xuyên học tập, rèn luyện để
nâng cao khả năng phát âm chuẩn và trình độ chính tả của bản thân .
Không phải chỉ trong giờ chính tả mà trong bất cứ giờ học nào và ngay
cả trong khi giao tiếp giáo viên phải phát âm chuẩn và viết chuẩn .
Một việc không kém phần quan trọng mà lâu nay trong quá trình dạy
học đôi khi gv còn xem nhẹ chỉ coi việc chấm chính tả là việc tính số lỗi để
ghi điểm mà không xem rằng khâu chữa lỗi mới là quan trọng hơn cả . Ở
phần này giáo viên nên cho hs chấm bài của bạn để hs phát hiện lỗi, chữa lỗi
và có thêm kiến thức chính tả cho bản thân . Về phía giáo viên khi chấm
ngoài việc gạch chân dưới những chữ hs viết sai còn phải chữa chữ đó cho hs
và yêu cầu hs viết lại chữ sai đó trong một câu văn hoàn chỉnh hoặc trong một
từ nhiều lần chứ không viết độc lập một chữ .
Ví dụ : Hs viết sai chữ bên ( bênh vực )
Trong bài : Dế Mèn bênh vực kẻ yếu
Giáo viên cho hs viết nhiều lần từ : “bênh vực” hoặc viết cả câu “Dế
Mèn bênh vực kẻ yếu”, chứ không cho hs viết riêng một chữ “bênh” vì nghĩa
không rõ ràng .Hoặc khi đọc giáo viên nên đọc trọn vẹn một từ, mỗi từ gắn
với một nghĩa xác định như : (gia đình, da thịt… ) thì học sinh dễ dàng viết
đúng chính tả . Vì vậy, có thể hiểu rằng chính tả Tiếng Việt còn là loại chính
tả ngữ nghĩa . Đây là một đặc trưng quan trọng về phương diện ngôn ngữ của
chính tả tiếng việt mà khi dạy chính tả, giáo viên cần chú ý . Khi tôi đọc
nghiên cứu một số tài liệu có một số từ tiếng Việt có hai hình thức chính tả
khác nhau, tồn tại hai cách viết khác nhau, đều được coi là đúng chính tả ví
dụ: dập dờn và rập rờn; eo sèo- eo xèo; già dặn- già giặn; suýt soát- xuýt
xoát; tròng trành- chòng chành; sây sát- xây xát; sề sệ- xề xệ; sum suê- xum
xuê; chập chùng- trập trùng...nên khi học sinh viết hai cách viết đó tôi cho
đều đúng .
Nhằm giúp các em theo dõi các lỗi đã mắc và có cách chữa lại cho
đúng, đồng thời với việc so sánh đối chiếu các lỗi đã sai và ghi lại sự tiến bộ
của mình qua từng bài chính tả . Tôi đã cho mỗi em dùng một sổ tay chính tả
như sau :
Tuần
Bài chính tả
Lỗi sai
gv nên thường xuyên cho những ví dụ này để khắc sâu vào bộ nhớ của các em
Chẳng hạn :
-Hôm nay, bạn Lan nghỉ học ( khác “ nghĩ ngợi” )
-Lớp ta học rất sôi nổi ( khác “ nỗi buồn” )
Ở đây gv nên kết hợp cung cấp cách viết “nghỉ” (ngừng công việc) và
“nghĩ” (hoạt động trí não ) hoặc cách viết “nổi” (ở trên bề mặt, dễ nhận thấy
giữa những cái khác ) “nỗi” (tâm trạng, trạng thái, tình cảm của con người )
- Qua các năm học trước tôi nhận thấy các em làm Tập làm văn
thường hay sai những lỗi mà nhiều học sinh thường mắc phải:
Ví dụ: Tả cây cối : Các em hay viết sai (trồng cây - tồng cây, cây xoàicây soài, cây bàng- cây bàn, khẳng khiu- khẳng khêu)
Văn viết thư: Các em hay viết sai ( mạnh khoẻ- mạnh khẻo, không
viết hoa tên riêng...)
Vì thế trước khi học sinh làm bài tôi lưu ý các từ hay sai đó và hướng
dẫn viết đúng để hạn chế lỗi sai trong bài Tập làm văn. Đồng thời cho học
sinh làm nháp trước khi làm vào vở.
3/Rèn viết đúng chính tả thông qua các cuộc thi
Thi “Rèn chữ giữ vở”: Thi cá nhân và tập thể lớp, để viết chữ đẹp, giữ
gìn vở sạch cần phải rèn chữ viết. Sau bài tập đọc tôi cho học sinh về nhà viết
một đoạn hay toàn bài vào vở rèn chữ. Tôi nghĩ càng rèn chữ, học sinh tiếp
xúc với mặt chữ từ đó ghi nhớ để viết đúng. Đòng thời tôi khuyến khích các
em đọc nhiều sách báo , truyện để quen thuộc với mặt chữ.
Tổ chức cuộc thi : “Rung chuông vàng” để giúp học sinh hứng thú
trong học tập cũng như giúp các em nhớ lâu, khắc sâu kiến thức chính tả. Tôi
tổ chức trò chơi này. Cứ mỗi tháng tôi tổ chức học sinh thi, nội dung chú
trọng nhiều về lỗi chính tả. Tôi đã dựa vào các lỗi mà các em thường mắc
phải qua các bài viết và thêm một số nội dung theo yêu cầu kiến thức kĩ năng
chính tả.
Giáo viên đọc học sinh viết vào bảng con. học sinh thi đua viết khoảng
15 từ khó. Xem các em viết sai chính tả khoảng bao nhiêu % để từ đó có biện
pháp rèn tiếp cho học sinh.
8